<?xml version="1.0"?>
<feed xmlns="http://www.w3.org/2005/Atom" xml:lang="vi">
	<id>https://bktt.vn/index.php?action=history&amp;feed=atom&amp;title=George_F._Kennan</id>
	<title>George F. Kennan - Lịch sử thay đổi</title>
	<link rel="self" type="application/atom+xml" href="https://bktt.vn/index.php?action=history&amp;feed=atom&amp;title=George_F._Kennan"/>
	<link rel="alternate" type="text/html" href="https://bktt.vn/index.php?title=George_F._Kennan&amp;action=history"/>
	<updated>2026-06-01T20:33:45Z</updated>
	<subtitle>Lịch sử thay đổi của trang này ở wiki</subtitle>
	<generator>MediaWiki 1.35.0</generator>
	<entry>
		<id>https://bktt.vn/index.php?title=George_F._Kennan&amp;diff=19596&amp;oldid=prev</id>
		<title>Marrella vào lúc 08:46, ngày 14 tháng 7 năm 2022</title>
		<link rel="alternate" type="text/html" href="https://bktt.vn/index.php?title=George_F._Kennan&amp;diff=19596&amp;oldid=prev"/>
		<updated>2022-07-14T08:46:31Z</updated>

		<summary type="html">&lt;p&gt;&lt;/p&gt;
&lt;table class=&quot;diff diff-contentalign-left diff-editfont-monospace&quot; data-mw=&quot;interface&quot;&gt;
				&lt;col class=&quot;diff-marker&quot; /&gt;
				&lt;col class=&quot;diff-content&quot; /&gt;
				&lt;col class=&quot;diff-marker&quot; /&gt;
				&lt;col class=&quot;diff-content&quot; /&gt;
				&lt;tr class=&quot;diff-title&quot; lang=&quot;vi&quot;&gt;
				&lt;td colspan=&quot;2&quot; style=&quot;background-color: #fff; color: #202122; text-align: center;&quot;&gt;← Phiên bản cũ&lt;/td&gt;
				&lt;td colspan=&quot;2&quot; style=&quot;background-color: #fff; color: #202122; text-align: center;&quot;&gt;Phiên bản lúc 08:46, ngày 14 tháng 7 năm 2022&lt;/td&gt;
				&lt;/tr&gt;&lt;tr&gt;&lt;td colspan=&quot;2&quot; class=&quot;diff-lineno&quot; id=&quot;mw-diff-left-l5&quot; &gt;Dòng 5:&lt;/td&gt;
&lt;td colspan=&quot;2&quot; class=&quot;diff-lineno&quot;&gt;Dòng 5:&lt;/td&gt;&lt;/tr&gt;
&lt;tr&gt;&lt;td class='diff-marker'&gt; &lt;/td&gt;&lt;td style=&quot;background-color: #f8f9fa; color: #202122; font-size: 88%; border-style: solid; border-width: 1px 1px 1px 4px; border-radius: 0.33em; border-color: #eaecf0; vertical-align: top; white-space: pre-wrap;&quot;&gt;&lt;div&gt;George Frost Kennan sinh ngày 16 tháng 2 năm 1904 ở [[Milwaukee]], [[Wincosin]], là con út trong gia đình có bốn người con.&amp;lt;ref name=&amp;quot;Linke&amp;quot;&amp;gt;{{cite journal | last1 = Linke | first1 = Daniel J. | last2 = Weeren | first2 =  ohn S. | title = The Life and Times of George F. Kennan, 1904–2005: A Centennial Retrospective | journal = The Princeton University Library Chronicle | date = 2005 | volume = 66 | issue = 2 | page = 265 | doi = 10.25290/prinunivlibrchro.66.2.0265 | s2cid = 165550128 | doi-access = free}}&amp;lt;/ref&amp;gt;{{sfn|Mayers|1990|p=17}} Ông từng học tại [[Học viện Quân sự St. John]] từ năm 1917 đến 1921 rồi [[Đại học Princeton]] từ 1921 đến 1925.{{sfn|Mayers|1990|p=xiii (chronology)}} Sau đó ông gia nhập Sở Ngoại giao mới thành lập, nắm giữ một vài chức vụ nhỏ ở châu Âu trước khi đến Đức và nghiên cứu về Liên Xô tại Đại học Berlin trong những năm 1929–1931.&amp;lt;ref name=&amp;quot;Linke&amp;quot;/&amp;gt;&amp;lt;ref name=&amp;quot;Stanke&amp;quot;&amp;gt;{{citation | last1 = Stanke | first1 = Jaclyn | title = Kennan, George (1905-2005) | date = 3 May 2018 | pages = 1–4 | publisher = John Wiley &amp;amp; Sons, Ltd | doi = 10.1002/9781118885154.dipl0438}}&amp;lt;/ref&amp;gt; Cuối năm 1933, Kennan được cử sang công tác tại đại sứ quán Hoa Kỳ ở Moskva cùng [[William Bullitt]], đại sứ Hoa Kỳ đầu tiên tại Liên Xô.{{sfn|Lukacs|2007|p=34}} Kennan trở lại Hoa Kỳ năm 1937 rồi tiếp tục đến Viên, Praha, và Berlin lúc [[Thế chiến II]] bùng nổ năm 1939.&amp;lt;ref name=&amp;quot;Stanke&amp;quot;/&amp;gt; Sau khi Hoa Kỳ tham chiến, ông đã bị Đức Quốc xã giam cầm trong 5 tháng ở [[Bad Nauheim]].{{sfn|Mayers|1990|p=xiii (chronology)}}{{sfn|Lukacs|2007|p=50}} Giai đoạn 1944–1946, Kennan có nhiệm kỳ công tác thứ hai ở Moskva.{{sfn|Mayers|1990|p=86}}&lt;/div&gt;&lt;/td&gt;&lt;td class='diff-marker'&gt; &lt;/td&gt;&lt;td style=&quot;background-color: #f8f9fa; color: #202122; font-size: 88%; border-style: solid; border-width: 1px 1px 1px 4px; border-radius: 0.33em; border-color: #eaecf0; vertical-align: top; white-space: pre-wrap;&quot;&gt;&lt;div&gt;George Frost Kennan sinh ngày 16 tháng 2 năm 1904 ở [[Milwaukee]], [[Wincosin]], là con út trong gia đình có bốn người con.&amp;lt;ref name=&amp;quot;Linke&amp;quot;&amp;gt;{{cite journal | last1 = Linke | first1 = Daniel J. | last2 = Weeren | first2 =  ohn S. | title = The Life and Times of George F. Kennan, 1904–2005: A Centennial Retrospective | journal = The Princeton University Library Chronicle | date = 2005 | volume = 66 | issue = 2 | page = 265 | doi = 10.25290/prinunivlibrchro.66.2.0265 | s2cid = 165550128 | doi-access = free}}&amp;lt;/ref&amp;gt;{{sfn|Mayers|1990|p=17}} Ông từng học tại [[Học viện Quân sự St. John]] từ năm 1917 đến 1921 rồi [[Đại học Princeton]] từ 1921 đến 1925.{{sfn|Mayers|1990|p=xiii (chronology)}} Sau đó ông gia nhập Sở Ngoại giao mới thành lập, nắm giữ một vài chức vụ nhỏ ở châu Âu trước khi đến Đức và nghiên cứu về Liên Xô tại Đại học Berlin trong những năm 1929–1931.&amp;lt;ref name=&amp;quot;Linke&amp;quot;/&amp;gt;&amp;lt;ref name=&amp;quot;Stanke&amp;quot;&amp;gt;{{citation | last1 = Stanke | first1 = Jaclyn | title = Kennan, George (1905-2005) | date = 3 May 2018 | pages = 1–4 | publisher = John Wiley &amp;amp; Sons, Ltd | doi = 10.1002/9781118885154.dipl0438}}&amp;lt;/ref&amp;gt; Cuối năm 1933, Kennan được cử sang công tác tại đại sứ quán Hoa Kỳ ở Moskva cùng [[William Bullitt]], đại sứ Hoa Kỳ đầu tiên tại Liên Xô.{{sfn|Lukacs|2007|p=34}} Kennan trở lại Hoa Kỳ năm 1937 rồi tiếp tục đến Viên, Praha, và Berlin lúc [[Thế chiến II]] bùng nổ năm 1939.&amp;lt;ref name=&amp;quot;Stanke&amp;quot;/&amp;gt; Sau khi Hoa Kỳ tham chiến, ông đã bị Đức Quốc xã giam cầm trong 5 tháng ở [[Bad Nauheim]].{{sfn|Mayers|1990|p=xiii (chronology)}}{{sfn|Lukacs|2007|p=50}} Giai đoạn 1944–1946, Kennan có nhiệm kỳ công tác thứ hai ở Moskva.{{sfn|Mayers|1990|p=86}}&lt;/div&gt;&lt;/td&gt;&lt;/tr&gt;
&lt;tr&gt;&lt;td class='diff-marker'&gt; &lt;/td&gt;&lt;td style=&quot;background-color: #f8f9fa; color: #202122; font-size: 88%; border-style: solid; border-width: 1px 1px 1px 4px; border-radius: 0.33em; border-color: #eaecf0; vertical-align: top; white-space: pre-wrap;&quot;&gt;&lt;/td&gt;&lt;td class='diff-marker'&gt; &lt;/td&gt;&lt;td style=&quot;background-color: #f8f9fa; color: #202122; font-size: 88%; border-style: solid; border-width: 1px 1px 1px 4px; border-radius: 0.33em; border-color: #eaecf0; vertical-align: top; white-space: pre-wrap;&quot;&gt;&lt;/td&gt;&lt;/tr&gt;
&lt;tr&gt;&lt;td class='diff-marker'&gt;−&lt;/td&gt;&lt;td style=&quot;color: #202122; font-size: 88%; border-style: solid; border-width: 1px 1px 1px 4px; border-radius: 0.33em; border-color: #ffe49c; vertical-align: top; white-space: pre-wrap;&quot;&gt;&lt;div&gt;Trong bối cảnh &lt;del class=&quot;diffchange diffchange-inline&quot;&gt;mâu thuẫn Xô – Mỹ trở nên gay gắt&lt;/del&gt;, bằng ba văn kiện quan trọng: một bức điện dài 8.000 chữ (tháng 2 năm 1946, khi là Đại biện lâm thời tại Liên Xô) và hai bài báo ký tên X trên tạp chí Các vấn đề đối ngoại vào tháng 7 năm 1947 và tháng 4 năm 1951, Kennan đã kiến nghị chiến lược &amp;quot;kiềm chế chủ nghĩa cộng sản&amp;quot;. Nội dung: 1) Liên Xô âm mưu mở rộng quyền lực ở châu Âu và các nơi khác bằng cách kiên trì gây sức ép nhằm làm suy yếu sức mạnh và ảnh hưởng của đối phương; 2) Liên Xô yếu hơn phương Tây và tương lai của quyền lực Liên Xô không có gì đảm bảo; 3) Nên tiến hành một chính sách kiềm chế kiên quyết chủ yếu bằng biện pháp kinh tế, chính trị và đặc biệt là chứng minh sự tốt đẹp của xã hội Hoa Kỳ buộc Liên Xô phải đối phó với các thế lực chống đối tại các khu vực mà họ âm mưu xâm phạm quyền lợi của phương Tây. Đồng thời, cần kiên nhẫn khuyến khích các thế lực cải cách chính tại Liên Xô tác động đến chính sách đối nội và đối ngoại của nước này.&lt;/div&gt;&lt;/td&gt;&lt;td class='diff-marker'&gt;+&lt;/td&gt;&lt;td style=&quot;color: #202122; font-size: 88%; border-style: solid; border-width: 1px 1px 1px 4px; border-radius: 0.33em; border-color: #a3d3ff; vertical-align: top; white-space: pre-wrap;&quot;&gt;&lt;div&gt;Trong bối cảnh &lt;ins class=&quot;diffchange diffchange-inline&quot;&gt;quan hệ Liên Xô–Hoa Kỳ đi xuống sau Thế chiến II&lt;/ins&gt;, bằng ba văn kiện quan trọng: một bức điện dài 8.000 chữ (tháng 2 năm 1946, khi là Đại biện lâm thời tại Liên Xô) và hai bài báo ký tên X trên tạp chí Các vấn đề đối ngoại vào tháng 7 năm 1947 và tháng 4 năm 1951, Kennan đã kiến nghị chiến lược &amp;quot;kiềm chế chủ nghĩa cộng sản&amp;quot;. Nội dung: 1) Liên Xô âm mưu mở rộng quyền lực ở châu Âu và các nơi khác bằng cách kiên trì gây sức ép nhằm làm suy yếu sức mạnh và ảnh hưởng của đối phương; 2) Liên Xô yếu hơn phương Tây và tương lai của quyền lực Liên Xô không có gì đảm bảo; 3) Nên tiến hành một chính sách kiềm chế kiên quyết chủ yếu bằng biện pháp kinh tế, chính trị và đặc biệt là chứng minh sự tốt đẹp của xã hội Hoa Kỳ buộc Liên Xô phải đối phó với các thế lực chống đối tại các khu vực mà họ âm mưu xâm phạm quyền lợi của phương Tây. Đồng thời, cần kiên nhẫn khuyến khích các thế lực cải cách chính tại Liên Xô tác động đến chính sách đối nội và đối ngoại của nước này.&lt;/div&gt;&lt;/td&gt;&lt;/tr&gt;
