Lục địa Nam Cực
UnderCon icon.svg Mục từ này chưa được bình duyệt và có thể cần sự giúp đỡ của bạn để hoàn thiện.
Châu Nam Cực
Antarctica (orthographic projection).svg
Diện tích14.200.000 km2
Dân số1.000 đến 5.000 (theo mùa)
Mật độ dân số< 0,01 người/km2
Internet TLD.aq
Thành phố lớn nhấtCác trạm nghiên cứu
Mã UN M49010 – Châu Nam Cực
001Thế giới

Châu Nam Cực (còn hay được gọi là Nam Cực[chú ý 1]) là lục địa nằm xa về phía nam nhất trên Trái Đất, chứa Cực Nam địa lý và nằm trong Vùng Nam Cực của Nam Bán cầu, gần như hoàn toàn ở phía nam Vòng Nam Cực và được Nam Đại Dương bao quanh. Châu Nam Cực có diện tích 14.000.000 km2, là lục địa lớn thứ năm trên Trái Đất, gần gấp đôi Úc. Khoảng 98% châu Nam Cực bị bao phủ bởi một lớp băng có bề dày trung bình 1,9 km. Băng lan tỏa ra khắp mọi phía, xa nhất lên phía bắc tới bán đảo Nam Cực.

Xét trung bình, Châu Nam Cực là lục địa lạnh nhất, khô nhất, nhiều gió nhất, và cao nhất trong số tất cả các lục địa. Châu Nam Cực chủ yếu là một hoang mạc địa cực với lượng giáng thủy hàng năm chỉ 200 mm ở dọc bờ biển và ít hơn nhiều trong nội lục. Nơi đây từng ghi nhận mức nhiệt −89,2 °C (−128,6 °F), trong khi nhiệt độ trung bình quý ba (giai đoạn lạnh nhất trong năm) là −63 °C (−81 °F). Hàng năm có khoảng 1.000 đến 5.000 người cư trú tại các trạm nghiên cứu nằm rải rác trên khắp lục địa. Sinh vật bản địa nơi đây bao gồm nhiều loại tảo, vi khuẩn, nấm, thực vật, nguyên sinh vật, một số loài mạt, giun tròn, cánh cụt, chân vây, và gấu nước. Thảm thực vật hiện diện là đài nguyên.

Châu Nam Cực là vùng đất cuối cùng trên Trái Đất được con người khai phá và định cư. Mãi tới năm 1820 lục địa này mới được quan sát lần đầu bởi đoàn thám hiểm người Nga của Fabian Gottlieb von BellingshausenMikhail Lazarev trên hai con tàu VostokMirny, những người đã trông thấy thềm băng Fimbul. Mặc dù vậy, do môi trường khắc nghiệt, thiếu nguồn tài nguyên dễ tiếp cận và tính biệt lập, châu Nam Cực vẫn bị bỏ mặc trong phần còn lại của thế kỷ 19. Cuộc đổ bộ được xác nhận đầu tiên do một nhóm người Na Uy thực hiện vào năm 1895.

Châu Nam Cực trên thực tế là một nơi công quản do các bên tham gia Hệ thống Hiệp ước Nam Cực có vị thế cố vấn quản lý. Hiệp ước Nam Cực được 12 nước ký kết vào năm 1959, tính đến nay đã có thêm 42 nước thành viên. Hiệp ước ngăn cấm các hoạt động quân sự, khai thác khoáng sản, thử hạt nhân và thải bỏ chất thải hạt nhân; ủng hộ nghiên cứu khoa học và bảo vệ khu sinh thái của lục địa. Các thí nghiệm đang được thực hiện bởi hơn 4.000 nhà khoa học đến từ nhiều quốc gia.

Địa lý

Châu Nam Cực tọa lạc bất cân xứng quanh Cực Nam và chủ yếu ở phía nam Vòng Nam Cực, là lục địa xa về phương nam nhất và được bao quanh bởi Nam Đại Dương hoặc theo định nghĩa khác là phần nam Thái Bình Dương, Đại Tây Dương, Ấn Độ Dương, hay phần nam Thế Giới Dương. Ở châu Nam Cực có một số sông và hồ, sông dài nhất là Onyx còn Vostok là một trong những hồ dưới băng lớn nhất thế giới. Châu Nam Cực có diện tích hơn 14 triệu km2,[1] là lục địa lớn thứ năm, gấp khoảng 1,3 lần châu Âu. Bờ biển dài 17.968 km,[1] chủ yếu là những dạng băng.

Dạng bờ biển quanh châu Nam Cực[2]
Dạng Tỉ lệ
Thềm băng 44%
Tường băng 38%
Dòng chảy băng 13%
Đá 5%
Tổng 100%

Dãy Transantarctic gần nối liền hai chỗ thắt giữa Biển RossBiển Weddell chia châu Nam Cực thành hai phần. Phần phía tây biển Weddell và phía đông biển Ross là Tây Nam Cực và phần còn lại là Đông Nam Cực.

Bản đồ địa hình châu Nam Cực
Erebus, một núi lửa hoạt động trên đảo Ross

Khoảng 98% diện tích châu Nam Cực bị phiến băng Nam Cực, một lớp băng dày trung bình ít nhất 1,6 km, che phủ. 90% lượng băng của thế giới, tương ứng 70% lượng nước ngọt, là ở châu Nam Cực. Nếu toàn bộ số băng này tan chảy thì mực nước biển sẽ dâng thêm khoảng 60 m.[3] Giáng thủy là rất thấp ở đa phần nội lục, chỉ 20 mm một năm. Ở một số vùng "băng xanh" giáng thủy nhỏ hơn thăng hoa nên cân bằng khối lượng là âm. Tại những thung lũng khô, hiệu ứng tương tự xảy ra trên nền đá tạo nên cảnh quan cằn cỗi.[4]

Tây Nam Cực bị một phiến băng bao phủ. Vì có xác suất nhỏ sụp đổ nên phiến băng này thu hút sự quan tâm gần đây. Nếu phiến băng tan vỡ, mực nước biển sẽ dâng thêm vài mét trong một thời gian địa chất tương đối ngắn, có lẽ cỡ vài thế kỷ. Một số dòng chảy băng, thứ chiếm khoảng 10% dung tích phiến băng, chảy tới một trong nhiều thềm băng của châu Nam Cực.

Đông Nam Cực nằm về bên Ấn Độ Dương và bao gồm các vùng đất Coats, Queen Maud, Enderby, Mac. Robertson, Wilkes, và Victoria. Đa phần Đông Nam Cực thuộc Đông Bán Cầu và bị một phiến băng che phủ.

