Khác biệt giữa các bản “Thư pháp gia/đang phát triển”
Dòng 1: Dòng 1:
 
'''Thư pháp gia''' ([[Hán văn]] : 書法家, [[Hi văn]] : ''Καλλιγράφος'') được hiểu là những người thạo thư pháp và có khả năng đẩy văn tự lên tầm [[nghệ thuật]]<ref>[https://baike.baidu.com/item/书法家 書法家]</ref>.
 
'''Thư pháp gia''' ([[Hán văn]] : 書法家, [[Hi văn]] : ''Καλλιγράφος'') được hiểu là những người thạo thư pháp và có khả năng đẩy văn tự lên tầm [[nghệ thuật]]<ref>[https://baike.baidu.com/item/书法家 書法家]</ref>.
 
==Lịch sử==
 
==Lịch sử==
 +
[[Hình:Calligraphy word.jpg|nhỏ|phải|222px|Thư pháp [[Latin]].]]
 +
[[Hình:Van Mieu han tu 5412926827 072c42c3a1 t.jpg|nhỏ|phải|222px|"Ông đồ" giả Văn Miếu sai tư thế ngồi, cầm bút và dùng [[Latin]] trong thư pháp Hán.]]
 
[[Thư pháp]] xuất hiện hầu như đồng thời với sự hình thành [[văn tự]] bởi nhu cầu trình bày trang nhã và minh bạch [[văn bản]]. Công cụ chính tạo nên [[thư pháp]] là [[bút]] và chất liệu lưu trữ [[văn tự]], mà sau được hiểu gồm [[mực]] và [[giấy]]. Thư pháp gia thường không nhất thiết phải là bậc trí giả nhưng ít nhiều được coi trọng nhờ vốn học vấn đủ để biên chép.
 
[[Thư pháp]] xuất hiện hầu như đồng thời với sự hình thành [[văn tự]] bởi nhu cầu trình bày trang nhã và minh bạch [[văn bản]]. Công cụ chính tạo nên [[thư pháp]] là [[bút]] và chất liệu lưu trữ [[văn tự]], mà sau được hiểu gồm [[mực]] và [[giấy]]. Thư pháp gia thường không nhất thiết phải là bậc trí giả nhưng ít nhiều được coi trọng nhờ vốn học vấn đủ để biên chép.
  

Phiên bản lúc 21:54, ngày 11 tháng 10 năm 2020

Thư pháp gia (Hán văn : 書法家, Hi văn : Καλλιγράφος) được hiểu là những người thạo thư pháp và có khả năng đẩy văn tự lên tầm nghệ thuật[1].

Lịch sử

Thư pháp Latin.
"Ông đồ" giả Văn Miếu sai tư thế ngồi, cầm bút và dùng Latin trong thư pháp Hán.

Thư pháp xuất hiện hầu như đồng thời với sự hình thành văn tự bởi nhu cầu trình bày trang nhã và minh bạch văn bản. Công cụ chính tạo nên thư phápbút và chất liệu lưu trữ văn tự, mà sau được hiểu gồm mựcgiấy. Thư pháp gia thường không nhất thiết phải là bậc trí giả nhưng ít nhiều được coi trọng nhờ vốn học vấn đủ để biên chép.

Trong thế giới Tây phương, thư pháp gia thường là hiền sĩ hoặc tăng lữ vì đặc thù thực dụng của thể chữ kí ngang mặt giấy. Ngược lại, ở thế giới Á Đông, thư pháp gia có sự phân cấp rất rõ : Thư pháp gia đã ít nhất một lần đậu khoa cử hoặc được kính nể cả tài năng và đức hạnh thì mặc nhiên lọt vào hàng ngũ tinh anh, những người này coi chữ của mình là vốn quý và chỉ đem tặng những ai thân thiết hay khả kính ; còn lại, thư pháp gia vốn do thi hỏng thì chẳng những không đủ tư cách dạy học mà còn bị cả sĩ lâm coi khinh, vì thế, đối với họ thì bán chữ thuần túy là cách mưu sinh. Những thư pháp gia có địa vị thấp thường bị lỡm là "vị sư bán tự" (lái "bán tự vi sư"), thi thoảng kiêm thêm nghề bói toán hoặc bốc thuốc làm kế sinh nhai.

Tại Việt Nam hậu kì hiện đại, do tình trạng kì thị cũng như đứt đoạn văn hóa Hán tự, nhiều người tự xưng thư pháp gia đi bán chữ theo lối cổ, nhưng thường phạm những điều kị của giới thư họa truyền thống : Không phân biệt được các thể Hán tự, không biết cách cầm bút, pha mực, thậm chí lạm dụng kí tự Latin vào thư pháp Hán (do bản thân họ không học Hán tự nghiêm túc)... Cho nên lớp người này bị giới nghiên cứu Hán-Nôm tẩy chay.

Xem thêm

Tham khảo

Tài liệu

  • Oscar Ogg (1954), Three classics of Italian Calligraphy, an unabridged reissue of the writing books of Arrighi, Tagliente & Palatino, with an introduction, Dover publications inc. New York, USA
  • John Howard Benson & Arthur Graham Carrey (1940), The Ellements of Lettering, John Stevens, Newport, Rhode Island, printed by: D. B. Updike at The Merrymount Press, Boston
  • John Howard Benson (1955), The first writing book, an English translation & fascimile text of Arrighi's Operina, the first Manual of the chancery hand", London Oxford University press, Geoffrey Cumberlege New Haven Yale University Press.
  • Berthold Wolpe (1959), A newe writing booke of copies, 1574, A fascimile of a unique Elisabethan Writing book in the Bodleian Library Oxford, Lion and Unicorn Press, London
  • Diringer, D. (1968), The Alphabet: A Key to the History of Mankind, 1 (lxb. 3rd), London: Hutchinson & Co., tr. 441
  • Fairbank, Alfred, (1975). Augustino Da Siena, the 1568 edition of his writing book in fascimile, David R. Godine (Boston) & The Merrion Press, (London), ISBN 0-87923-128-9
  • Fraser, M.; Kwiatowski, W. (2006), Ink and Gold: Islamic Calligraphy, London: Sam Fogg Ltd.
  • Gaze, T. & Jacobson, M. (editors), (2013). An Anthology Of Asemic Handwriting. Uitgeverij. ISBN 978-90-817091-7-0
  • Johnston, E. (1909), "Plate 6", Manuscript & Inscription Letters: For schools and classes and for the use of craftsmen, San Vito Press & Double Elephant Press 10th Impression
  • Marns, F.A (2002) Various, copperplate and form, London
  • Mediavilla, Claude (2006), Histoire de la calligraphie française (trong français), Paris: Michel, ISBN 978-2-226-17283-9CS1 maint: ref=harv (link)
  • Shepherd, Margaret (2013), Learn World Calligraphy: Discover African, Arabic, Chinese, Ethiopic, Greek, Hebrew, Indian, Japanese, Korean, Mongolian, Russian, Thai, Tibetan Calligraphy, and Beyond, Crown Publishing Group, tr. 192, ISBN 978-0-8230-8230-8
  • Annemarie Schimmel, Calligraphy and Islamic Culture, New York University Press, 1984, ISBN 978-0-8147-7830-2
  • Wolfgang Kosack: Islamische Schriftkunst des Kufischen Geometrisches Kufi in 593 Schriftbeispielen. Deutsch – Kufi – Arabisch. 380 Seiten. Verlag Christoph Brunner, Basel 2014, ISBN 978-3-906206-10-3.

Tư liệu