&lt;tr&gt;&lt;td class='diff-marker'&gt; &lt;/td&gt;&lt;td style=&quot;background-color: #f8f9fa; color: #202122; font-size: 88%; border-style: solid; border-width: 1px 1px 1px 4px; border-radius: 0.33em; border-color: #eaecf0; vertical-align: top; white-space: pre-wrap;&quot;&gt;&lt;/td&gt;&lt;td class='diff-marker'&gt; &lt;/td&gt;&lt;td style=&quot;background-color: #f8f9fa; color: #202122; font-size: 88%; border-style: solid; border-width: 1px 1px 1px 4px; border-radius: 0.33em; border-color: #eaecf0; vertical-align: top; white-space: pre-wrap;&quot;&gt;&lt;/td&gt;&lt;/tr&gt;
&lt;tr&gt;&lt;td class='diff-marker'&gt; &lt;/td&gt;&lt;td style=&quot;background-color: #f8f9fa; color: #202122; font-size: 88%; border-style: solid; border-width: 1px 1px 1px 4px; border-radius: 0.33em; border-color: #eaecf0; vertical-align: top; white-space: pre-wrap;&quot;&gt;&lt;div&gt;Cuối năm 1946, ông trở về Washington được bổ nhiệm làm Vụ Trưởng Vụ Hoạch định chính sách, của Bộ Ngoại giao. Thời gian làm Vụ trưởng (1947–1949), Kennan đã vận dụng học thuyết trên vào kế hoạch Marshall và chương trình phục hồi nước Nhật, đặc biệt lợi dụng mâu thuẫn giữa Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa khác. Năm 1949, ông thôi chức Vụ trưởng Vụ Hoạch định chính sách và được bổ nhiệm làm Cố vấn Bộ Ngoại giao. Ngay sau đó ông từ chức và chuyển sang tham gia công tác nghiên cứu, giảng dậy tại Viện Nghiên cứu cấp cao ở Princeton. Năm 1952, ông được bổ nhiệm Đại sứ Hoa Kỳ tại Liên Xô, song bị Liên Xô coi là nhân vật không được hoan nghênh vì phê phán thái độ của Liên Xô đối với các nhà ngoại giao Phương Tây. Năm 1953, ông trở về Washington và bị Ngoại trưởng Dulles gạt khỏi Bộ Ngoại giao. Sau đó, ông chuyển đến làm việc tại Viện nghiên cao cấp Princeton và thường điều trần tại Quốc hội Hoa Kỳ về lịch sử, chính sách ngoại giao. Năm 1961–1963, ông lại được Tổng thống Hoa Kỳ cử làm Đại sứ của Hoa Kỳ tại Nam Tư.&lt;/div&gt;&lt;/td&gt;&lt;td class='diff-marker'&gt; &lt;/td&gt;&lt;td style=&quot;background-color: #f8f9fa; color: #202122; font-size: 88%; border-style: solid; border-width: 1px 1px 1px 4px; border-radius: 0.33em; border-color: #eaecf0; vertical-align: top; white-space: pre-wrap;&quot;&gt;&lt;div&gt;Cuối năm 1946, ông trở về Washington được bổ nhiệm làm Vụ Trưởng Vụ Hoạch định chính sách, của Bộ Ngoại giao. Thời gian làm Vụ trưởng (1947–1949), Kennan đã vận dụng học thuyết trên vào kế hoạch Marshall và chương trình phục hồi nước Nhật, đặc biệt lợi dụng mâu thuẫn giữa Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa khác. Năm 1949, ông thôi chức Vụ trưởng Vụ Hoạch định chính sách và được bổ nhiệm làm Cố vấn Bộ Ngoại giao. Ngay sau đó ông từ chức và chuyển sang tham gia công tác nghiên cứu, giảng dậy tại Viện Nghiên cứu cấp cao ở Princeton. Năm 1952, ông được bổ nhiệm Đại sứ Hoa Kỳ tại Liên Xô, song bị Liên Xô coi là nhân vật không được hoan nghênh vì phê phán thái độ của Liên Xô đối với các nhà ngoại giao Phương Tây. Năm 1953, ông trở về Washington và bị Ngoại trưởng Dulles gạt khỏi Bộ Ngoại giao. Sau đó, ông chuyển đến làm việc tại Viện nghiên cao cấp Princeton và thường điều trần tại Quốc hội Hoa Kỳ về lịch sử, chính sách ngoại giao. Năm 1961–1963, ông lại được Tổng thống Hoa Kỳ cử làm Đại sứ của Hoa Kỳ tại Nam Tư.&lt;/div&gt;&lt;/td&gt;&lt;/tr&gt;
&lt;/table&gt;</summary>
		<author><name>Marrella</name></author>
	</entry>
	<entry>
		<id>https://bktt.vn/index.php?title=George_F._Kennan&amp;diff=19595&amp;oldid=prev</id>
		<title>Marrella vào lúc 08:35, ngày 14 tháng 7 năm 2022</title>
		<link rel="alternate" type="text/html" href="https://bktt.vn/index.php?title=George_F._Kennan&amp;diff=19595&amp;oldid=prev"/>
		<updated>2022-07-14T08:35:33Z</updated>

		<summary type="html">&lt;p&gt;&lt;/p&gt;
&lt;table class=&quot;diff diff-contentalign-left diff-editfont-monospace&quot; data-mw=&quot;interface&quot;&gt;
				&lt;col class=&quot;diff-marker&quot; /&gt;
				&lt;col class=&quot;diff-content&quot; /&gt;
				&lt;col class=&quot;diff-marker&quot; /&gt;
				&lt;col class=&quot;diff-content&quot; /&gt;
				&lt;tr class=&quot;diff-title&quot; lang=&quot;vi&quot;&gt;
				&lt;td colspan=&quot;2&quot; style=&quot;background-color: #fff; color: #202122; text-align: center;&quot;&gt;← Phiên bản cũ&lt;/td&gt;
				&lt;td colspan=&quot;2&quot; style=&quot;background-color: #fff; color: #202122; text-align: center;&quot;&gt;Phiên bản lúc 08:35, ngày 14 tháng 7 năm 2022&lt;/td&gt;
				&lt;/tr&gt;&lt;tr&gt;&lt;td colspan=&quot;2&quot; class=&quot;diff-lineno&quot; id=&quot;mw-diff-left-l5&quot; &gt;Dòng 5:&lt;/td&gt;
&lt;td colspan=&quot;2&quot; class=&quot;diff-lineno&quot;&gt;Dòng 5:&lt;/td&gt;&lt;/tr&gt;
&lt;tr&gt;&lt;td class='diff-marker'&gt; &lt;/td&gt;&lt;td style=&quot;background-color: #f8f9fa; color: #202122; font-size: 88%; border-style: solid; border-width: 1px 1px 1px 4px; border-radius: 0.33em; border-color: #eaecf0; vertical-align: top; white-space: pre-wrap;&quot;&gt;&lt;div&gt;George Frost Kennan sinh ngày 16 tháng 2 năm 1904 ở [[Milwaukee]], [[Wincosin]], là con út trong gia đình có bốn người con.&amp;lt;ref name=&amp;quot;Linke&amp;quot;&amp;gt;{{cite journal | last1 = Linke | first1 = Daniel J. | last2 = Weeren | first2 =  ohn S. | title = The Life and Times of George F. Kennan, 1904–2005: A Centennial Retrospective | journal = The Princeton University Library Chronicle | date = 2005 | volume = 66 | issue = 2 | page = 265 | doi = 10.25290/prinunivlibrchro.66.2.0265 | s2cid = 165550128 | doi-access = free}}&amp;lt;/ref&amp;gt;{{sfn|Mayers|1990|p=17}} Ông từng học tại [[Học viện Quân sự St. John]] từ năm 1917 đến 1921 rồi [[Đại học Princeton]] từ 1921 đến 1925.{{sfn|Mayers|1990|p=xiii (chronology)}} Sau đó ông gia nhập Sở Ngoại giao mới thành lập, nắm giữ một vài chức vụ nhỏ ở châu Âu trước khi đến Đức và nghiên cứu về Liên Xô tại Đại học Berlin trong những năm 1929–1931.&amp;lt;ref name=&amp;quot;Linke&amp;quot;/&amp;gt;&amp;lt;ref name=&amp;quot;Stanke&amp;quot;&amp;gt;{{citation | last1 = Stanke | first1 = Jaclyn | title = Kennan, George (1905-2005) | date = 3 May 2018 | pages = 1–4 | publisher = John Wiley &amp;amp; Sons, Ltd | doi = 10.1002/9781118885154.dipl0438}}&amp;lt;/ref&amp;gt; Cuối năm 1933, Kennan được cử sang công tác tại đại sứ quán Hoa Kỳ ở Moskva cùng [[William Bullitt]], đại sứ Hoa Kỳ đầu tiên tại Liên Xô.{{sfn|Lukacs|2007|p=34}} Kennan trở lại Hoa Kỳ năm 1937 rồi tiếp tục đến Viên, Praha, và Berlin lúc [[Thế chiến II]] bùng nổ năm 1939.&amp;lt;ref name=&amp;quot;Stanke&amp;quot;/&amp;gt; Sau khi Hoa Kỳ tham chiến, ông đã bị Đức Quốc xã giam cầm trong 5 tháng ở [[Bad Nauheim]].{{sfn|Mayers|1990|p=xiii (chronology)}}{{sfn|Lukacs|2007|p=50}} Giai đoạn 1944–1946, Kennan có nhiệm kỳ công tác thứ hai ở Moskva.{{sfn|Mayers|1990|p=86}}&lt;/div&gt;&lt;/td&gt;&lt;td class='diff-marker'&gt; &lt;/td&gt;&lt;td style=&quot;background-color: #f8f9fa; color: #202122; font-size: 88%; border-style: solid; border-width: 1px 1px 1px 4px; border-radius: 0.33em; border-color: #eaecf0; vertical-align: top; white-space: pre-wrap;&quot;&gt;&lt;div&gt;George Frost Kennan sinh ngày 16 tháng 2 năm 1904 ở [[Milwaukee]], [[Wincosin]], là con út trong gia đình có bốn người con.&amp;lt;ref name=&amp;quot;Linke&amp;quot;&amp;gt;{{cite journal | last1 = Linke | first1 = Daniel J. | last2 = Weeren | first2 =  ohn S. | title = The Life and Times of George F. Kennan, 1904–2005: A Centennial Retrospective | journal = The Princeton University Library Chronicle | date = 2005 | volume = 66 | issue = 2 | page = 265 | doi = 10.25290/prinunivlibrchro.66.2.0265 | s2cid = 165550128 | doi-access = free}}&amp;lt;/ref&amp;gt;{{sfn|Mayers|1990|p=17}} Ông từng học tại [[Học viện Quân sự St. John]] từ năm 1917 đến 1921 rồi [[Đại học Princeton]] từ 1921 đến 1925.{{sfn|Mayers|1990|p=xiii (chronology)}} Sau đó ông gia nhập Sở Ngoại giao mới thành lập, nắm giữ một vài chức vụ nhỏ ở châu Âu trước khi đến Đức và nghiên cứu về Liên Xô tại Đại học Berlin trong những năm 1929–1931.&amp;lt;ref name=&amp;quot;Linke&amp;quot;/&amp;gt;&amp;lt;ref name=&amp;quot;Stanke&amp;quot;&amp;gt;{{citation | last1 = Stanke | first1 = Jaclyn | title = Kennan, George (1905-2005) | date = 3 May 2018 | pages = 1–4 | publisher = John Wiley &amp;amp; Sons, Ltd | doi = 10.1002/9781118885154.dipl0438}}&amp;lt;/ref&amp;gt; Cuối năm 1933, Kennan được cử sang công tác tại đại sứ quán Hoa Kỳ ở Moskva cùng [[William Bullitt]], đại sứ Hoa Kỳ đầu tiên tại Liên Xô.{{sfn|Lukacs|2007|p=34}} Kennan trở lại Hoa Kỳ năm 1937 rồi tiếp tục đến Viên, Praha, và Berlin lúc [[Thế chiến II]] bùng nổ năm 1939.&amp;lt;ref name=&amp;quot;Stanke&amp;quot;/&amp;gt; Sau khi Hoa Kỳ tham chiến, ông đã bị Đức Quốc xã giam cầm trong 5 tháng ở [[Bad Nauheim]].{{sfn|Mayers|1990|p=xiii (chronology)}}{{sfn|Lukacs|2007|p=50}} Giai đoạn 1944–1946, Kennan có nhiệm kỳ công tác thứ hai ở Moskva.{{sfn|Mayers|1990|p=86}}&lt;/div&gt;&lt;/td&gt;&lt;/tr&gt;