Vinson thuộc dãy Ellsworth là núi cao nhất châu Nam Cực với độ cao 4.892 m. Châu Nam Cực có nhiều núi ở cả lục địa và các đảo xung quanh. Erebus trên đảo Ross là núi lửa còn hoạt động nằm xa về phía nam nhất của thế giới. Một núi lửa khác trên đảo Deception nổi tiếng vì lần phun trào lớn vào năm 1970. Các vụ phun trào nhỏ xảy ra thường xuyên và dòng dung nham được quan sát trong những năm gần đây. Những núi ngủ yên có tiềm năng thức dậy.[5] Vào năm 2004 các nhà nghiên cứu người Mỹ và Canada phát hiện một núi lửa dưới nước có khả năng hoạt động ở Bán đảo Nam Cực.[6]

Châu Nam Cực có hơn 70 hồ nằm dưới phiến băng lục địa, lớn nhất là hồ Vostok bên dưới Trạm Vostok của Nga được khám phá vào năm 1996. Hồ này được tin đã cô lập trong 500.000 đến một triệu năm nhưng khảo sát gần đây gợi ý thi thoảng có những dòng chảy lớn từ hồ này sang hồ khác.[7]

Các lõi băng được khoan tới khoảng 400 m trên mực nước cho thấy một số bằng chứng về sự sống vi sinh trong hồ Vostok. Bề mặt đóng băng của hồ có những điểm tương đồng với vệ tinh Europa của Sao Mộc. Việc khám phá ra sự sống trong hồ Vostok sẽ củng cố luận cứ có sự sống trên Europa.[8][9] Vào ngày 7 tháng 2 năm 2008 một đội NASA khởi động nhiệm vụ đến hồ Untersee tìm kiếm sinh vật ái cực trong nước có tính kiềm cao. Nếu được phát hiện, những sinh vật kiên cường này có thể ủng hộ thêm lý lẽ về sự sống ngoài Trái Đất ở những môi trường cực lạnh và giàu metan.[10]

Địa chất

Địa hình dưới băng và độ sâu của đá móng nằm dưới phiến băng Nam Cực
Địa hình móng châu Nam Cực là quan trọng để hiểu về chuyển động của phiến băng lục địa

Lịch sử địa chất và cổ sinh vật

Hơn 170 triệu năm trước, châu Nam Cực là một phần của siêu lục địa Gondwana. Qua thời gian, Gondwana dần tan vỡ và châu Nam Cực mà chúng ta biết ngày nay hình thành vào khoảng 25 triệu năm trước. Châu Nam Cực không phải luôn luôn lạnh, khô và bị băng bao phủ. Tại một số thời điểm, lục địa này nằm xa hơn về phía bắc, có khí hậu nhiệt đới hoặc ôn đới, có rừng bao phủ và là nơi cư ngụ của nhiều dạng sống cổ xưa.[11]

Đại Cổ sinh (540–250 Ma)

Vào kỷ Cambri, một lượng lớn đá cát, đá vôi, đá phiến đã lắng kết. Gondwana có khí hậu ôn hòa và một phần Tây Nam Cực nằm ở Bắc Bán cầu. Đông Nam Cực tọa lạc tại xích đạo, kề những biển nhiệt đới nơi mà bọ ba thùyđộng vật không xương sống dưới đáy phát đạt. Đến khi kỷ Devon bắt đầu (416 Ma), Gondwana đã lùi xa hơn về phương nam. Khí hậu lạnh hơn song hóa thạch thực vật mặt đất lại được biết từ thời kỳ này. Cát và bùn đọng lại ở nơi mà nay là dãy Ellsworth, HorlickPensacola. Băng hà khởi phát tại điểm kết của kỷ Devon (360 Ma) và Gondwana trở nên dịch về tâm cực nam. Khí hậu lạnh đi song quần thực vật vẫn còn đó. Vào kỷ Permi, thống trị mặt đất là thực vật có hạt như Glossopteris sinh trưởng nơi đầm lầy. Qua thời gian đầm lầy trở thành trầm tích than đá ở dãy Transantarctic. Lui tới hồi kết của kỷ Permi, sự ấm lên mang đến khí hậu nóng, khô cho khắp Gondwana.[12]

Đại Trung sinh (250–66 Ma)

Quá trình ấm lên tiếp diễn, hệ quả là chỏm băng cực tan chảy và đa phần Gondwana biến thành hoang mạc. Ở Đông Nam Cực, dương xỉ hạt trở nên phong phú và lượng lớn đá cát cùng đá phiến lắng kết. Synapsida, thường gọi là "bò sát giống động vật có vú", phổ biến ở châu Nam Cực vào Trias Sớm và bao gồm các đại diện như Lystrosaurus. Bán đảo Nam Cực bắt đầu hình thành trong kỷ Jura (206–146 Ma) và các hòn đảo dần nhô lên khỏi đại dương. Ginkgo, Pinophyta (thông), Cycadeoidea, Equisetum, Polypodiopsida (dương xỉ), và Cycadophyta (tuế) phong phú vào thời gian này. Ở Tây Nam Cực, rừng thông lấn át suốt kỷ Creta (146–66 Ma), dù vậy về cuối kỷ sồi phương nam trở nên nổi trội hơn. Cúc đá phổ biến ở biển quanh châu Nam Cực và khủng long cũng hiện diện dù đến nay con người mới chỉ mô tả được ba chi khủng long châu Nam Cực (Cryolophosaurus, Glacialisaurus,[13]Antarctopelta).[14] Đây cũng là lúc mà Gondwana bắt đầu tan vỡ.

Gondwana tan vỡ (160–23 Ma)

Châu Nam Cực lạnh đi từng bước khi các lục địa tỏa ra làm thay đổi hải lưu từ chuyển động theo chiều kinh tuyến sang chiều vĩ tuyến khiến sự khác biệt nhiệt độ theo vĩ độ tăng.

Châu Phi tách khỏi châu Nam Cực vào kỷ Jura, khoảng 160 Ma, kế đến là tiểu lục địa Ấn Độ vào đầu kỷ Creta (khoảng 125 Ma). Đến hết kỷ Creta (khoảng 66 Ma), châu Nam Cực (khi ấy liền với Australia) vẫn có khí hậu cận nhiệt đới và quần thực vật, động vật có túi.[15] Vào thế Eocen, Australia-New Guinea tách khỏi châu Nam Cực (40 Ma) khiến cho những hải lưu vĩ tuyến có thể cô lập châu Nam Cực khỏi Australia và băng bắt đầu xuất hiện. Trong sự kiện tuyệt chủng Eocen–Oligocen 34 triệu năm trước, hàm lượng CO2 được phát hiện vào tầm 760 ppm và đang giảm từ mức hàng ngàn ppm trước đó.[16]

Khoảng 23 Ma, eo biển Drake mở ra giữa châu Nam Cực và Nam Mỹ dẫn đến việc Hải lưu Vòng Nam Cực cô lập hoàn toàn lục địa. Mô hình biến đổi gợi ý sự sụt giảm hàm lượng CO2 trở nên hệ trọng hơn.[17] Băng bắt đầu lan tỏa thay thế rừng cây đã từng che phủ châu Nam Cực trước đó. Từ khoảng 15 Ma lục địa đã bị băng bao phủ hầu khắp.[18]

Ngày nay

Sông băng và đá nổi ở vùng đất Marie Byrd nhìn từ máy bay DC-8 của NASA

Lớp băng dày vĩnh cửu che phủ hầu hết lục địa gây trở ngại lớn cho công tác nghiên cứu địa chất châu Nam Cực.[19] Tuy nhiên, công nghệ mới như viễn thám, ra-đa xuyên đất, và hình ảnh vệ tinh đã bắt đầu tiết lộ cấu trúc bên dưới lớp băng.

