Sửa đổi Uốn ván

Chú ý: Bạn chưa đăng nhập và địa chỉ IP của bạn sẽ hiển thị công khai khi lưu các sửa đổi.

Bạn có thể tham gia như người biên soạn chuyên nghiệp và lâu dài ở Bách khoa Toàn thư Việt Nam, bằng cách đăng ký và đăng nhập - IP của bạn sẽ không bị công khai và có thêm nhiều lợi ích khác.

Các sửa đổi có thể được lùi lại. Xin hãy kiểm tra phần so sánh bên dưới để xác nhận lại những gì bạn muốn làm, sau đó lưu thay đổi ở dưới để hoàn tất việc lùi lại sửa đổi.

Bản hiện tại Nội dung bạn nhập
Dòng 24: Dòng 24:
 
{{clear}}
 
{{clear}}
 
== Dấu hiệu và triệu chứng ==
 
== Dấu hiệu và triệu chứng ==
Thời kỳ ủ bệnh sau nhiễm bào tử có thể từ 1 ngày đến vài tháng, đa số 3 ngày đến 3 tuần,{{sfn|Roper et al.|2018|p=1052}} trung bình là 8 ngày.{{sfn|Burtis|Dobbs|2009|p=429}} Nơi bào tử xâm nhập càng xa hệ thần kinh trung ương thì thời kỳ ủ bệnh càng kéo dài.{{sfn|Tiwari et al.|2021|p=316}} Nguy cơ bệnh nặng và tử vong sẽ cao hơn nếu bệnh phát tác sớm hơn.{{sfn|Burtis|Dobbs|2009|p=429}} Đây được xem là một trong những chỉ báo tiên lượng tốt nhất, ví dụ vết thương ở đầu hoặc thân thường ứng với thời kỳ ủ bệnh ngắn nhất tức bệnh dễ nặng.{{sfn|Roper et al.|2018|p=1052}}
+
Thời kỳ ủ bệnh sau nhiễm bào tử có thể từ 1 ngày đến vài tháng, đa số 3 ngày đến 3 tuần,{{sfn|Roper et al.|2018|p=1052}} trung bình là 8 ngày.{{sfn|Burtis|Dobbs|2009|p=429}} Nơi bào tử xâm nhập càng xa hệ thần kinh trung ương thì thời kỳ ủ bệnh càng kéo dài.{{sfn|Tiwari et al.|2021|p=316}} Nguy cơ bệnh nặng và tử vong sẽ cao hơn nếu bệnh phát tác sớm hơn.{{sfn|Burtis|Dobbs|2009|p=429}}
  
 
Uốn ván được phân thành ba loại dựa theo đặc điểm lâm sàng: toàn thân, cục bộ, đầu,{{sfn|Roper et al.|2018|p=1052}}{{sfn|Tiwari et al.|2021|p=316}} hoặc thêm một loại nữa ở trẻ sơ sinh.{{sfn|Tiwari|2017|p=160}}{{sfn|Nathan|Bleck|2011|p=284}} Ba đặc trưng của bệnh là cứng cơ, co thắt cơ, và rối loạn tự chủ.{{sfn|Tiwari|2017|p=160}}{{sfn|Cook et al.|2001|p=479}} Cứng cổ, đau họng, và khó mở miệng thường là những triệu chứng sớm.{{sfn|Cook et al.|2001|p=479}}
 
Uốn ván được phân thành ba loại dựa theo đặc điểm lâm sàng: toàn thân, cục bộ, đầu,{{sfn|Roper et al.|2018|p=1052}}{{sfn|Tiwari et al.|2021|p=316}} hoặc thêm một loại nữa ở trẻ sơ sinh.{{sfn|Tiwari|2017|p=160}}{{sfn|Nathan|Bleck|2011|p=284}} Ba đặc trưng của bệnh là cứng cơ, co thắt cơ, và rối loạn tự chủ.{{sfn|Tiwari|2017|p=160}}{{sfn|Cook et al.|2001|p=479}} Cứng cổ, đau họng, và khó mở miệng thường là những triệu chứng sớm.{{sfn|Cook et al.|2001|p=479}}

Lưu ý rằng tất cả các đóng góp của bạn tại Bách khoa Toàn thư Việt Nam sẽ được phát hành theo giấy phép Creative Commons Ghi công–Chia sẻ tương tự (xem thêm Bản quyền). Nếu bạn không muốn những gì mình viết ra sẽ có thể được bình duyệt và có thể bị sửa đổi, và không sẵn lòng cho phép phát hành lại, xin đừng nhấn nút “Lưu trang”. Đảm bảo rằng chính bạn là tác giả của những gì mình viết ra, hoặc chép nó từ một nguồn thuộc phạm vi công cộng hoặc tự do tương đương. ĐỪNG ĐĂNG NỘI DUNG CÓ BẢN QUYỀN MÀ CHƯA XIN PHÉP!

Hủy bỏ Trợ giúp sửa đổi (mở cửa sổ mới)
Lấy từ “https://bktt.vn/Uốn_ván