&lt;tr&gt;&lt;td class='diff-marker'&gt; &lt;/td&gt;&lt;td style=&quot;background-color: #f8f9fa; color: #202122; font-size: 88%; border-style: solid; border-width: 1px 1px 1px 4px; border-radius: 0.33em; border-color: #eaecf0; vertical-align: top; white-space: pre-wrap;&quot;&gt;&lt;/td&gt;&lt;td class='diff-marker'&gt; &lt;/td&gt;&lt;td style=&quot;background-color: #f8f9fa; color: #202122; font-size: 88%; border-style: solid; border-width: 1px 1px 1px 4px; border-radius: 0.33em; border-color: #eaecf0; vertical-align: top; white-space: pre-wrap;&quot;&gt;&lt;/td&gt;&lt;/tr&gt;
&lt;tr&gt;&lt;td class='diff-marker'&gt;−&lt;/td&gt;&lt;td style=&quot;color: #202122; font-size: 88%; border-style: solid; border-width: 1px 1px 1px 4px; border-radius: 0.33em; border-color: #ffe49c; vertical-align: top; white-space: pre-wrap;&quot;&gt;&lt;div&gt;Trong bối cảnh mâu thuẫn Xô – Mỹ trở nên gay gắt, bằng ba văn kiện quan trọng: một bức điện dài 8.000 chữ (tháng 2&lt;del class=&quot;diffchange diffchange-inline&quot;&gt;.&lt;/del&gt;1946, khi là Đại biện lâm thời tại Liên Xô) và hai bài báo ký tên X trên tạp chí Các vấn đề đối ngoại vào 7&lt;del class=&quot;diffchange diffchange-inline&quot;&gt;.&lt;/del&gt;1947 và 4&lt;del class=&quot;diffchange diffchange-inline&quot;&gt;.&lt;/del&gt;1951, Kennan đã kiến nghị chiến lược &lt;del class=&quot;diffchange diffchange-inline&quot;&gt;“kiềm &lt;/del&gt;chế chủ nghĩa cộng &lt;del class=&quot;diffchange diffchange-inline&quot;&gt;sản”&lt;/del&gt;. Nội dung: 1) Liên Xô âm mưu mở rộng quyền lực ở châu Âu và các nơi khác bằng cách kiên trì gây sức ép nhằm làm suy yếu sức mạnh và ảnh hưởng của đối phương; 2) Liên Xô yếu hơn phương Tây và tương lai của quyền lực Liên Xô không có gì đảm bảo; 3) Nên tiến hành một chính sách kiềm chế kiên quyết chủ yếu bằng biện pháp kinh tế, chính trị và đặc biệt là chứng minh sự tốt đẹp của xã hội Hoa Kỳ buộc Liên Xô phải đối phó với các thế lực chống đối tại các khu vực mà họ âm mưu xâm phạm quyền lợi của phương Tây. Đồng thời, cần kiên nhẫn khuyến khích các thế lực cải cách chính tại Liên Xô tác động đến chính sách đối nội và đối ngoại của nước này.&lt;/div&gt;&lt;/td&gt;&lt;td class='diff-marker'&gt;+&lt;/td&gt;&lt;td style=&quot;color: #202122; font-size: 88%; border-style: solid; border-width: 1px 1px 1px 4px; border-radius: 0.33em; border-color: #a3d3ff; vertical-align: top; white-space: pre-wrap;&quot;&gt;&lt;div&gt;Trong bối cảnh mâu thuẫn Xô – Mỹ trở nên gay gắt, bằng ba văn kiện quan trọng: một bức điện dài 8.000 chữ (tháng 2 &lt;ins class=&quot;diffchange diffchange-inline&quot;&gt;năm &lt;/ins&gt;1946, khi là Đại biện lâm thời tại Liên Xô) và hai bài báo ký tên X trên tạp chí Các vấn đề đối ngoại vào &lt;ins class=&quot;diffchange diffchange-inline&quot;&gt;tháng &lt;/ins&gt;7 &lt;ins class=&quot;diffchange diffchange-inline&quot;&gt;năm &lt;/ins&gt;1947 và &lt;ins class=&quot;diffchange diffchange-inline&quot;&gt;tháng &lt;/ins&gt;4 &lt;ins class=&quot;diffchange diffchange-inline&quot;&gt;năm &lt;/ins&gt;1951, Kennan đã kiến nghị chiến lược &lt;ins class=&quot;diffchange diffchange-inline&quot;&gt;&amp;quot;kiềm &lt;/ins&gt;chế chủ nghĩa cộng &lt;ins class=&quot;diffchange diffchange-inline&quot;&gt;sản&amp;quot;&lt;/ins&gt;. Nội dung: 1) Liên Xô âm mưu mở rộng quyền lực ở châu Âu và các nơi khác bằng cách kiên trì gây sức ép nhằm làm suy yếu sức mạnh và ảnh hưởng của đối phương; 2) Liên Xô yếu hơn phương Tây và tương lai của quyền lực Liên Xô không có gì đảm bảo; 3) Nên tiến hành một chính sách kiềm chế kiên quyết chủ yếu bằng biện pháp kinh tế, chính trị và đặc biệt là chứng minh sự tốt đẹp của xã hội Hoa Kỳ buộc Liên Xô phải đối phó với các thế lực chống đối tại các khu vực mà họ âm mưu xâm phạm quyền lợi của phương Tây. Đồng thời, cần kiên nhẫn khuyến khích các thế lực cải cách chính tại Liên Xô tác động đến chính sách đối nội và đối ngoại của nước này.&lt;/div&gt;&lt;/td&gt;&lt;/tr&gt;
&lt;tr&gt;&lt;td class='diff-marker'&gt; &lt;/td&gt;&lt;td style=&quot;background-color: #f8f9fa; color: #202122; font-size: 88%; border-style: solid; border-width: 1px 1px 1px 4px; border-radius: 0.33em; border-color: #eaecf0; vertical-align: top; white-space: pre-wrap;&quot;&gt;&lt;/td&gt;&lt;td class='diff-marker'&gt; &lt;/td&gt;&lt;td style=&quot;background-color: #f8f9fa; color: #202122; font-size: 88%; border-style: solid; border-width: 1px 1px 1px 4px; border-radius: 0.33em; border-color: #eaecf0; vertical-align: top; white-space: pre-wrap;&quot;&gt;&lt;/td&gt;&lt;/tr&gt;
&lt;tr&gt;&lt;td class='diff-marker'&gt;−&lt;/td&gt;&lt;td style=&quot;color: #202122; font-size: 88%; border-style: solid; border-width: 1px 1px 1px 4px; border-radius: 0.33em; border-color: #ffe49c; vertical-align: top; white-space: pre-wrap;&quot;&gt;&lt;div&gt;Cuối năm 1946, ông trở về Washington được bổ nhiệm làm Vụ Trưởng Vụ Hoạch định chính sách, của Bộ Ngoại giao. Thời gian làm Vụ trưởng (&lt;del class=&quot;diffchange diffchange-inline&quot;&gt;1947-1949&lt;/del&gt;), Kennan đã vận dụng học thuyết trên vào kế hoạch Marshall và chương trình phục hồi nước Nhật, đặc biệt lợi dụng mâu thuẫn giữa Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa khác. Năm 1949, ông thôi chức Vụ trưởng Vụ Hoạch định chính sách và được bổ nhiệm làm Cố vấn Bộ Ngoại giao. Ngay sau đó ông từ chức và chuyển sang tham gia công tác nghiên cứu, giảng dậy tại Viện Nghiên cứu cấp cao ở Princeton. Năm 1952, ông được bổ nhiệm Đại sứ Hoa Kỳ tại Liên Xô, song bị Liên Xô coi là nhân vật không được hoan nghênh vì phê phán thái độ của Liên Xô đối với các nhà ngoại giao Phương Tây. Năm 1953, ông trở về Washington và bị Ngoại trưởng Dulles gạt khỏi Bộ Ngoại giao. Sau đó, ông chuyển đến làm việc tại Viện nghiên cao cấp Princeton và thường điều trần tại Quốc hội Hoa Kỳ về lịch sử, chính sách ngoại giao. Năm &lt;del class=&quot;diffchange diffchange-inline&quot;&gt;1961- 1963&lt;/del&gt;, ông lại được Tổng thống Hoa Kỳ cử làm Đại sứ của Hoa Kỳ tại Nam Tư.&lt;/div&gt;&lt;/td&gt;&lt;td class='diff-marker'&gt;+&lt;/td&gt;&lt;td style=&quot;color: #202122; font-size: 88%; border-style: solid; border-width: 1px 1px 1px 4px; border-radius: 0.33em; border-color: #a3d3ff; vertical-align: top; white-space: pre-wrap;&quot;&gt;&lt;div&gt;Cuối năm 1946, ông trở về Washington được bổ nhiệm làm Vụ Trưởng Vụ Hoạch định chính sách, của Bộ Ngoại giao. Thời gian làm Vụ trưởng (&lt;ins class=&quot;diffchange diffchange-inline&quot;&gt;1947–1949&lt;/ins&gt;), Kennan đã vận dụng học thuyết trên vào kế hoạch Marshall và chương trình phục hồi nước Nhật, đặc biệt lợi dụng mâu thuẫn giữa Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa khác. Năm 1949, ông thôi chức Vụ trưởng Vụ Hoạch định chính sách và được bổ nhiệm làm Cố vấn Bộ Ngoại giao. Ngay sau đó ông từ chức và chuyển sang tham gia công tác nghiên cứu, giảng dậy tại Viện Nghiên cứu cấp cao ở Princeton. Năm 1952, ông được bổ nhiệm Đại sứ Hoa Kỳ tại Liên Xô, song bị Liên Xô coi là nhân vật không được hoan nghênh vì phê phán thái độ của Liên Xô đối với các nhà ngoại giao Phương Tây. Năm 1953, ông trở về Washington và bị Ngoại trưởng Dulles gạt khỏi Bộ Ngoại giao. Sau đó, ông chuyển đến làm việc tại Viện nghiên cao cấp Princeton và thường điều trần tại Quốc hội Hoa Kỳ về lịch sử, chính sách ngoại giao. Năm &lt;ins class=&quot;diffchange diffchange-inline&quot;&gt;1961–1963&lt;/ins&gt;, ông lại được Tổng thống Hoa Kỳ cử làm Đại sứ của Hoa Kỳ tại Nam Tư.&lt;/div&gt;&lt;/td&gt;&lt;/tr&gt;
&lt;tr&gt;&lt;td class='diff-marker'&gt; &lt;/td&gt;&lt;td style=&quot;background-color: #f8f9fa; color: #202122; font-size: 88%; border-style: solid; border-width: 1px 1px 1px 4px; border-radius: 0.33em; border-color: #eaecf0; vertical-align: top; white-space: pre-wrap;&quot;&gt;&lt;/td&gt;&lt;td class='diff-marker'&gt; &lt;/td&gt;&lt;td style=&quot;background-color: #f8f9fa; color: #202122; font-size: 88%; border-style: solid; border-width: 1px 1px 1px 4px; border-radius: 0.33em; border-color: #eaecf0; vertical-align: top; white-space: pre-wrap;&quot;&gt;&lt;/td&gt;&lt;/tr&gt;