Về mặt địa chất, Tây Nam Cực gần giống dãy Andes ở Nam Mỹ.[12] Bán đảo Nam Cực hình thành bởi việc trầm tích đáy biển biến chất và nâng lên vào cuối đại Cổ sinh và đầu đại Trung sinh đi kèm hiện tượng núi lửa và magma xâm nhập. Andesitrhyolit là hai loại đá phổ biến nhất ở Tây Nam Cực hình thành từ núi lửa trong kỷ Jura. Còn có bằng chứng về hoạt động núi lửa ở vùng đất Marie Byrdđảo Alexander kể cả khi đã xuất hiện phiến băng. Khu vực khác thường duy nhất ở Tây Nam Cực là dãy Ellsworth có địa tầng giống Đông Nam Cực hơn.

Đông Nam Cực đa dạng về địa chất, khởi nguồn từ Tiền Cambri với một số đá hình thành vào hơn 3 tỉ năm trước. Phần nền gồm đá magmađá biến chất là thành tố cơ bản của khiên lục địa. Trên cùng lớp nền là than và các loại đá ngày nay như đá cát, đá vôi, đá phiến lắng kết vào kỷ Devon và Jura làm nên dãy Transantarctic. Ở những vùng duyên hải như dãy Shackleton và vùng đất Victoria xảy ra một vài sự đứt gãy.

Than là nguồn khoáng sản chính của châu Nam Cực.[18] Frank Wild đã lần đầu tìm thấy than gần sông băng Beardmore trong chuyến thám hiểm Nirod và hiện than cấp thấp được biết có ở nhiều nơi thuộc dãy Transantarctic. Nhóm núi Prince Charles chứa lượng trầm tích quặng sắt đáng kể. Tài nguyên giá trị nhất của châu Nam Cực nằm ở ngoài khơi, đó là các mỏ dầu và khí thiên nhiên được phát hiện ở biển Ross vào năm 1973. Nghị định thư Bảo vệ Môi trường của Hiệp ước Nam Cực cấm khai thác mọi nguồn khoáng sản cho đến năm 2048.

Khí hậu

Băng xanh che phủ hồ Fryxell được tạo thành từ nước băng tan của sông băng Canada và các sông băng nhỏ hơn khác
Gần bờ biển, tháng 12 có nhiệt độ khá ôn hòa

Châu Nam Cực là lục địa lạnh nhất trên Trái Đất. Tuy nhiên, nó chỉ bắt đầu bị băng che phủ vào 34 triệu năm trước và trước đó băng không tồn tại.[20] Nhiệt độ không khí tự nhiên thấp nhất từng ghi nhận trên hành tinh là −89,2 °C tại Trạm Vostok của Liên Xô (nay là Nga) ở châu Nam Cực vào ngày 21 tháng 7 năm 1983.[21] Một phép so sánh, mức nhiệt này thấp hơn điểm băng khô thăng hoa tại một át-mốt-phe áp suất riêng phần 10,7 °C, nhưng vì CO2 chỉ chiếm 0,039% thành phần không khí, cần nhiệt độ thấp hơn −150 °C để tạo thành tuyết băng khô ở châu Nam Cực.[22] Vào năm 2010, vệ tinh đã xác định một mức nhiệt trong không khí thấp hơn là −94,7 °C nhưng nó có thể bị ảnh hưởng bởi nhiệt độ mặt đất và không được đo tại độ cao 2 mét trên bề mặt theo như yêu cầu cho kỷ lục nhiệt độ không khí chính thức.[23] Châu Nam Cực là một hoang mạc băng giá với lượng giáng thủy thấp, trung bình hàng năm dưới 10 mm tại điểm Cực Nam. Nhiệt độ xuống thấp nhất vào khoảng −80 °C đến −89,2 °C trong nội lục vào mùa đông và lên cao nhất 5 °C đến 15 °C gần bờ biển vào mùa hè. Mức nhiệt cao kỷ lục được ghi nhận là 20,75 °C vào tháng 9 năm 2020 tại đảo Seymour.[24] Cháy nắng thường là vấn đề sức khỏe bởi bề mặt tuyết phản xạ gần như toàn bộ tia tử ngoại chiếu tới. Do đặc điểm vị trí địa lý, luôn tồn tại những giai đoạn tối bất biến và sáng bất biến dài tạo nên những kiểu khí hậu lạ lẫm đối với con người ở hầu khắp phần còn lại của hành tinh.[25]

Bề mặt tuyết tại Trạm Dome C là dạng bề mặt đặc trưng của hầu khắp lục địa

Đông Nam Cực lạnh hơn phần phía tây bởi độ cao lớn hơn. Frông thời tiết hiếm khi thâm nhập sâu vào trong lục địa khiến cho vùng trung tâm lạnh và khô. Phần này mặc dù ít mưa, nhưng băng vẫn duy trì trong thời gian dài. Tuyết rơi dày là hiện tượng phổ biến ở duyên hải lục địa, nơi từng ghi nhận lượng tuyết rơi lên tới 1,22 m trong 48 giờ.

Ở rìa lục địa, gió katabatic (giáng phong) mạnh thường thổi ngang tốc độ gió bão. Trong nội lục, sức gió điển hình ở ngưỡng vừa phải. Vào những ngày hè quang đãng, lượng bức xạ mặt trời chiếu đến bề mặt Cực Nam nhiều hơn xích đạo do ngày nắng ở đây kéo dài 24 giờ.[1]

Châu Nam Cực lạnh hơn Vùng Bắc Cực bởi ba lý do. Thứ nhất, đa phần lục địa cao trên 3.000 mét so với mực nước biển và ở tầng đối lưu nhiệt độ giảm theo độ cao. Thứ hai, bao phủ vùng cực bắc là Bắc Băng Dương: sự ấm áp tương đối của đại dương truyền qua lớp băng và ngăn không cho nhiệt độ ở Vùng Bắc Cực đạt đến ngưỡng tối cực đặc thù của bề mặt đất châu Nam Cực. Thứ ba, Trái Đất ở điểm viễn nhật trong tháng 7 (tức là Trái Đất ở xa Mặt Trời nhất vào mùa đông Nam Cực) và ở điểm cận nhật trong tháng 1 (ở gần Mặt Trời nhất vào mùa hè Nam Cực); khoảng cách quỹ đạo góp phần khiến mùa đông Nam Cực lạnh hơn (và mùa hè ấm hơn). Tuy nhiên, hai lý do đầu có tác động chủ yếu.[26]

Nam cực quang, hay ánh sáng phương nam, là khung cảnh rực rỡ sắc màu trên bầu trời đêm gần Nam Cực tạo bởi gió mặt trời khi đi qua Trái Đất. Một cảnh tượng độc đáo khác là bụi kim cương, đám mây gần mặt đất chứa các tinh thể băng nhỏ mà nhìn chung hình thành dưới bầu trời trong hoặc tương đối trong. Ảo nhật hay Mặt Trời giả, một hiện tượng quang học khí quyển thường gặp, là một đốm sáng bên cạnh Mặt Trời thật.[25]

