Mục từ này cần được bình duyệt
Lymphoma Hodgkin
Phiên bản vào lúc 17:29, ngày 1 tháng 6 năm 2022 của Marrella (Thảo luận | đóng góp)
Lymphoma Hodgkin
Tên khácBệnh Hodgkin
Hodgkin lymphoma cytology large.jpg
Lymphoma Hodgkin, mẫu FNA, nhuộm Field

Lymphoma Hodgkinlymphoma tế bào B có đặc điểm ít tế bào ác tính và nhiều tế bào hiệu ứng miễn dịch trong vi môi trường khối u.[1] Căn bệnh mang tên nhà bệnh lý học người Anh Thomas Hodgkin, người đã mô tả nó lần đầu vào năm 1832.[2] Tổ chức Y tế Thế giới phân lymphoma Hodgkin thành hai loại là cổ điển (cHL) và trội lympho bào nốt (NLPHL) với loại sau không phổ biến chỉ chiếm khoảng 5%.[3][4] Tổng quan thì đây cũng là dạng ung thư hiếm xảy ra chủ yếu ở lứa tuổi thanh niên, tầm 20 đến 34 tuổi.[1][2]

Con người chưa biết chính xác nguyên nhân gây bệnh là gì.[2][5] Các tế bào ác tính chiếm thiểu số trong khối u, có thể là đơn nhân hay đa nhân lớn và được gọi chung là tế bào Hodgkin hay Reed–Sternberg (HRS).[2] Virus Epstein–Barr (EBV) được phát hiện trong HRS ở khoảng 30 đến 50% bệnh nhân không bị suy giảm sức đề kháng.[4][5] Người từng mắc bệnh tăng bạch cầu đơn nhân lây nhiễm, một bệnh do virus Epstein–Barr gây nên, có rủi ro mắc lymphoma Hodgkin tăng gấp ba đến bốn lần.[5] Một yếu tố nguy cơ lớn khác là tình trạng suy giảm miễn dịch vì nhiều lý do như nhiễm HIV; bệnh nhân HIV dễ mắc lymphoma Hodgkin hơn nếu nhận liệu pháp kháng retrovirus hoạt tính cao (HAART) và trường hợp này gần như luôn liên hệ với EBV.[1][2][5] Căn bệnh còn có tính di truyền cao, đặc biệt cặp song sinh cùng trứng của người trẻ bị lymphoma Hodgkin có rủi ro mắc bệnh cao gấp 100 lần.[1][5]


Tham khảo

  1. a b c d Connors, Joseph M.; Cozen, Wendy; Steidl, Christian; Carbone, Antonino; Hoppe, Richard T.; Flechtner, Hans-Henning; Bartlett, Nancy L. (ngày 23 tháng 7 năm 2020), "Hodgkin lymphoma", Nature Reviews Disease Primers, 6 (1), doi:10.1038/s41572-020-0189-6, PMID 32703953, S2CID 220715341
  2. a b c d e Shanbhag, Satish; Ambinder, Richard F. (ngày 1 tháng 12 năm 2017), "Hodgkin lymphoma: A review and update on recent progress", CA: A Cancer Journal for Clinicians, 68 (2): 116–132, doi:10.3322/caac.21438, PMC 5842098, PMID 29194581, S2CID 3766513
  3. Yung, Lynny; Linch, David (tháng 3 năm 2003), "Hodgkin's lymphoma", The Lancet, 361 (9361): 943–951, doi:10.1016/S0140-6736(03)12777-8, PMID 12648984, S2CID 35160007
  4. a b Gobbi, Paolo G.; Ferreri, Andrés J.M.; Ponzoni, Maurilio; Levis, Alessandro (tháng 2 năm 2013), "Hodgkin lymphoma", Critical Reviews in Oncology/Hematology, 85 (2): 216–237, doi:10.1016/j.critrevonc.2012.07.002, PMID 22867814, S2CID 27274760
  5. a b c d e Evens, Andrew M.; Horning, Sandra J. (tháng 1 năm 2011), "Hodgkin lymphoma: epidemiology, diagnosis, and treatment", trong O'Brien, Susan; Vose, Julie M.; Kantarjian, Hagop M. (bt.), Management of Hematologic Malignancies, Cambridge University Press, tr. 367–403, doi:10.1017/CBO9780511781926.019, ISBN 978-0-511-78192-6