&lt;tr&gt;&lt;td class='diff-marker'&gt;−&lt;/td&gt;&lt;td style=&quot;color: #202122; font-size: 88%; border-style: solid; border-width: 1px 1px 1px 4px; border-radius: 0.33em; border-color: #ffe49c; vertical-align: top; white-space: pre-wrap;&quot;&gt;&lt;div&gt;Quan điểm nền tảng của ông là chủ nghĩa hiện thực chính trị. Từ cuối những năm 1950 thế kỷ XX, ông đã xem xét lại quan điển của mình về ngăn chặn chủ nghĩa cộng sản. Ông bảo vệ chương trình không can thiệp của Hoa Kỳ vào những khu vực xung đột với Liên Xô. Ông cho rằng, kiệt quệ do chiến tranh, nên Liên Xô không đe dọa quân sự đối với Hoa Kỳ và đồng minh của Hoa Kỳ. Theo ông, sức mạnh quân sự có giới hạn của nó, về chính trị không nên quá nhấn mạnh sức mạnh quân sự và sao nhãng các khía cạnh quyền lực khác, chạy đua vũ trang không kiềm chế là nguy hiểm. &lt;del class=&quot;diffchange diffchange-inline&quot;&gt; &lt;/del&gt;Ông kiên quyết khẳng định từ bỏ học thuyết ngăn chặn và cho rằng điều đó chỉ phù hợp với hoàn cảnh khác, tại khu vực nào đó của thế giới, ví dụ Việt Nam.&lt;/div&gt;&lt;/td&gt;&lt;td class='diff-marker'&gt;+&lt;/td&gt;&lt;td style=&quot;color: #202122; font-size: 88%; border-style: solid; border-width: 1px 1px 1px 4px; border-radius: 0.33em; border-color: #a3d3ff; vertical-align: top; white-space: pre-wrap;&quot;&gt;&lt;div&gt;Quan điểm nền tảng của ông là chủ nghĩa hiện thực chính trị. Từ cuối những năm 1950 thế kỷ XX, ông đã xem xét lại quan điển của mình về ngăn chặn chủ nghĩa cộng sản. Ông bảo vệ chương trình không can thiệp của Hoa Kỳ vào những khu vực xung đột với Liên Xô. Ông cho rằng, kiệt quệ do chiến tranh, nên Liên Xô không đe dọa quân sự đối với Hoa Kỳ và đồng minh của Hoa Kỳ. Theo ông, sức mạnh quân sự có giới hạn của nó, về chính trị không nên quá nhấn mạnh sức mạnh quân sự và sao nhãng các khía cạnh quyền lực khác, chạy đua vũ trang không kiềm chế là nguy hiểm. Ông kiên quyết khẳng định từ bỏ học thuyết ngăn chặn và cho rằng điều đó chỉ phù hợp với hoàn cảnh khác, tại khu vực nào đó của thế giới, ví dụ Việt Nam.&lt;/div&gt;&lt;/td&gt;&lt;/tr&gt;
&lt;tr&gt;&lt;td class='diff-marker'&gt; &lt;/td&gt;&lt;td style=&quot;background-color: #f8f9fa; color: #202122; font-size: 88%; border-style: solid; border-width: 1px 1px 1px 4px; border-radius: 0.33em; border-color: #eaecf0; vertical-align: top; white-space: pre-wrap;&quot;&gt;&lt;/td&gt;&lt;td class='diff-marker'&gt; &lt;/td&gt;&lt;td style=&quot;background-color: #f8f9fa; color: #202122; font-size: 88%; border-style: solid; border-width: 1px 1px 1px 4px; border-radius: 0.33em; border-color: #eaecf0; vertical-align: top; white-space: pre-wrap;&quot;&gt;&lt;/td&gt;&lt;/tr&gt;
&lt;tr&gt;&lt;td class='diff-marker'&gt;−&lt;/td&gt;&lt;td style=&quot;color: #202122; font-size: 88%; border-style: solid; border-width: 1px 1px 1px 4px; border-radius: 0.33em; border-color: #ffe49c; vertical-align: top; white-space: pre-wrap;&quot;&gt;&lt;div&gt;Tuy nhiên, những năm 1960, ông phê phán mạnh mẽ và đòi chấm dứt chiến tranh của chính quyền Tổng thống Jonhson tại Việt Nam. Ông cho rằng Hoa Kỳ có rất ít lợi ích ở Việt Nam, lợi ích sống còn đối với Hoa &lt;del class=&quot;diffchange diffchange-inline&quot;&gt;kỳ &lt;/del&gt;là ở Liên Xô, Anh, Đức, Nhật Bản và Bắc Mỹ.&lt;/div&gt;&lt;/td&gt;&lt;td class='diff-marker'&gt;+&lt;/td&gt;&lt;td style=&quot;color: #202122; font-size: 88%; border-style: solid; border-width: 1px 1px 1px 4px; border-radius: 0.33em; border-color: #a3d3ff; vertical-align: top; white-space: pre-wrap;&quot;&gt;&lt;div&gt;Tuy nhiên, những năm 1960, ông phê phán mạnh mẽ và đòi chấm dứt chiến tranh của chính quyền Tổng thống Jonhson tại Việt Nam. Ông cho rằng Hoa Kỳ có rất ít lợi ích ở Việt Nam, lợi ích sống còn đối với Hoa &lt;ins class=&quot;diffchange diffchange-inline&quot;&gt;Kỳ &lt;/ins&gt;là ở Liên Xô, Anh, Đức, Nhật Bản và Bắc Mỹ.&lt;/div&gt;&lt;/td&gt;&lt;/tr&gt;
&lt;tr&gt;&lt;td class='diff-marker'&gt; &lt;/td&gt;&lt;td style=&quot;background-color: #f8f9fa; color: #202122; font-size: 88%; border-style: solid; border-width: 1px 1px 1px 4px; border-radius: 0.33em; border-color: #eaecf0; vertical-align: top; white-space: pre-wrap;&quot;&gt;&lt;/td&gt;&lt;td class='diff-marker'&gt; &lt;/td&gt;&lt;td style=&quot;background-color: #f8f9fa; color: #202122; font-size: 88%; border-style: solid; border-width: 1px 1px 1px 4px; border-radius: 0.33em; border-color: #eaecf0; vertical-align: top; white-space: pre-wrap;&quot;&gt;&lt;/td&gt;&lt;/tr&gt;
&lt;tr&gt;&lt;td class='diff-marker'&gt;−&lt;/td&gt;&lt;td style=&quot;color: #202122; font-size: 88%; border-style: solid; border-width: 1px 1px 1px 4px; border-radius: 0.33em; border-color: #ffe49c; vertical-align: top; white-space: pre-wrap;&quot;&gt;&lt;div&gt;Kennan cùng một lúc giành hai giảỉ thưởng Pulitzer Prizes and National Book Awards bởi các công trình Nước Nga rời chiến tranh (1956) và Hồi ký &lt;del class=&quot;diffchange diffchange-inline&quot;&gt;1925-1950 &lt;/del&gt;(1967). Ngoài ra, ông còn là tác giả các cuốn tự truyện khác trong đó Hồi ký:1950–1963 (1972), Phác họa từ một cuộc đời: (1989), và ở thời điểm kết thúc thế kỷ Hồi tưởng &lt;del class=&quot;diffchange diffchange-inline&quot;&gt;1982-1995 &lt;/del&gt;(1996). Ông còn được tặng thưởng Huy chương Tự do của Tổng thống năm 1989.&lt;/div&gt;&lt;/td&gt;&lt;td class='diff-marker'&gt;+&lt;/td&gt;&lt;td style=&quot;color: #202122; font-size: 88%; border-style: solid; border-width: 1px 1px 1px 4px; border-radius: 0.33em; border-color: #a3d3ff; vertical-align: top; white-space: pre-wrap;&quot;&gt;&lt;div&gt;Kennan cùng một lúc giành hai giảỉ thưởng Pulitzer Prizes and National Book Awards bởi các công trình Nước Nga rời chiến tranh (1956) và Hồi ký &lt;ins class=&quot;diffchange diffchange-inline&quot;&gt;1925–1950 &lt;/ins&gt;(1967). Ngoài ra, ông còn là tác giả các cuốn tự truyện khác trong đó Hồi ký: 1950–1963 (1972), Phác họa từ một cuộc đời: (1989), và ở thời điểm kết thúc thế kỷ Hồi tưởng &lt;ins class=&quot;diffchange diffchange-inline&quot;&gt;1982–1995 &lt;/ins&gt;(1996). Ông còn được tặng thưởng Huy chương Tự do của Tổng thống năm 1989.&lt;/div&gt;&lt;/td&gt;&lt;/tr&gt;
&lt;tr&gt;&lt;td class='diff-marker'&gt; &lt;/td&gt;&lt;td style=&quot;background-color: #f8f9fa; color: #202122; font-size: 88%; border-style: solid; border-width: 1px 1px 1px 4px; border-radius: 0.33em; border-color: #eaecf0; vertical-align: top; white-space: pre-wrap;&quot;&gt;&lt;/td&gt;&lt;td class='diff-marker'&gt; &lt;/td&gt;&lt;td style=&quot;background-color: #f8f9fa; color: #202122; font-size: 88%; border-style: solid; border-width: 1px 1px 1px 4px; border-radius: 0.33em; border-color: #eaecf0; vertical-align: top; white-space: pre-wrap;&quot;&gt;&lt;/td&gt;&lt;/tr&gt;
&lt;tr&gt;&lt;td class='diff-marker'&gt; &lt;/td&gt;&lt;td style=&quot;background-color: #f8f9fa; color: #202122; font-size: 88%; border-style: solid; border-width: 1px 1px 1px 4px; border-radius: 0.33em; border-color: #eaecf0; vertical-align: top; white-space: pre-wrap;&quot;&gt;&lt;div&gt;== Tham khảo ==&lt;/div&gt;&lt;/td&gt;&lt;td class='diff-marker'&gt; &lt;/td&gt;&lt;td style=&quot;background-color: #f8f9fa; color: #202122; font-size: 88%; border-style: solid; border-width: 1px 1px 1px 4px; border-radius: 0.33em; border-color: #eaecf0; vertical-align: top; white-space: pre-wrap;&quot;&gt;&lt;div&gt;== Tham khảo ==&lt;/div&gt;&lt;/td&gt;&lt;/tr&gt;

&lt;!-- diff cache key bktt:diff::1.12:old-19594:rev-19595 --&gt;
&lt;/table&gt;</summary>
		<author><name>Marrella</name></author>
	</entry>
	<entry>
		<id>https://bktt.vn/index.php?title=George_F._Kennan&amp;diff=19594&amp;oldid=prev</id>
		<title>Marrella vào lúc 08:07, ngày 14 tháng 7 năm 2022</title>
		<link rel="alternate" type="text/html" href="https://bktt.vn/index.php?title=George_F._Kennan&amp;diff=19594&amp;oldid=prev"/>
		<updated>2022-07-14T08:07:45Z</updated>

		<summary type="html">&lt;p&gt;&lt;/p&gt;
&lt;table class=&quot;diff diff-contentalign-left diff-editfont-monospace&quot; data-mw=&quot;interface&quot;&gt;
				&lt;col class=&quot;diff-marker&quot; /&gt;
				&lt;col class=&quot;diff-content&quot; /&gt;
				&lt;col class=&quot;diff-marker&quot; /&gt;
				&lt;col class=&quot;diff-content&quot; /&gt;
				&lt;tr class=&quot;diff-title&quot; lang=&quot;vi&quot;&gt;
				&lt;td colspan=&quot;2&quot; style=&quot;background-color: #fff; color: #202122; text-align: center;&quot;&gt;← Phiên bản cũ&lt;/td&gt;
				&lt;td colspan=&quot;2&quot; style=&quot;background-color: #fff; color: #202122; text-align: center;&quot;&gt;Phiên bản lúc 08:07, ngày 14 tháng 7 năm 2022&lt;/td&gt;
				&lt;/tr&gt;&lt;tr&gt;&lt;td colspan=&quot;2&quot; class=&quot;diff-lineno&quot; id=&quot;mw-diff-left-l7&quot; &gt;Dòng 7:&lt;/td&gt;
&lt;td colspan=&quot;2&quot; class=&quot;diff-lineno&quot;&gt;Dòng 7:&lt;/td&gt;&lt;/tr&gt;