Dân số

Nghi thức Nam Cực, một khu vực cách cực nam địa lý vài mét tại Trạm Amundsen–Scott

Một số chính phủ duy trì các trạm nghiên cứu có người ở lâu dài trên lục địa. Số người làm, hỗ trợ nghiên cứu khoa học cùng những công việc khác ở châu Nam Cực và các hòn đảo gần đó dao động từ khoảng 1.000 vào mùa đông đến 5.000 vào mùa hè, tương ứng mật độ dân số 70–350 người/một triệu km2 mỗi thời điểm. Không ít trạm bố trí người quanh năm, nhân viên làm qua mùa đông thường tới từ nước họ và phục vụ một năm. Nhà thờ Chính thống giáo Trinity mở cửa vào năm 2004 tại Trạm Bellingshausen của Nga quanh năm có một đến hai tư tế điều hành và họ cũng được thay phiên hàng năm.[27][28]

Cư dân bán thường trực đầu tiên của khu vực gần châu Nam Cực (phía nam đới hội tụ Nam Cực) là những thợ săn hải cẩu người Mỹ và Anh. Họ từng ở South Georgia một năm hoặc hơn, từ 1786 trở đi. Vào thời kỳ săn cá voi kéo dài đến năm 1966, dân số đảo này dao động từ hơn 1.000 vào mùa hè (một số năm hơn 2.000) đến tầm 200 vào mùa đông. Thợ săn chủ yếu là người Na Uy cùng một tỉ lệ người Anh tăng dần. Chốn định cư gồm có Grytviken, King Edward Point, Stromness, Husvik, Godthul, Cảng Leith, Prince Olav, và Ocean. Quản lý và những công chức thâm niên của trạm cá voi thường sống cùng gia đình. Trong số họ có Carl Anton Larsen, nhà thám hiểm và thợ săn cá voi lão luyện người Na Uy, người sáng lập Grytviken. Larsen và gia đình nhập quốc tịch Anh vào năm 1910.[29]

Bảo tàng Cảng Lockroy

Bé gái người Na Uy Solveig Gunbjørg Jacobsen là đứa trẻ đầu tiên sinh ra ở Vùng Nam Cực, cụ thể tại Grytviken vào ngày 8 tháng 10 năm 1913. Cô là con gái của Klara Olette Jacobsen và Fridthjof Jacobsen, trợ lý điều hành của trạm cá voi. Jacobsen đến đảo vào năm 1904 và trở thành người quản lý Grytviken từ 1914 đến 1921. Ông có hai người con sinh ra trên đảo.[30]

Emilio Marcos Palma là người đầu tiên sinh ra ở phía nam vĩ tuyến 60 độ nam và trên lục địa Nam Cực,[31] cụ thể trong Căn cứ Esperanza tại mũi bán đảo Nam Cực vào năm 1978.[32][33] Cha mẹ Palma cùng bảy gia đình khác được chính phủ Argentina cử đến để xem cuộc sống gia đình có phù hợp ở đây không. Juan Pablo Camacho là người Chile đầu tiên sinh ra ở châu Nam Cực vào năm 1984 tại Trạm Frei Montalva. Một số căn cứ hiện là nơi sinh sống của những gia đình có con đi học tại trạm.[34] Tính đến năm 2009 đã có 11 đứa trẻ ra đời ở châu Nam Cực (phía nam vĩ tuyến 60 độ nam), tám tại Căn cứ Esperanza của Argentina và ba tại Trạm Frei Montalva của Chile.[35][36]

Đa dạng sinh học

Động vật

Vài loại động vật có xương sống trên cạn sống ở những hòn đảo cận Nam Cực.[37] Sinh vật không xương sống gồm có mạt, chấy, giun tròn, gấu nước, luân trùng, moi lân, và bọ đuôi bật. Loài ruồi nhuế không bay Belgica antarctica với chiều dài tối đa 6 mm là động vật chỉ sống trên cạn lớn nhất châu Nam Cực.[38] Hải âu pêtren là một trong ba loại chim chỉ sinh sản ở châu Nam Cực.[39]

Một số động vật biển tồn tại và lệ thuộc trực tiếp hay gián tiếp vào thực vật phù du. Sinh vật biển Nam Cực có chim cánh cụt, cá voi xanh, cá voi sát thủ, mực ống khổng lồ, và hải cẩu lông. Cánh cụt hoàng đế là loài chim cánh cụt duy nhất sinh sản vào mùa đông ở châu Nam Cực còn cánh cụt Adélie thì tại địa điểm xa về phía nam nhất.[40] Cánh cụt rockhopper phương nam có những lông vũ đặc biệt quanh mắt làm nên bộ lông mi độc đáo. Cánh cụt vua, cánh cụt quai mũ, và cánh cụt gentoo cũng sinh sản ở Vùng Nam Cực.

Trong thế kỷ 18 và 19, hải cẩu lông mao Nam Cực bị những thợ săn tới từ Mỹ và Anh săn bắt rất nhiều để lấy da. Hải cẩu Weddell là một loài hải cẩu không tai được đặt theo tên của James Weddell, chỉ huy đoàn thám hiểm săn hải cẩu ở biển Weddell. Moi lân Nam Cực luôn tụ tập thành bầy lớn là loài chủ chốt của hệ sinh thái Nam Đại Dương và nguồn thức ăn quan trọng cho cá voi, hải cẩu, mực, cá băng, cánh cụt, hải âu mày đen, cùng nhiều loài chim khác.[41]

Vào Năm Địa cực Quốc tế 2007–2008, một cuộc điều tra về sự sống biển được tiến hành với sự tham gia của khoảng 500 nhà nghiên cứu. Đây là một phần của cuộc điều tra sự sống biển toàn cầu và nó đã đem lại một số phát hiện đáng chú ý. Hơn 235 sinh vật biển sống ở hai vùng cực đã nối liền khoảng cách 12.000 km. Chim và động vật lớn như một số loại cá voi du hành khứ hồi thường niên. Bất ngờ hơn là việc một số dạng sống nhỏ như hải sâm và sên bơi tự do được tìm thấy ở đại dương hai cực. Các yếu tố khác nhau có lẽ đã giúp chúng phân bổ: nhiệt độ khá đồng nhất của đại dương sâu tại cực và xích đạo (chênh nhau không quá 5 °C) và hệ thống hải lưu lớn hay hoàn lưu muối nhiệt giúp vận chuyển trứng và ấu trùng.[42]

Nấm

Con người đã ghi nhận khoảng 1.150 loài nấm ở châu Nam Cực, trong đó 750 là nấm không tạo địa y và 400 là tạo địa y.[43][44] Một số loài sống trong đá do hệ quả của quá trình tiến hóa dưới điều kiện cùng cực và góp phần đáng kể vào việc làm nên hình dạng đá ấn tượng của Thung lũng Khô McMurdo và những rặng núi xung quanh. Hình thái bên ngoài đơn giản, cấu trúc không mấy phân biệt, hệ thống trao đổi chất và enzym vẫn hoạt động ở mức nhiệt rất thấp, cùng vòng đời ngắn đi giúp những loại nấm này chuyên thích nghi với môi trường khắc nghiệt như thung lũng McMurdo. Cụ thể, chúng chịu được tia tử ngoại nhờ tế bào hắc tố mạnh và dày vách. Các đặc điểm này cũng có ở tảokhuẩn lam, gợi ý sự thích nghi với điều kiện thịnh hành ở châu Nam Cực. Từ đó dẫn đến suy đoán rằng nếu sự sống từng xuất hiện trên Sao Hỏa thì nó có lẽ trông tương tự nấm Nam Cực như Cryomyces antarcticusCryomyces minteri.[45] Một số loại nấm dường như là đặc hữu của châu Nam Cực, đó còn bao gồm các loài sống trong phân nhất định đã từng tiến hóa để đối phó với thách thức kép: sinh trưởng trong phân ở nhiệt độ cực thấp và sống sót trong hành trình đi qua ruột của động vật máu nóng.[46]

Thực vật

Khoảng 300 triệu năm trước rừng cây kỷ Permi bắt đầu che phủ lục địa và thảm thực vật lãnh nguyên tồn tại cho đến 15 triệu năm trước.[47] Tuy nhiên khí hậu châu Nam Cực ngày nay không cho phép thảm thực vật rộng lớn hình thành. Nhiệt độ băng giá, đất nghèo dinh dưỡng, thiếu độ ẩm, và thiếu ánh mặt trời khiến cây cối không thể phát triển. Vì lẽ đó thực vật rất thiếu tính đa dạng và khả năng phân bổ bị hạn chế. Quần thực vật của lục địa chủ yếu là rêu. Có khoảng 100 loài rêu thực và 25 loài rêu tản, chỉ ba loài thực vật có hoaDeschampsia antarctica, Colobanthus quitensis, Poa annua phi bản địa và tất cả đều được tìm thấy ở bán đảo Nam Cực.[48] Sinh trưởng bị hạn chế trong vài tuần mùa hè.[43][49]

Sinh vật khác

Châu Nam Cực có 700 loài tảo, đa phần là thực vật phù du. Tảo tuyết đa màu và tảo cát đặc biệt phong phú ở những vùng duyên hải vào mùa hè.[49] Vi khuẩn được phát hiện sống trong tăm tối và lạnh lẽo ở độ sâu đến 800 m bên dưới lớp băng.[50]

Bảo tồn

Khu bảo tồn Cá voi Nam Đại Dương là khu vực có diện tích 50 triệu km2 bao quanh lục địa châu Nam Cực, nơi mà Ủy ban Săn bắt cá voi Quốc tế (IWC) cấm mọi hình thức săn bắt cá voi thương mại.

Nghị định thư Bảo vệ Môi trường của Hiệp ước Nam Cực (còn gọi là Nghị định thư Môi trường hay Nghị định thư Madrid) bắt đầu có hiệu lực năm 1998 là văn kiện chính liên quan đến bảo tồn và quản lý đa dạng sinh học ở châu Nam Cực. Ủy ban Bảo vệ Môi trường khuyến nghị Hội nghị Tư vấn Hiệp ước Nam Cực bàn về các vấn đề bảo tồn và môi trường. Một mối lo lớn là nguy cơ vô ý mang đến những loài phi bản địa từ nơi khác.[51]

Đạo luật Bảo tồn Nam Cực thông qua năm 1978 đã áp đặt một số hạn chế lên hoạt động đánh bắt của Hoa Kỳ ở châu Nam Cực. Hành vi mang đến động vật hay thực vật ngoại lai có thể bị phạt hình sự vì gây hại cho loài bản địa. Việc moi lân, loài quan trọng trong hệ sinh thái Nam Cực, bị đánh bắt quá mức đã khiến giới chức sửa đổi luật đánh cá. Hiệp định Bảo tồn Tài nguyên sống Biển Nam Cực (CCAMLR) đi vào hiệu lực năm 1980 yêu cầu chỉnh đốn lại tất cả hoạt động đánh bắt ở Nam Đại Dương được xem là có nguy cơ ảnh hưởng đến hệ sinh thái Nam Cực.[1] Tuy nhiên bất chấp luật mới, đánh bắt bất hợp pháp và không kiểm soát vẫn là vấn nạn nghiêm trọng, đặc biệt là loài cá răng Patagonia. Ước tính 32.000 tấn cá răng đã bị săn bắt trái phép trong năm 2000 và hành vi này đang gia tăng.[52][53]

Ảnh hưởng của ấm lên toàn cầu

Antarctican Temperature
Xu hướng ấm lên từ 1957 đến 2006
Legend

Châu Nam Cực đã và đang ấm lên ở một số nơi, đặc biệt tại Bán đảo Nam Cực. Nghiên cứu công bố năm 2009 của Eric Steig lần đầu tiên lưu ý xu hướng nhiệt độ bề mặt trung bình toàn lục địa tăng nhẹ khoảng >0,05 °C (0,09 °F) một thập kỷ từ 1957 đến 2006 và Tây Nam Cực đã ấm lên hơn 0,1 °C (0,2 °F) một thập kỷ trong 50 năm qua, mạnh nhất vào mùa đông và mùa xuân. Vấn đề này được bù đắp phần nào bởi việc Đông Nam Cực lạnh đi vào mùa thu.[54] Có bằng chứng từ một nghiên cứu chỉ ra rằng châu Nam Cực đang ấm lên là hệ quả của việc con người phát thải cacbon dioxide vào không khí,[55] tuy nhiên điều này chưa rõ ràng.[56] Tây Nam Cực mặc dù ấm lên nhiều nhưng không khiến băng tan đáng kể trên bề mặt và không trực tiếp tác động đến sự đóng góp của khối băng vùng này tới mực nước biển. Thay vào đó tình trạng sông băng chảy ra nhiều lên gần đây được tin là do dòng nước ấm thâm nhập từ đại dương sâu, ngay ngoài thềm lục địa.[57][58] Sự góp phần làm gia tăng mực nước biển của bán đảo Nam Cực nhiều khả năng là hệ quả trực tiếp của việc bầu khí quyển nơi đây ấm lên nhiều hơn nhiều.[59]

Vào năm 2002 thềm băng Larsen-B của bán đảo Nam Cực đổ sụp.[60] Từ ngày 28 tháng 2 đến 8 tháng 3 năm 2008 khoảng 570 km2 băng của thềm băng Wilkins ở phần tây nam bán đảo đổ sụp, đặt 15.000 km2 (5.800 dặm2) còn lại vào tình thế rủi ro. Thềm băng được giữ lại bởi một dải băng rất mảnh[61][62] trước khi dải băng này biến mất vào ngày 5 tháng 4 năm 2009.[63][64] Theo NASA, sự tan băng bề mặt vùng Nam Cực có quy mô lớn nhất trong vòng 30 năm qua xảy ra vào năm 2005 khi một khu vực băng có kích cỡ ngang California tan chảy trong một thời gian ngắn trước khi đóng băng trở lại, điều này có thể là hệ quả của việc nhiệt độ tăng cao tới 5 °C (41 °F).[65]