&lt;tr&gt;&lt;td class='diff-marker'&gt; &lt;/td&gt;&lt;td style=&quot;background-color: #f8f9fa; color: #202122; font-size: 88%; border-style: solid; border-width: 1px 1px 1px 4px; border-radius: 0.33em; border-color: #eaecf0; vertical-align: top; white-space: pre-wrap;&quot;&gt;&lt;div&gt;Trong bối cảnh mâu thuẫn Xô – Mỹ trở nên gay gắt, bằng ba văn kiện quan trọng: một bức điện dài 8.000 chữ (tháng 2.1946, khi là Đại biện lâm thời tại Liên Xô) và hai bài báo ký tên X trên tạp chí Các vấn đề đối ngoại vào 7.1947 và 4.1951, Kennan đã kiến nghị chiến lược “kiềm chế chủ nghĩa cộng sản”. Nội dung: 1) Liên Xô âm mưu mở rộng quyền lực ở châu Âu và các nơi khác bằng cách kiên trì gây sức ép nhằm làm suy yếu sức mạnh và ảnh hưởng của đối phương; 2) Liên Xô yếu hơn phương Tây và tương lai của quyền lực Liên Xô không có gì đảm bảo; 3) Nên tiến hành một chính sách kiềm chế kiên quyết chủ yếu bằng biện pháp kinh tế, chính trị và đặc biệt là chứng minh sự tốt đẹp của xã hội Hoa Kỳ buộc Liên Xô phải đối phó với các thế lực chống đối tại các khu vực mà họ âm mưu xâm phạm quyền lợi của phương Tây. Đồng thời, cần kiên nhẫn khuyến khích các thế lực cải cách chính tại Liên Xô tác động đến chính sách đối nội và đối ngoại của nước này.&lt;/div&gt;&lt;/td&gt;&lt;td class='diff-marker'&gt; &lt;/td&gt;&lt;td style=&quot;background-color: #f8f9fa; color: #202122; font-size: 88%; border-style: solid; border-width: 1px 1px 1px 4px; border-radius: 0.33em; border-color: #eaecf0; vertical-align: top; white-space: pre-wrap;&quot;&gt;&lt;div&gt;Trong bối cảnh mâu thuẫn Xô – Mỹ trở nên gay gắt, bằng ba văn kiện quan trọng: một bức điện dài 8.000 chữ (tháng 2.1946, khi là Đại biện lâm thời tại Liên Xô) và hai bài báo ký tên X trên tạp chí Các vấn đề đối ngoại vào 7.1947 và 4.1951, Kennan đã kiến nghị chiến lược “kiềm chế chủ nghĩa cộng sản”. Nội dung: 1) Liên Xô âm mưu mở rộng quyền lực ở châu Âu và các nơi khác bằng cách kiên trì gây sức ép nhằm làm suy yếu sức mạnh và ảnh hưởng của đối phương; 2) Liên Xô yếu hơn phương Tây và tương lai của quyền lực Liên Xô không có gì đảm bảo; 3) Nên tiến hành một chính sách kiềm chế kiên quyết chủ yếu bằng biện pháp kinh tế, chính trị và đặc biệt là chứng minh sự tốt đẹp của xã hội Hoa Kỳ buộc Liên Xô phải đối phó với các thế lực chống đối tại các khu vực mà họ âm mưu xâm phạm quyền lợi của phương Tây. Đồng thời, cần kiên nhẫn khuyến khích các thế lực cải cách chính tại Liên Xô tác động đến chính sách đối nội và đối ngoại của nước này.&lt;/div&gt;&lt;/td&gt;&lt;/tr&gt;
&lt;tr&gt;&lt;td class='diff-marker'&gt; &lt;/td&gt;&lt;td style=&quot;background-color: #f8f9fa; color: #202122; font-size: 88%; border-style: solid; border-width: 1px 1px 1px 4px; border-radius: 0.33em; border-color: #eaecf0; vertical-align: top; white-space: pre-wrap;&quot;&gt;&lt;/td&gt;&lt;td class='diff-marker'&gt; &lt;/td&gt;&lt;td style=&quot;background-color: #f8f9fa; color: #202122; font-size: 88%; border-style: solid; border-width: 1px 1px 1px 4px; border-radius: 0.33em; border-color: #eaecf0; vertical-align: top; white-space: pre-wrap;&quot;&gt;&lt;/td&gt;&lt;/tr&gt;
&lt;tr&gt;&lt;td class='diff-marker'&gt;−&lt;/td&gt;&lt;td style=&quot;color: #202122; font-size: 88%; border-style: solid; border-width: 1px 1px 1px 4px; border-radius: 0.33em; border-color: #ffe49c; vertical-align: top; white-space: pre-wrap;&quot;&gt;&lt;div&gt;&lt;del class=&quot;diffchange diffchange-inline&quot;&gt;Khi &lt;/del&gt;làm Vụ &lt;del class=&quot;diffchange diffchange-inline&quot;&gt;trưởng &lt;/del&gt;Vụ Hoạch định chính sách của Bộ Ngoại giao (1947-1949), Kennan đã vận dụng học thuyết trên vào kế hoạch Marshall và chương trình phục hồi nước Nhật, đặc biệt lợi dụng mâu thuẫn giữa Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa khác&lt;del class=&quot;diffchange diffchange-inline&quot;&gt;.&lt;/del&gt;&lt;/div&gt;&lt;/td&gt;&lt;td class='diff-marker'&gt;+&lt;/td&gt;&lt;td style=&quot;color: #202122; font-size: 88%; border-style: solid; border-width: 1px 1px 1px 4px; border-radius: 0.33em; border-color: #a3d3ff; vertical-align: top; white-space: pre-wrap;&quot;&gt;&lt;div&gt;&lt;ins class=&quot;diffchange diffchange-inline&quot;&gt;Cuối năm 1946, ông trở về Washington được bổ nhiệm &lt;/ins&gt;làm Vụ &lt;ins class=&quot;diffchange diffchange-inline&quot;&gt;Trưởng &lt;/ins&gt;Vụ Hoạch định chính sách&lt;ins class=&quot;diffchange diffchange-inline&quot;&gt;, &lt;/ins&gt;của Bộ Ngoại giao&lt;ins class=&quot;diffchange diffchange-inline&quot;&gt;. Thời gian làm Vụ trưởng &lt;/ins&gt;(1947-1949), Kennan đã vận dụng học thuyết trên vào kế hoạch Marshall và chương trình phục hồi nước Nhật, đặc biệt lợi dụng mâu thuẫn giữa Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa khác. Năm 1949, ông thôi chức Vụ trưởng Vụ Hoạch định chính sách và được bổ nhiệm làm Cố vấn Bộ Ngoại giao. Ngay sau đó ông từ chức và chuyển sang tham gia công tác nghiên cứu, giảng dậy tại Viện Nghiên cứu cấp cao ở Princeton. Năm 1952, ông được bổ nhiệm Đại sứ Hoa Kỳ tại Liên Xô, song bị Liên Xô coi là nhân vật không được hoan nghênh vì phê phán thái độ của Liên Xô đối với các nhà ngoại giao Phương Tây. Năm 1953, ông trở về Washington và bị Ngoại trưởng Dulles gạt khỏi Bộ Ngoại giao. Sau đó, ông chuyển đến làm việc tại Viện nghiên cao cấp Princeton và thường điều trần tại Quốc hội Hoa Kỳ về lịch sử, chính sách ngoại giao. Năm 1961- 1963, ông lại được Tổng thống Hoa Kỳ cử làm Đại sứ của Hoa Kỳ tại Nam Tư.&lt;/div&gt;&lt;/td&gt;&lt;/tr&gt;
&lt;tr&gt;&lt;td class='diff-marker'&gt;−&lt;/td&gt;&lt;td style=&quot;color: #202122; font-size: 88%; border-style: solid; border-width: 1px 1px 1px 4px; border-radius: 0.33em; border-color: #ffe49c; vertical-align: top; white-space: pre-wrap;&quot;&gt;&lt;div&gt; &lt;/div&gt;&lt;/td&gt;&lt;td colspan=&quot;2&quot;&gt; &lt;/td&gt;&lt;/tr&gt;
&lt;tr&gt;&lt;td class='diff-marker'&gt;−&lt;/td&gt;&lt;td style=&quot;color: #202122; font-size: 88%; border-style: solid; border-width: 1px 1px 1px 4px; border-radius: 0.33em; border-color: #ffe49c; vertical-align: top; white-space: pre-wrap;&quot;&gt;&lt;div&gt;&lt;del class=&quot;diffchange diffchange-inline&quot;&gt;Cuối năm 1946, ông trở về Washington được bổ nhiệm làm Vụ Trưởng Vụ Hoạch định chính sách, của Bộ Ngoại giao&lt;/del&gt;. Năm 1949, ông thôi chức Vụ trưởng Vụ Hoạch định chính sách và được bổ nhiệm làm Cố vấn Bộ Ngoại giao. Ngay sau đó ông từ chức và chuyển sang tham gia công tác nghiên cứu, giảng dậy tại Viện Nghiên cứu cấp cao ở Princeton. Năm 1952, ông được bổ nhiệm Đại sứ Hoa Kỳ tại Liên Xô, song bị Liên Xô coi là nhân vật không được hoan nghênh vì phê phán thái độ của Liên Xô đối với các nhà ngoại giao Phương Tây. Năm 1953, ông trở về Washington và bị Ngoại trưởng Dulles gạt khỏi Bộ Ngoại giao. Sau đó, ông chuyển đến làm việc tại Viện nghiên cao cấp Princeton và thường điều trần tại Quốc hội Hoa Kỳ về lịch sử, chính sách ngoại giao. Năm 1961- 1963, ông lại được Tổng thống Hoa Kỳ cử làm Đại sứ của Hoa Kỳ tại Nam Tư.&lt;/div&gt;&lt;/td&gt;&lt;td colspan=&quot;2&quot;&gt; &lt;/td&gt;&lt;/tr&gt;
&lt;tr&gt;&lt;td class='diff-marker'&gt; &lt;/td&gt;&lt;td style=&quot;background-color: #f8f9fa; color: #202122; font-size: 88%; border-style: solid; border-width: 1px 1px 1px 4px; border-radius: 0.33em; border-color: #eaecf0; vertical-align: top; white-space: pre-wrap;&quot;&gt;&lt;/td&gt;&lt;td class='diff-marker'&gt; &lt;/td&gt;&lt;td style=&quot;background-color: #f8f9fa; color: #202122; font-size: 88%; border-style: solid; border-width: 1px 1px 1px 4px; border-radius: 0.33em; border-color: #eaecf0; vertical-align: top; white-space: pre-wrap;&quot;&gt;&lt;/td&gt;&lt;/tr&gt;
&lt;tr&gt;&lt;td class='diff-marker'&gt; &lt;/td&gt;&lt;td style=&quot;background-color: #f8f9fa; color: #202122; font-size: 88%; border-style: solid; border-width: 1px 1px 1px 4px; border-radius: 0.33em; border-color: #eaecf0; vertical-align: top; white-space: pre-wrap;&quot;&gt;&lt;div&gt;Quan điểm nền tảng của ông là chủ nghĩa hiện thực chính trị. Từ cuối những năm 1950 thế kỷ XX, ông đã xem xét lại quan điển của mình về ngăn chặn chủ nghĩa cộng sản. Ông bảo vệ chương trình không can thiệp của Hoa Kỳ vào những khu vực xung đột với Liên Xô. Ông cho rằng, kiệt quệ do chiến tranh, nên Liên Xô không đe dọa quân sự đối với Hoa Kỳ và đồng minh của Hoa Kỳ. Theo ông, sức mạnh quân sự có giới hạn của nó, về chính trị không nên quá nhấn mạnh sức mạnh quân sự và sao nhãng các khía cạnh quyền lực khác, chạy đua vũ trang không kiềm chế là nguy hiểm.  Ông kiên quyết khẳng định từ bỏ học thuyết ngăn chặn và cho rằng điều đó chỉ phù hợp với hoàn cảnh khác, tại khu vực nào đó của thế giới, ví dụ Việt Nam.&lt;/div&gt;&lt;/td&gt;&lt;td class='diff-marker'&gt; &lt;/td&gt;&lt;td style=&quot;background-color: #f8f9fa; color: #202122; font-size: 88%; border-style: solid; border-width: 1px 1px 1px 4px; border-radius: 0.33em; border-color: #eaecf0; vertical-align: top; white-space: pre-wrap;&quot;&gt;&lt;div&gt;Quan điểm nền tảng của ông là chủ nghĩa hiện thực chính trị. Từ cuối những năm 1950 thế kỷ XX, ông đã xem xét lại quan điển của mình về ngăn chặn chủ nghĩa cộng sản. Ông bảo vệ chương trình không can thiệp của Hoa Kỳ vào những khu vực xung đột với Liên Xô. Ông cho rằng, kiệt quệ do chiến tranh, nên Liên Xô không đe dọa quân sự đối với Hoa Kỳ và đồng minh của Hoa Kỳ. Theo ông, sức mạnh quân sự có giới hạn của nó, về chính trị không nên quá nhấn mạnh sức mạnh quân sự và sao nhãng các khía cạnh quyền lực khác, chạy đua vũ trang không kiềm chế là nguy hiểm.  Ông kiên quyết khẳng định từ bỏ học thuyết ngăn chặn và cho rằng điều đó chỉ phù hợp với hoàn cảnh khác, tại khu vực nào đó của thế giới, ví dụ Việt Nam.&lt;/div&gt;&lt;/td&gt;&lt;/tr&gt;