Một nghiên cứu công bố trên Nature Geoscience năm 2013 (trực tuyến tháng 12 năm 2012) nhận định trung tâm Tây Nam Cực là một trong những vùng ấm lên nhanh nhất trên Trái Đất. Các nhà nghiên cứu đưa ra dữ liệu nhiệt độ hoàn chỉnh từ trạm Byrd ở châu Nam Cực và khẳng định nó "cho thấy sự gia tăng tuyến tính trong mức nhiệt thường niên giai đoạn 1958-2010 ở ngưỡng 2,4±1,2 °C".[66]

Tháng 2 năm 2020 châu Nam Cực ghi nhận nhiệt độ cao nhất 18,3 °C, cao hơn gần một độ so với kỷ lục trước đó là 17,5 °C vào tháng 3 năm 2015.[67]

Suy giảm ozone

Hình ảnh lỗ hổng ozone phía trên châu Nam Cực lớn nhất từng ghi nhận do sự tích tụ các chất CFC (tháng 9 năm 2006)

Ở phía trên châu Nam Cực tồn tại "lỗ hổng ozone", một vùng mật độ ozone thấp rộng lớn bao trùm gần như cả lục địa và lớn nhất vào tháng 9 năm 2006, khi ấy nó duy trì đến cuối tháng 12, lâu nhất từng ghi nhận.[68] Lỗ hổng ozone được các nhà khoa học phát hiện vào năm 1985 và có xu hướng mở rộng trong những năm quan sát.[69] Hoạt động phát thải các chất chlorofluorocarbon hay CFC vào khí quyển được cho là nguyên nhân, chúng phân hủy ozone thành những loại khí khác.[70]

Một số nghiên cứu khoa học đề xuất rằng sự suy giảm ozone có thể đóng vai trò chủ đạo trong việc khống chế biến đổi khí hậu ở châu Nam Cực (và một vùng Nam Bán cầu rộng hơn).[69] Ozone hấp thụ lượng lớn bức xạ tử ngoạitầng bình lưu. Sự sụt giảm ozone phía trên châu Nam Cực có thể làm tầng bình lưu nơi đây lạnh đi khoảng 6°C, điều này có tác động làm tăng cường độ gió tây thổi quanh lục địa (xoáy cực) và do đó ngăn khí lạnh gần cực nam thổi ra phía ngoài. Hệ quả là khối băng lục địa của Đông Nam Cực được giữ ở mức nhiệt thấp hơn và nhiệt độ ở những vùng ngoại vi của châu Nam Cực, đặc biệt là bán đảo Nam Cực, cao hơn thúc đẩy băng tan nhanh.[69] Các mô hình cũng đề xuất rằng hiệu ứng suy giảm ozone/tăng cường xoáy cực còn là nguyên nhân làm tăng băng biển gần lục địa trong thời gian gần đây.[71]

Vào năm 2019 lỗ hổng ozone có kích cỡ bé nhất trong 30 năm do tầng bình lưu trên Cực Nam ấm lên làm suy yếu xoáy cực.[72]

Chú giải

  1. Từ này hay được dùng để nói đến lục địa châu Nam Cực nhưng không chính xác về ngữ nghĩa và gây nhầm lẫn do Nam Cực đồng nghĩa với Cực Nam địa lý, không phải lục địa.

Tham khảo

  1. a b c d Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên CIAfactbook-People
  2. Drewry, D.J., bt. (1983), Antarctica: Glaciological and Geophysical Folio, Scott Polar Research Institute, University of Cambridge, ISBN 978-0-901021-04-5
  3. How Stuff Works: polar ice caps, howstuffworks.com, ngày 21 tháng 9 năm 2000, lưu trữ từ tài liệu gốc ngày 4 tháng 2 năm 2006, truy cập ngày 12 tháng 2 năm 2006
  4. Fountain, Andrew G.; Nylen, Thomas H.; Monaghan, Andrew; Basagic, Hassan J.; Bromwich, David (ngày 7 tháng 5 năm 2009), "Snow in the McMurdo Dry Valleys, Antarctica", International Journal of Climatology, Royal Meteorological Society, 30 (5): 633–642, doi:10.1002/joc.1933, truy cập ngày 12 tháng 10 năm 2020 – qua Wiley Online Library
  5. British Antarctic Survey, Volcanoes, Natural Environment Research Council, lưu trữ từ nguyên tác ngày 11 tháng 7 năm 2007, truy cập ngày 13 tháng 2 năm 2006
  6. Scientists Discover Undersea Volcano Off Antarctica, United States National Science Foundation, truy cập ngày 13 tháng 2 năm 2006
  7. Briggs, Helen (ngày 19 tháng 4 năm 2006), Secret rivers found in Antarctic, BBC News, truy cập ngày 7 tháng 2 năm 2009
  8. Lake Vostok, United States National Science Foundation, truy cập ngày 13 tháng 2 năm 2006
  9. Abe, Shige; Bortman, Henry (ngày 13 tháng 4 năm 2001), Focus on Europa, NASA, lưu trữ từ nguyên tác ngày 19 tháng 10 năm 2014, truy cập ngày 12 tháng 1 năm 2012
  10. "Extremophile Hunt Begins", Science News, NASA, lưu trữ từ nguyên tác ngày 23 tháng 3 năm 2010, truy cập ngày 22 tháng 10 năm 2011
  11. Klages, Johann P.; Salzmann, Ulrich; Bickert, Torsten; Hillenbrand, Claus-Dieter; Gohl, Karsten; Kuhn, Gerhard; Bohaty, Steven M.; Titschack, Jürgen; Müller, Juliane; Frederichs, Thomas; Bauersachs, Thorsten (tháng 4 năm 2020), "Temperate rainforests near the South Pole during peak Cretaceous warmth", Nature (trong English), 580 (7801): 81–86, Bibcode:2020Natur.580...81K, doi:10.1038/s41586-020-2148-5, ISSN 1476-4687, PMID 32238944, S2CID 214736648
  12. a b Stonehouse, B., bt. (tháng 6 năm 2002), Encyclopedia of Antarctica and the Southern Oceans, John Wiley & Sons, ISBN 978-0-471-98665-2
  13. Smith, Nathan D.; Pol, Diego (2007), "Anatomy of a basal sauropodomorph dinosaur from the Early Jurassic Hanson Formation of Antarctica" (PDF), Acta Palaeontologica Polonica, 52 (4): 657–674
  14. Leslie, Mitch (tháng 12 năm 2007), The Strange Lives of Polar Dinosaurs, Smithsonian Magazine, lưu trữ từ nguyên tác ngày 30 tháng 1 năm 2008, truy cập ngày 24 tháng 1 năm 2008
  15. Reinhold, Robert (ngày 21 tháng 3 năm 1982), "Antarctica yields first land mammal fossil", The New York Times
  16. New CO2 data helps unlock the secrets of Antarctic formation, Physorg.com, lưu trữ từ tài liệu gốc ngày 15 tháng 7 năm 2011, truy cập ngày 26 tháng 7 năm 2011
  17. DeConto, Robert M.; Pollard, David (ngày 16 tháng 1 năm 2003), "Rapid Cenozoic glaciation of Antarctica induced by declining atmospheric CO2", Nature, 421 (6920): 245–9, Bibcode:2003Natur.421..245D, doi:10.1038/nature01290, PMID 12529638, S2CID 4326971
  18. a b Trewby, Mary, bt. (tháng 9 năm 2002), Antarctica: An Encyclopedia from Abbott Ice Shelf to Zooplankton, Firefly Books, ISBN 978-1-55297-590-9
  19. Antarctica's geology, Royal Geographical Society (with the Institute of British Geographers) in partnership with the British Antarctic Survey and the Foreign and Commonwealth Office, lưu trữ từ nguyên tác ngày 22 tháng 11 năm 2014, truy cập ngày 31 tháng 10 năm 2014
  20. Lear, Caroline H.; Lunt, Dan J. (ngày 10 tháng 3 năm 2016), "How Antarctica got its ice", Science, 352 (6281): 34–35, Bibcode:2016Sci...352...34L, doi:10.1126/science.aad6284, PMID 26966192, S2CID 206644221
  21. Hudson, Gavin (ngày 14 tháng 12 năm 2008), "The Coldest Inhabited Places on Earth", Eco Localizer, lưu trữ từ nguyên tác ngày 27 tháng 3 năm 2016, truy cập ngày 8 tháng 2 năm 2009
  22. Agee, Ernest; Orton, Andrea; Rogers, John (2013), "CO2Snow Deposition in Antarctica to Curtail Anthropogenic Global Warming", Journal of Applied Meteorology and Climatology, 52 (2): 281–288, Bibcode:2013JApMC..52..281A, doi:10.1175/JAMC-D-12-0110.1, ISSN 1558-8424
  23. Antarctica records unofficial coldest temperature ever, USA Today
  24. Watts, Jonathan (ngày 13 tháng 2 năm 2020), "Antarctic temperature rises above 20C for first time on record", The Guardian (trong English), ISSN 0261-3077, truy cập ngày 14 tháng 2 năm 2020
  25. a b British Antarctic Survey, Weather in the Antarctic, Natural Environment Research Council, truy cập ngày 9 tháng 2 năm 2006
  26. The Earth's Elliptical Orbit Around the Sun – Aphelion and Perihelion. Geography.about.com. Retrieved on 21 October 2013.
  27. Flock of Antarctica's Orthodox temple celebrates Holy Trinity Day, Serbian Orthodox Church, ngày 24 tháng 5 năm 2004, truy cập ngày 7 tháng 2 năm 2009
  28. Владимир Петраков: 'Антарктика – это особая атмосфера, где живут очень интересные люди' (trong русский) (Vladimir Petrakov: "Antarctic is a special world, full of very interesting people"). Interview with Father Vladimir Petrakov, a priest who twice spent a year at the station.
  29. Headland, Robert (1984), The Island of South Georgia, Cambridge, Great Britain: Cambridge University Press, tr. 238, ISBN 0521252741
  30. Headland, Robert K. (1984), The Island of South Georgia, Cambridge University Press, tr. 12, 130, ISBN 978-0-521-25274-4, OCLC 473919719
  31. The Guinness Book of Records, 1986, tr. 17
  32. Old Antarctic Explorers Association, "THIS QUARTER IN HISTORY" (PDF), Explorer's Gazette, 9 (1): 9, truy cập ngày 3 tháng 12 năm 2019
  33. Bone, James (ngày 13 tháng 11 năm 2007), "The power games that threaten world's last pristine wilderness", The Times
  34. "Questions to the Sun for the 2002–03 season", The Antarctic Sun, lưu trữ từ nguyên tác ngày 11 tháng 2 năm 2006, truy cập ngày 9 tháng 2 năm 2006
  35. Registro Civil Base Esperanza (trong español), Argentine Army, ngày 22 tháng 12 năm 2017, lưu trữ từ nguyên tác ngày 17 tháng 1 năm 2010
  36. Corporación de Defensa de la Soberanía, Derechos soberanos antárticos de Chile (trong español), truy cập ngày 16 tháng 11 năm 2011
  37. British Antarctic Survey, Land Animals of Antarctica, Natural Environment Research Council, lưu trữ từ tài liệu gốc ngày 7 tháng 10 năm 2008, truy cập ngày 25 tháng 4 năm 2017
  38. Sandro, Luke; Constible, Juanita, Antarctic Bestiary – Terrestrial Animals, Laboratory for Ecophysiological Cryobiology, Miami University, truy cập ngày 22 tháng 10 năm 2011
  39. Snow Petrel Pagodroma nivea, BirdLife International, truy cập ngày 20 tháng 10 năm 2009