&lt;!-- diff cache key bktt:diff::1.12:old-19593:rev-19594 --&gt;
&lt;/table&gt;</summary>
		<author><name>Marrella</name></author>
	</entry>
	<entry>
		<id>https://bktt.vn/index.php?title=George_F._Kennan&amp;diff=19593&amp;oldid=prev</id>
		<title>Marrella vào lúc 08:06, ngày 14 tháng 7 năm 2022</title>
		<link rel="alternate" type="text/html" href="https://bktt.vn/index.php?title=George_F._Kennan&amp;diff=19593&amp;oldid=prev"/>
		<updated>2022-07-14T08:06:32Z</updated>

		<summary type="html">&lt;p&gt;&lt;/p&gt;
&lt;table class=&quot;diff diff-contentalign-left diff-editfont-monospace&quot; data-mw=&quot;interface&quot;&gt;
				&lt;col class=&quot;diff-marker&quot; /&gt;
				&lt;col class=&quot;diff-content&quot; /&gt;
				&lt;col class=&quot;diff-marker&quot; /&gt;
				&lt;col class=&quot;diff-content&quot; /&gt;
				&lt;tr class=&quot;diff-title&quot; lang=&quot;vi&quot;&gt;
				&lt;td colspan=&quot;2&quot; style=&quot;background-color: #fff; color: #202122; text-align: center;&quot;&gt;← Phiên bản cũ&lt;/td&gt;
				&lt;td colspan=&quot;2&quot; style=&quot;background-color: #fff; color: #202122; text-align: center;&quot;&gt;Phiên bản lúc 08:06, ngày 14 tháng 7 năm 2022&lt;/td&gt;
				&lt;/tr&gt;&lt;tr&gt;&lt;td colspan=&quot;2&quot; class=&quot;diff-lineno&quot; id=&quot;mw-diff-left-l3&quot; &gt;Dòng 3:&lt;/td&gt;
&lt;td colspan=&quot;2&quot; class=&quot;diff-lineno&quot;&gt;Dòng 3:&lt;/td&gt;&lt;/tr&gt;
&lt;tr&gt;&lt;td class='diff-marker'&gt; &lt;/td&gt;&lt;td style=&quot;background-color: #f8f9fa; color: #202122; font-size: 88%; border-style: solid; border-width: 1px 1px 1px 4px; border-radius: 0.33em; border-color: #eaecf0; vertical-align: top; white-space: pre-wrap;&quot;&gt;&lt;div&gt;'''George Frost Kennan''' (16 tháng 2 năm 1904 – 17 tháng 3 năm 2005) là một nhà ngoại giao và sử học Hoa Kỳ.&amp;lt;ref name=&amp;quot;Pelz&amp;quot;&amp;gt;{{cite journal | last1 = Pelz | first1 = Stephen | last2 = Miscamble | first2 = Wilson D. | title = The Sorrows of George F. Kennan | journal = Reviews in American History | date = December 1994 | volume = 22 | issue = 4 | page = 711 | doi = 10.2307/2702824 | jstor = 2702824 | s2cid = 56610397}}&amp;lt;/ref&amp;gt; Ông được biết đến nhiều nhất với tư cách tác giả của [[Bức điện Dài]] gửi về từ Moskva vào ngày 22 tháng 2 năm 1946 và [[Bài viết X]] đăng trên tạp chí ''[[Foreign Affairs]]'' tháng 7 năm 1947.&amp;lt;ref name=&amp;quot;Iatrides&amp;quot;&amp;gt;{{cite journal | last1 = Iatrides | first1 = John O. | title = George F. Kennan and the Birth of Containment: The Greek Test Case | journal = World Policy Journal | date = 1 September 2005 | volume = 22 | issue = 3 | pages = 126–145 | doi = 10.1215/07402775-2005-4005 | jstor = 40209983 | s2cid = 96486375}}&amp;lt;/ref&amp;gt; Trong đó, Kennan đề xuất yếu tố chủ chốt trong chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ với Liên Xô là &amp;quot;ngăn chặn xu hướng bành trướng lâu dài theo hướng nhẫn nại nhưng kiên quyết và cảnh giác&amp;quot;.&amp;lt;ref name=&amp;quot;Robert&amp;quot;&amp;gt;{{cite journal | last1 = Tucker | first1 = Robert C. | title = The Long Telegram: An Act of Political Leadership | journal = The Princeton University Library Chronicle | date = 2005 | volume = 66 | issue = 2 | page = 295 | doi = 10.25290/prinunivlibrchro.66.2.0295 | s2cid = 158575214 | doi-access = free}}&amp;lt;/ref&amp;gt; Qua đó, Kennan được xem như nhà sáng lập của một chiến lược đối ngoại đã chi phối nhận thức và hành động của chính phủ Hoa Kỳ suốt gần 50 năm.&amp;lt;ref name=&amp;quot;Iatrides&amp;quot;/&amp;gt; Tuy nhiên, các học giả tranh luận về tầm ảnh hưởng của Kennan còn bản thân Kennan thì hạ thấp vai trò của mình.&amp;lt;ref name=&amp;quot;Pelz&amp;quot;/&amp;gt;&lt;/div&gt;&lt;/td&gt;&lt;td class='diff-marker'&gt; &lt;/td&gt;&lt;td style=&quot;background-color: #f8f9fa; color: #202122; font-size: 88%; border-style: solid; border-width: 1px 1px 1px 4px; border-radius: 0.33em; border-color: #eaecf0; vertical-align: top; white-space: pre-wrap;&quot;&gt;&lt;div&gt;'''George Frost Kennan''' (16 tháng 2 năm 1904 – 17 tháng 3 năm 2005) là một nhà ngoại giao và sử học Hoa Kỳ.&amp;lt;ref name=&amp;quot;Pelz&amp;quot;&amp;gt;{{cite journal | last1 = Pelz | first1 = Stephen | last2 = Miscamble | first2 = Wilson D. | title = The Sorrows of George F. Kennan | journal = Reviews in American History | date = December 1994 | volume = 22 | issue = 4 | page = 711 | doi = 10.2307/2702824 | jstor = 2702824 | s2cid = 56610397}}&amp;lt;/ref&amp;gt; Ông được biết đến nhiều nhất với tư cách tác giả của [[Bức điện Dài]] gửi về từ Moskva vào ngày 22 tháng 2 năm 1946 và [[Bài viết X]] đăng trên tạp chí ''[[Foreign Affairs]]'' tháng 7 năm 1947.&amp;lt;ref name=&amp;quot;Iatrides&amp;quot;&amp;gt;{{cite journal | last1 = Iatrides | first1 = John O. | title = George F. Kennan and the Birth of Containment: The Greek Test Case | journal = World Policy Journal | date = 1 September 2005 | volume = 22 | issue = 3 | pages = 126–145 | doi = 10.1215/07402775-2005-4005 | jstor = 40209983 | s2cid = 96486375}}&amp;lt;/ref&amp;gt; Trong đó, Kennan đề xuất yếu tố chủ chốt trong chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ với Liên Xô là &amp;quot;ngăn chặn xu hướng bành trướng lâu dài theo hướng nhẫn nại nhưng kiên quyết và cảnh giác&amp;quot;.&amp;lt;ref name=&amp;quot;Robert&amp;quot;&amp;gt;{{cite journal | last1 = Tucker | first1 = Robert C. | title = The Long Telegram: An Act of Political Leadership | journal = The Princeton University Library Chronicle | date = 2005 | volume = 66 | issue = 2 | page = 295 | doi = 10.25290/prinunivlibrchro.66.2.0295 | s2cid = 158575214 | doi-access = free}}&amp;lt;/ref&amp;gt; Qua đó, Kennan được xem như nhà sáng lập của một chiến lược đối ngoại đã chi phối nhận thức và hành động của chính phủ Hoa Kỳ suốt gần 50 năm.&amp;lt;ref name=&amp;quot;Iatrides&amp;quot;/&amp;gt; Tuy nhiên, các học giả tranh luận về tầm ảnh hưởng của Kennan còn bản thân Kennan thì hạ thấp vai trò của mình.&amp;lt;ref name=&amp;quot;Pelz&amp;quot;/&amp;gt;&lt;/div&gt;&lt;/td&gt;&lt;/tr&gt;
&lt;tr&gt;&lt;td class='diff-marker'&gt; &lt;/td&gt;&lt;td style=&quot;background-color: #f8f9fa; color: #202122; font-size: 88%; border-style: solid; border-width: 1px 1px 1px 4px; border-radius: 0.33em; border-color: #eaecf0; vertical-align: top; white-space: pre-wrap;&quot;&gt;&lt;/td&gt;&lt;td class='diff-marker'&gt; &lt;/td&gt;&lt;td style=&quot;background-color: #f8f9fa; color: #202122; font-size: 88%; border-style: solid; border-width: 1px 1px 1px 4px; border-radius: 0.33em; border-color: #eaecf0; vertical-align: top; white-space: pre-wrap;&quot;&gt;&lt;/td&gt;&lt;/tr&gt;
&lt;tr&gt;&lt;td class='diff-marker'&gt;−&lt;/td&gt;&lt;td style=&quot;color: #202122; font-size: 88%; border-style: solid; border-width: 1px 1px 1px 4px; border-radius: 0.33em; border-color: #ffe49c; vertical-align: top; white-space: pre-wrap;&quot;&gt;&lt;div&gt;George Frost Kennan sinh ngày 16 tháng 2 năm 1904 ở [[Milwaukee]], [[Wincosin]], là con út trong gia đình có bốn người con.&amp;lt;ref name=&amp;quot;Linke&amp;quot;&amp;gt;{{cite journal | last1 = Linke | first1 = Daniel J. | last2 = Weeren | first2 =  ohn S. | title = The Life and Times of George F. Kennan, 1904–2005: A Centennial Retrospective | journal = The Princeton University Library Chronicle | date = 2005 | volume = 66 | issue = 2 | page = 265 | doi = 10.25290/prinunivlibrchro.66.2.0265 | s2cid = 165550128 | doi-access = free}}&amp;lt;/ref&amp;gt;{{sfn|Mayers|1990|p=17}} Ông từng học tại [[Học viện Quân sự St. John]] từ năm 1917 đến 1921 rồi &lt;del class=&quot;diffchange diffchange-inline&quot;&gt;đến &lt;/del&gt;[[Đại học Princeton]] từ 1921 đến 1925.{{sfn|Mayers|1990|p=xiii (chronology)}} Sau đó ông gia nhập Sở Ngoại giao mới thành lập, nắm giữ một vài chức vụ nhỏ ở châu Âu trước khi đến Đức và nghiên cứu về Liên Xô tại Đại học Berlin trong những năm 1929–1931.&amp;lt;ref name=&amp;quot;Linke&amp;quot;/&amp;gt;&amp;lt;ref name=&amp;quot;Stanke&amp;quot;&amp;gt;{{citation | last1 = Stanke | first1 = Jaclyn | title = Kennan, George (1905-2005) | date = 3 May 2018 | pages = 1–4 | publisher = John Wiley &amp;amp; Sons, Ltd | doi = 10.1002/9781118885154.dipl0438}}&amp;lt;/ref&amp;gt; Cuối năm 1933, Kennan được cử sang công tác tại đại sứ quán Hoa Kỳ ở Moskva cùng [[William Bullitt]], đại sứ Hoa Kỳ đầu tiên tại Liên Xô.{{sfn|Lukacs|2007|p=34}} Kennan trở lại Hoa Kỳ năm 1937 rồi tiếp tục đến Viên, Praha, và Berlin lúc [[Thế chiến II]] bùng nổ năm 1939.&amp;lt;ref name=&amp;quot;Stanke&amp;quot;/&amp;gt; Sau khi Hoa Kỳ tham chiến, ông đã bị Đức Quốc xã giam cầm trong 5 tháng ở [[Bad Nauheim]].{{sfn|Mayers|1990|p=xiii (chronology)}}{{sfn|Lukacs|2007|p=50}} &lt;del class=&quot;diffchange diffchange-inline&quot;&gt;Cuối năm 1946&lt;/del&gt;, &lt;del class=&quot;diffchange diffchange-inline&quot;&gt;ông trở về Washington được bổ &lt;/del&gt;nhiệm &lt;del class=&quot;diffchange diffchange-inline&quot;&gt;làm Vụ Trưởng Vụ Hoạch định chính sách, của Bộ Ngoại giao&lt;/del&gt;.&lt;/div&gt;&lt;/td&gt;&lt;td class='diff-marker'&gt;+&lt;/td&gt;&lt;td style=&quot;color: #202122; font-size: 88%; border-style: solid; border-width: 1px 1px 1px 4px; border-radius: 0.33em; border-color: #a3d3ff; vertical-align: top; white-space: pre-wrap;&quot;&gt;&lt;div&gt;George Frost Kennan sinh ngày 16 tháng 2 năm 1904 ở [[Milwaukee]], [[Wincosin]], là con út trong gia đình có bốn người con.&amp;lt;ref name=&amp;quot;Linke&amp;quot;&amp;gt;{{cite journal | last1 = Linke | first1 = Daniel J. | last2 = Weeren | first2 =  ohn S. | title = The Life and Times of George F. Kennan, 1904–2005: A Centennial Retrospective | journal = The Princeton University Library Chronicle | date = 2005 | volume = 66 | issue = 2 | page = 265 | doi = 10.25290/prinunivlibrchro.66.2.0265 | s2cid = 165550128 | doi-access = free}}&amp;lt;/ref&amp;gt;{{sfn|Mayers|1990|p=17}} Ông từng học tại [[Học viện Quân sự St. John]] từ năm 1917 đến 1921 rồi [[Đại học Princeton]] từ 1921 đến 1925.{{sfn|Mayers|1990|p=xiii (chronology)}} Sau đó ông gia nhập Sở Ngoại giao mới thành lập, nắm giữ một vài chức vụ nhỏ ở châu Âu trước khi đến Đức và nghiên cứu về Liên Xô tại Đại học Berlin trong những năm 1929–1931.&amp;lt;ref name=&amp;quot;Linke&amp;quot;/&amp;gt;&amp;lt;ref name=&amp;quot;Stanke&amp;quot;&amp;gt;{{citation | last1 = Stanke | first1 = Jaclyn | title = Kennan, George (1905-2005) | date = 3 May 2018 | pages = 1–4 | publisher = John Wiley &amp;amp; Sons, Ltd | doi = 10.1002/9781118885154.dipl0438}}&amp;lt;/ref&amp;gt; Cuối năm 1933, Kennan được cử sang công tác tại đại sứ quán Hoa Kỳ ở Moskva cùng [[William Bullitt]], đại sứ Hoa Kỳ đầu tiên tại Liên Xô.{{sfn|Lukacs|2007|p=34}} Kennan trở lại Hoa Kỳ năm 1937 rồi tiếp tục đến Viên, Praha, và Berlin lúc [[Thế chiến II]] bùng nổ năm 1939.&amp;lt;ref name=&amp;quot;Stanke&amp;quot;/&amp;gt; Sau khi Hoa Kỳ tham chiến, ông đã bị Đức Quốc xã giam cầm trong 5 tháng ở [[Bad Nauheim]].{{sfn|Mayers|1990|p=xiii (chronology)}}{{sfn|Lukacs|2007|p=50}} &lt;ins class=&quot;diffchange diffchange-inline&quot;&gt;Giai đoạn 1944–1946&lt;/ins&gt;, &lt;ins class=&quot;diffchange diffchange-inline&quot;&gt;Kennan có &lt;/ins&gt;nhiệm &lt;ins class=&quot;diffchange diffchange-inline&quot;&gt;kỳ công tác thứ hai ở Moskva&lt;/ins&gt;.&lt;ins class=&quot;diffchange diffchange-inline&quot;&gt;{{sfn|Mayers|1990|p=86}}&lt;/ins&gt;&lt;/div&gt;&lt;/td&gt;&lt;/tr&gt;
&lt;tr&gt;&lt;td class='diff-marker'&gt; &lt;/td&gt;&lt;td style=&quot;background-color: #f8f9fa; color: #202122; font-size: 88%; border-style: solid; border-width: 1px 1px 1px 4px; border-radius: 0.33em; border-color: #eaecf0; vertical-align: top; white-space: pre-wrap;&quot;&gt;&lt;/td&gt;&lt;td class='diff-marker'&gt; &lt;/td&gt;&lt;td style=&quot;background-color: #f8f9fa; color: #202122; font-size: 88%; border-style: solid; border-width: 1px 1px 1px 4px; border-radius: 0.33em; border-color: #eaecf0; vertical-align: top; white-space: pre-wrap;&quot;&gt;&lt;/td&gt;&lt;/tr&gt;
&lt;tr&gt;&lt;td class='diff-marker'&gt; &lt;/td&gt;&lt;td style=&quot;background-color: #f8f9fa; color: #202122; font-size: 88%; border-style: solid; border-width: 1px 1px 1px 4px; border-radius: 0.33em; border-color: #eaecf0; vertical-align: top; white-space: pre-wrap;&quot;&gt;&lt;div&gt;Trong bối cảnh mâu thuẫn Xô – Mỹ trở nên gay gắt, bằng ba văn kiện quan trọng: một bức điện dài 8.000 chữ (tháng 2.1946, khi là Đại biện lâm thời tại Liên Xô) và hai bài báo ký tên X trên tạp chí Các vấn đề đối ngoại vào 7.1947 và 4.1951, Kennan đã kiến nghị chiến lược “kiềm chế chủ nghĩa cộng sản”. Nội dung: 1) Liên Xô âm mưu mở rộng quyền lực ở châu Âu và các nơi khác bằng cách kiên trì gây sức ép nhằm làm suy yếu sức mạnh và ảnh hưởng của đối phương; 2) Liên Xô yếu hơn phương Tây và tương lai của quyền lực Liên Xô không có gì đảm bảo; 3) Nên tiến hành một chính sách kiềm chế kiên quyết chủ yếu bằng biện pháp kinh tế, chính trị và đặc biệt là chứng minh sự tốt đẹp của xã hội Hoa Kỳ buộc Liên Xô phải đối phó với các thế lực chống đối tại các khu vực mà họ âm mưu xâm phạm quyền lợi của phương Tây. Đồng thời, cần kiên nhẫn khuyến khích các thế lực cải cách chính tại Liên Xô tác động đến chính sách đối nội và đối ngoại của nước này.&lt;/div&gt;&lt;/td&gt;&lt;td class='diff-marker'&gt; &lt;/td&gt;&lt;td style=&quot;background-color: #f8f9fa; color: #202122; font-size: 88%; border-style: solid; border-width: 1px 1px 1px 4px; border-radius: 0.33em; border-color: #eaecf0; vertical-align: top; white-space: pre-wrap;&quot;&gt;&lt;div&gt;Trong bối cảnh mâu thuẫn Xô – Mỹ trở nên gay gắt, bằng ba văn kiện quan trọng: một bức điện dài 8.000 chữ (tháng 2.1946, khi là Đại biện lâm thời tại Liên Xô) và hai bài báo ký tên X trên tạp chí Các vấn đề đối ngoại vào 7.1947 và 4.1951, Kennan đã kiến nghị chiến lược “kiềm chế chủ nghĩa cộng sản”. Nội dung: 1) Liên Xô âm mưu mở rộng quyền lực ở châu Âu và các nơi khác bằng cách kiên trì gây sức ép nhằm làm suy yếu sức mạnh và ảnh hưởng của đối phương; 2) Liên Xô yếu hơn phương Tây và tương lai của quyền lực Liên Xô không có gì đảm bảo; 3) Nên tiến hành một chính sách kiềm chế kiên quyết chủ yếu bằng biện pháp kinh tế, chính trị và đặc biệt là chứng minh sự tốt đẹp của xã hội Hoa Kỳ buộc Liên Xô phải đối phó với các thế lực chống đối tại các khu vực mà họ âm mưu xâm phạm quyền lợi của phương Tây. Đồng thời, cần kiên nhẫn khuyến khích các thế lực cải cách chính tại Liên Xô tác động đến chính sách đối nội và đối ngoại của nước này.&lt;/div&gt;&lt;/td&gt;&lt;/tr&gt;
&lt;tr&gt;&lt;td colspan=&quot;2&quot; class=&quot;diff-lineno&quot; id=&quot;mw-diff-left-l9&quot; &gt;Dòng 9:&lt;/td&gt;
&lt;td colspan=&quot;2&quot; class=&quot;diff-lineno&quot;&gt;Dòng 9:&lt;/td&gt;&lt;/tr&gt;
&lt;tr&gt;&lt;td class='diff-marker'&gt; &lt;/td&gt;&lt;td style=&quot;background-color: #f8f9fa; color: #202122; font-size: 88%; border-style: solid; border-width: 1px 1px 1px 4px; border-radius: 0.33em; border-color: #eaecf0; vertical-align: top; white-space: pre-wrap;&quot;&gt;&lt;div&gt;Khi làm Vụ trưởng Vụ Hoạch định chính sách của Bộ Ngoại giao (1947-1949), Kennan đã vận dụng học thuyết trên vào kế hoạch Marshall và chương trình phục hồi nước Nhật, đặc biệt lợi dụng mâu thuẫn giữa Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa khác.&lt;/div&gt;&lt;/td&gt;&lt;td class='diff-marker'&gt; &lt;/td&gt;&lt;td style=&quot;background-color: #f8f9fa; color: #202122; font-size: 88%; border-style: solid; border-width: 1px 1px 1px 4px; border-radius: 0.33em; border-color: #eaecf0; vertical-align: top; white-space: pre-wrap;&quot;&gt;&lt;div&gt;Khi làm Vụ trưởng Vụ Hoạch định chính sách của Bộ Ngoại giao (1947-1949), Kennan đã vận dụng học thuyết trên vào kế hoạch Marshall và chương trình phục hồi nước Nhật, đặc biệt lợi dụng mâu thuẫn giữa Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa khác.&lt;/div&gt;&lt;/td&gt;&lt;/tr&gt;
&lt;tr&gt;&lt;td class='diff-marker'&gt; &lt;/td&gt;&lt;td style=&quot;background-color: #f8f9fa; color: #202122; font-size: 88%; border-style: solid; border-width: 1px 1px 1px 4px; border-radius: 0.33em; border-color: #eaecf0; vertical-align: top; white-space: pre-wrap;&quot;&gt;&lt;/td&gt;&lt;td class='diff-marker'&gt; &lt;/td&gt;&lt;td style=&quot;background-color: #f8f9fa; color: #202122; font-size: 88%; border-style: solid; border-width: 1px 1px 1px 4px; border-radius: 0.33em; border-color: #eaecf0; vertical-align: top; white-space: pre-wrap;&quot;&gt;&lt;/td&gt;&lt;/tr&gt;