  40. Ancel, André; Beaulieu, Michaël; Gilbert, Caroline (tháng 1 năm 2013), "The different breeding strategies of penguins: A review", Comptes Rendus Biologies, 336 (1): 1–12, doi:10.1016/j.crvi.2013.02.002, PMID 23537764, truy cập ngày 12 tháng 10 năm 2020 – qua Elsevier Science Direct
  41. Creatures of Antarctica, lưu trữ từ nguyên tác ngày 14 tháng 2 năm 2005, truy cập ngày 6 tháng 2 năm 2006
  42. Kinver, Mark (ngày 15 tháng 2 năm 2009), "Ice oceans 'are not poles apart'", BBC News, British Broadcasting Corporation, truy cập ngày 22 tháng 10 năm 2011
  43. a b British Antarctic Survey, Plants of Antarctica, Natural Environment Research Council, lưu trữ từ tài liệu gốc ngày 7 tháng 6 năm 2011, truy cập ngày 12 tháng 7 năm 2011
  44. Bridge, Paul D.; Spooner, Brian M.; Roberts, Peter J. (2008), "Non-lichenized fungi from the Antarctic region", Mycotaxon, 106: 485–490, lưu trữ từ nguyên tác ngày 11 tháng 8 năm 2013, truy cập ngày 22 tháng 10 năm 2011
  45. Onofri, S.; Selbmann, L.; Zucconi, L.; Scalzi, G.; Venkateswaran, K.J.; de la Torre, R.; de Vera, J.-P.; Ott, S.; Rabbow, E.; Horneck, G., Survival of Black Fungi in Space, Preliminary Results (PDF), truy cập ngày 13 tháng 3 năm 2013 Bỏ qua tham số chưa biết |name-list-style= (trợ giúp)
  46. de Hoog, G.S. (2005), "Fungi of the Antarctic: evolution under extreme conditions", Studies in Mycology, 51: 1–79
  47. Antarctica was once green: Scientists, ngày 15 tháng 4 năm 2017, lưu trữ từ nguyên tác ngày 23 tháng 4 năm 2017
  48. Chwedorzewska, K.J. (2015), "Poa annua L. in the maritime Antarctic: an overview", Polar Record, 51 (6): 637–643, doi:10.1017/S0032247414000916
  49. a b Australian Antarctic Division, Antarctic Wildlife, Government of Australia, lưu trữ từ tài liệu gốc ngày 28 tháng 8 năm 2010, truy cập ngày 27 tháng 9 năm 2010
  50. Gorman, James (ngày 6 tháng 2 năm 2013), "Bacteria Found Deep Under Antarctic Ice, Scientists Say", The New York Times, truy cập ngày 6 tháng 2 năm 2013
  51. Bridge, Paul D.; Hughes, Kevin. A. (2010), "Conservation issues for Antarctic fungi", Mycologia Balcanica, 7 (1): 73–76, lưu trữ từ nguyên tác ngày 11 tháng 8 năm 2013, truy cập ngày 12 tháng 7 năm 2011
  52. Kirby, Alex (ngày 15 tháng 8 năm 2001), Toothfish at risk from illegal catches, BBC News, truy cập ngày 22 tháng 10 năm 2011
  53. Toothfish, Australian Antarctic Division, truy cập ngày 22 tháng 10 năm 2011
  54. Steig, E.J.; Schneider, D.P.; Rutherford, S.D.; Mann, M.E.; Comiso, J.C.; Shindell, D.T. (2009), "Warming of the Antarctic ice-sheet surface since the 1957 International Geophysical Year", Nature, 457 (7228): 459–462, Bibcode:2009Natur.457..459S, doi:10.1038/nature07669, PMID 19158794, S2CID 4410477
  55. Gillett, N. P.; Stone, D.I.A.; Stott, P.A.; Nozawa, T.; Karpechko, A.Y.; Hegerl, G.C.; Wehner, M.F.; Jones, P.D. (2008), "Attribution of polar warming to human influence", Nature Geoscience, 1 (11): 750, Bibcode:2008NatGe...1..750G, doi:10.1038/ngeo338
  56. Steig, E.J.; Ding, Q.; White, J.W.C.; Küttel, M.; Rupper, S.B.; Neumann, T.A.; Neff, P.D.; Gallant, A.J.E.; Mayewski, P.A.; Taylor, K.C.; Hoffmann, G.; Dixon, D.A.; Schoenemann, S.W.; Markle, B.R.; Fudge, T.J.; Schneider, D.P.; Schauer, A.J.; Teel, R.P.; Vaughn, B.H.; Burgener, L.; Williams, J.; Korotkikh, E. (2013), "Recent climate and ice-sheet changes in West Antarctica compared with the past 2,000 years", Nature Geoscience, 6 (5): 372, Bibcode:2013NatGe...6..372S, doi:10.1038/ngeo1778, hdl:2060/20150001452
  57. Payne, A.J.; Vieli, A.; Shepherd, A.P.; Wingham, D.J.; Rignot, E. (2004), "Recent dramatic thinning of largest West Antarctic ice stream triggered by oceans", Geophysical Research Letters, 31 (23): L23401, Bibcode:2004GeoRL..3123401P, CiteSeerX 10.1.1.1001.6901, doi:10.1029/2004GL021284
  58. Thoma, M.; Jenkins, A.; Holland, D.; Jacobs, S. (2008), "Modelling Circumpolar Deep Water intrusions on the Amundsen Sea continental shelf, Antarctica" (PDF), Geophysical Research Letters, 35 (18): L18602, Bibcode:2008GeoRL..3518602T, doi:10.1029/2008GL034939
  59. Pritchard, H.; D.G. Vaughan (2007), "Widespread acceleration of tidewater glaciers on the Antarctic Peninsula" (PDF), Journal of Geophysical Research, 112, Bibcode:2007JGRF..11203S29P, doi:10.1029/2006JF000597 Bỏ qua tham số chưa biết |name-list-style= (trợ giúp)
  60. Glasser, Neil (ngày 10 tháng 2 năm 2008), "Antarctic Ice Shelf Collapse Blamed on More Than Climate Change", ScienceDaily
  61. "Huge Antarctic ice chunk collapses", CNN.com, Cable News Network, ngày 25 tháng 3 năm 2008, lưu trữ từ nguyên tác ngày 29 tháng 3 năm 2008, truy cập ngày 25 tháng 3 năm 2008
  62. "Massive ice shelf on verge of breakup", CNN.com, Cable News Network, ngày 25 tháng 3 năm 2008, lưu trữ từ tài liệu gốc ngày 29 tháng 3 năm 2008, truy cập ngày 26 tháng 3 năm 2008
  63. "Ice Bridge Holding Antarctic Shelf in Place Shatters", The New York Times, Reuters, ngày 5 tháng 4 năm 2009, lưu trữ từ tài liệu gốc ngày 16 tháng 4 năm 2009, truy cập ngày 5 tháng 4 năm 2009
  64. "Ice bridge ruptures in Antarctic", BBC News, British Broadcasting Corporation, ngày 5 tháng 4 năm 2009, lưu trữ từ tài liệu gốc ngày 6 tháng 4 năm 2009, truy cập ngày 5 tháng 4 năm 2009
  65. "Big area of Antarctica melted in 2005", CNN.com, Cable News Network, Reuters, ngày 16 tháng 5 năm 2007, lưu trữ từ nguyên tác ngày 18 tháng 5 năm 2007, truy cập ngày 11 tháng 6 năm 2007
  66. Bromwich, David H.; Nicolas, Julien P.; Monaghan, Andrew J.; Lazzara, Matthew A.; Keller, Linda M.; Weidner, George A.; Wilson, Aaron B. (2013), "Central West Antarctica among the most rapidly warming regions on Earth", Nature Geoscience, 6 (2): 139–145, Bibcode:2013NatGe...6..139B, CiteSeerX 10.1.1.394.1974, doi:10.1038/ngeo1671
  67. "Antarctica appears to have broken a heat record", m.phys.org, truy cập ngày 9 tháng 2 năm 2020
  68. British Antarctic Survey, Meteorology and Ozone Monitoring Unit, Antarctic Ozone, Natural Environment Research Council, truy cập ngày 5 tháng 5 năm 2009
  69. a b c Schiermeier, Quirin (ngày 12 tháng 8 năm 2009), "Atmospheric science: Fixing the sky", Nature, 460 (7257): 792–795, doi:10.1038/460792a, PMID 19675624
  70. National Aeronautics and Space Administration, Advanced Supercomputing Division (NAS) (ngày 26 tháng 6 năm 2001), The Antarctic Ozone hole, Government of the United States, lưu trữ từ nguyên tác ngày 3 tháng 4 năm 2009, truy cập ngày 7 tháng 2 năm 2009
  71. Turner J.; Comiso J.C.; Marshall G.J.; Lachlan-Cope T.A.; Bracegirdle T.; Maksym T.; Meredith M.P., Wang Z.; Orr A. (2009), "Non-annular atmospheric circulation change induced by stratospheric ozone depletion and its role in the recent increase of Antarctic sea ice extent" (PDF), Geophysical Research Letters, 36 (8): L08502, Bibcode:2009GeoRL..36.8502T, doi:10.1029/2009GL037524
  72. "Ozone hole set to close", Space Daily, Space Media Network, ngày 12 tháng 11 năm 2019, truy cập ngày 8 tháng 12 năm 2019