&lt;tr&gt;&lt;td class='diff-marker'&gt;−&lt;/td&gt;&lt;td style=&quot;color: #202122; font-size: 88%; border-style: solid; border-width: 1px 1px 1px 4px; border-radius: 0.33em; border-color: #ffe49c; vertical-align: top; white-space: pre-wrap;&quot;&gt;&lt;div&gt;Năm 1949, ông thôi chức Vụ trưởng Vụ Hoạch định chính sách và được bổ nhiệm làm Cố vấn Bộ Ngoại giao. Ngay sau đó ông từ chức và chuyển sang tham gia công tác nghiên cứu, giảng dậy tại Viện Nghiên cứu cấp cao ở Princeton. Năm 1952, ông được bổ nhiệm Đại sứ Hoa Kỳ tại Liên Xô, song bị Liên Xô coi là nhân vật không được hoan nghênh vì phê phán thái độ của Liên Xô đối với các nhà ngoại giao Phương Tây. Năm 1953, ông trở về Washington và bị Ngoại trưởng Dulles gạt khỏi Bộ Ngoại giao. Sau đó, ông chuyển đến làm việc tại Viện nghiên cao cấp Princeton và thường điều trần tại Quốc hội Hoa Kỳ về lịch sử, chính sách ngoại giao. Năm 1961- 1963, ông lại được Tổng thống Hoa Kỳ cử làm Đại sứ của Hoa Kỳ tại Nam Tư.&lt;/div&gt;&lt;/td&gt;&lt;td class='diff-marker'&gt;+&lt;/td&gt;&lt;td style=&quot;color: #202122; font-size: 88%; border-style: solid; border-width: 1px 1px 1px 4px; border-radius: 0.33em; border-color: #a3d3ff; vertical-align: top; white-space: pre-wrap;&quot;&gt;&lt;div&gt;&lt;ins class=&quot;diffchange diffchange-inline&quot;&gt;Cuối năm 1946, ông trở về Washington được bổ nhiệm làm Vụ Trưởng Vụ Hoạch định chính sách, của Bộ Ngoại giao. &lt;/ins&gt;Năm 1949, ông thôi chức Vụ trưởng Vụ Hoạch định chính sách và được bổ nhiệm làm Cố vấn Bộ Ngoại giao. Ngay sau đó ông từ chức và chuyển sang tham gia công tác nghiên cứu, giảng dậy tại Viện Nghiên cứu cấp cao ở Princeton. Năm 1952, ông được bổ nhiệm Đại sứ Hoa Kỳ tại Liên Xô, song bị Liên Xô coi là nhân vật không được hoan nghênh vì phê phán thái độ của Liên Xô đối với các nhà ngoại giao Phương Tây. Năm 1953, ông trở về Washington và bị Ngoại trưởng Dulles gạt khỏi Bộ Ngoại giao. Sau đó, ông chuyển đến làm việc tại Viện nghiên cao cấp Princeton và thường điều trần tại Quốc hội Hoa Kỳ về lịch sử, chính sách ngoại giao. Năm 1961- 1963, ông lại được Tổng thống Hoa Kỳ cử làm Đại sứ của Hoa Kỳ tại Nam Tư.&lt;/div&gt;&lt;/td&gt;&lt;/tr&gt;
&lt;tr&gt;&lt;td class='diff-marker'&gt; &lt;/td&gt;&lt;td style=&quot;background-color: #f8f9fa; color: #202122; font-size: 88%; border-style: solid; border-width: 1px 1px 1px 4px; border-radius: 0.33em; border-color: #eaecf0; vertical-align: top; white-space: pre-wrap;&quot;&gt;&lt;/td&gt;&lt;td class='diff-marker'&gt; &lt;/td&gt;&lt;td style=&quot;background-color: #f8f9fa; color: #202122; font-size: 88%; border-style: solid; border-width: 1px 1px 1px 4px; border-radius: 0.33em; border-color: #eaecf0; vertical-align: top; white-space: pre-wrap;&quot;&gt;&lt;/td&gt;&lt;/tr&gt;
&lt;tr&gt;&lt;td class='diff-marker'&gt; &lt;/td&gt;&lt;td style=&quot;background-color: #f8f9fa; color: #202122; font-size: 88%; border-style: solid; border-width: 1px 1px 1px 4px; border-radius: 0.33em; border-color: #eaecf0; vertical-align: top; white-space: pre-wrap;&quot;&gt;&lt;div&gt;Quan điểm nền tảng của ông là chủ nghĩa hiện thực chính trị. Từ cuối những năm 1950 thế kỷ XX, ông đã xem xét lại quan điển của mình về ngăn chặn chủ nghĩa cộng sản. Ông bảo vệ chương trình không can thiệp của Hoa Kỳ vào những khu vực xung đột với Liên Xô. Ông cho rằng, kiệt quệ do chiến tranh, nên Liên Xô không đe dọa quân sự đối với Hoa Kỳ và đồng minh của Hoa Kỳ. Theo ông, sức mạnh quân sự có giới hạn của nó, về chính trị không nên quá nhấn mạnh sức mạnh quân sự và sao nhãng các khía cạnh quyền lực khác, chạy đua vũ trang không kiềm chế là nguy hiểm.  Ông kiên quyết khẳng định từ bỏ học thuyết ngăn chặn và cho rằng điều đó chỉ phù hợp với hoàn cảnh khác, tại khu vực nào đó của thế giới, ví dụ Việt Nam.&lt;/div&gt;&lt;/td&gt;&lt;td class='diff-marker'&gt; &lt;/td&gt;&lt;td style=&quot;background-color: #f8f9fa; color: #202122; font-size: 88%; border-style: solid; border-width: 1px 1px 1px 4px; border-radius: 0.33em; border-color: #eaecf0; vertical-align: top; white-space: pre-wrap;&quot;&gt;&lt;div&gt;Quan điểm nền tảng của ông là chủ nghĩa hiện thực chính trị. Từ cuối những năm 1950 thế kỷ XX, ông đã xem xét lại quan điển của mình về ngăn chặn chủ nghĩa cộng sản. Ông bảo vệ chương trình không can thiệp của Hoa Kỳ vào những khu vực xung đột với Liên Xô. Ông cho rằng, kiệt quệ do chiến tranh, nên Liên Xô không đe dọa quân sự đối với Hoa Kỳ và đồng minh của Hoa Kỳ. Theo ông, sức mạnh quân sự có giới hạn của nó, về chính trị không nên quá nhấn mạnh sức mạnh quân sự và sao nhãng các khía cạnh quyền lực khác, chạy đua vũ trang không kiềm chế là nguy hiểm.  Ông kiên quyết khẳng định từ bỏ học thuyết ngăn chặn và cho rằng điều đó chỉ phù hợp với hoàn cảnh khác, tại khu vực nào đó của thế giới, ví dụ Việt Nam.&lt;/div&gt;&lt;/td&gt;&lt;/tr&gt;

&lt;!-- diff cache key bktt:diff::1.12:old-19592:rev-19593 --&gt;
&lt;/table&gt;</summary>
		<author><name>Marrella</name></author>
	</entry>
	<entry>
		<id>https://bktt.vn/index.php?title=George_F._Kennan&amp;diff=19592&amp;oldid=prev</id>
		<title>Marrella vào lúc 10:34, ngày 13 tháng 7 năm 2022</title>
		<link rel="alternate" type="text/html" href="https://bktt.vn/index.php?title=George_F._Kennan&amp;diff=19592&amp;oldid=prev"/>
		<updated>2022-07-13T10:34:57Z</updated>

		<summary type="html">&lt;p&gt;&lt;/p&gt;
&lt;table class=&quot;diff diff-contentalign-left diff-editfont-monospace&quot; data-mw=&quot;interface&quot;&gt;
				&lt;col class=&quot;diff-marker&quot; /&gt;
				&lt;col class=&quot;diff-content&quot; /&gt;
				&lt;col class=&quot;diff-marker&quot; /&gt;
				&lt;col class=&quot;diff-content&quot; /&gt;
				&lt;tr class=&quot;diff-title&quot; lang=&quot;vi&quot;&gt;
				&lt;td colspan=&quot;2&quot; style=&quot;background-color: #fff; color: #202122; text-align: center;&quot;&gt;← Phiên bản cũ&lt;/td&gt;
				&lt;td colspan=&quot;2&quot; style=&quot;background-color: #fff; color: #202122; text-align: center;&quot;&gt;Phiên bản lúc 10:34, ngày 13 tháng 7 năm 2022&lt;/td&gt;
				&lt;/tr&gt;&lt;tr&gt;&lt;td colspan=&quot;2&quot; class=&quot;diff-lineno&quot; id=&quot;mw-diff-left-l3&quot; &gt;Dòng 3:&lt;/td&gt;
&lt;td colspan=&quot;2&quot; class=&quot;diff-lineno&quot;&gt;Dòng 3:&lt;/td&gt;&lt;/tr&gt;
&lt;tr&gt;&lt;td class='diff-marker'&gt; &lt;/td&gt;&lt;td style=&quot;background-color: #f8f9fa; color: #202122; font-size: 88%; border-style: solid; border-width: 1px 1px 1px 4px; border-radius: 0.33em; border-color: #eaecf0; vertical-align: top; white-space: pre-wrap;&quot;&gt;&lt;div&gt;'''George Frost Kennan''' (16 tháng 2 năm 1904 – 17 tháng 3 năm 2005) là một nhà ngoại giao và sử học Hoa Kỳ.&amp;lt;ref name=&amp;quot;Pelz&amp;quot;&amp;gt;{{cite journal | last1 = Pelz | first1 = Stephen | last2 = Miscamble | first2 = Wilson D. | title = The Sorrows of George F. Kennan | journal = Reviews in American History | date = December 1994 | volume = 22 | issue = 4 | page = 711 | doi = 10.2307/2702824 | jstor = 2702824 | s2cid = 56610397}}&amp;lt;/ref&amp;gt; Ông được biết đến nhiều nhất với tư cách tác giả của [[Bức điện Dài]] gửi về từ Moskva vào ngày 22 tháng 2 năm 1946 và [[Bài viết X]] đăng trên tạp chí ''[[Foreign Affairs]]'' tháng 7 năm 1947.&amp;lt;ref name=&amp;quot;Iatrides&amp;quot;&amp;gt;{{cite journal | last1 = Iatrides | first1 = John O. | title = George F. Kennan and the Birth of Containment: The Greek Test Case | journal = World Policy Journal | date = 1 September 2005 | volume = 22 | issue = 3 | pages = 126–145 | doi = 10.1215/07402775-2005-4005 | jstor = 40209983 | s2cid = 96486375}}&amp;lt;/ref&amp;gt; Trong đó, Kennan đề xuất yếu tố chủ chốt trong chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ với Liên Xô là &amp;quot;ngăn chặn xu hướng bành trướng lâu dài theo hướng nhẫn nại nhưng kiên quyết và cảnh giác&amp;quot;.&amp;lt;ref name=&amp;quot;Robert&amp;quot;&amp;gt;{{cite journal | last1 = Tucker | first1 = Robert C. | title = The Long Telegram: An Act of Political Leadership | journal = The Princeton University Library Chronicle | date = 2005 | volume = 66 | issue = 2 | page = 295 | doi = 10.25290/prinunivlibrchro.66.2.0295 | s2cid = 158575214 | doi-access = free}}&amp;lt;/ref&amp;gt; Qua đó, Kennan được xem như nhà sáng lập của một chiến lược đối ngoại đã chi phối nhận thức và hành động của chính phủ Hoa Kỳ suốt gần 50 năm.&amp;lt;ref name=&amp;quot;Iatrides&amp;quot;/&amp;gt; Tuy nhiên, các học giả tranh luận về tầm ảnh hưởng của Kennan còn bản thân Kennan thì hạ thấp vai trò của mình.&amp;lt;ref name=&amp;quot;Pelz&amp;quot;/&amp;gt;&lt;/div&gt;&lt;/td&gt;&lt;td class='diff-marker'&gt; &lt;/td&gt;&lt;td style=&quot;background-color: #f8f9fa; color: #202122; font-size: 88%; border-style: solid; border-width: 1px 1px 1px 4px; border-radius: 0.33em; border-color: #eaecf0; vertical-align: top; white-space: pre-wrap;&quot;&gt;&lt;div&gt;'''George Frost Kennan''' (16 tháng 2 năm 1904 – 17 tháng 3 năm 2005) là một nhà ngoại giao và sử học Hoa Kỳ.&amp;lt;ref name=&amp;quot;Pelz&amp;quot;&amp;gt;{{cite journal | last1 = Pelz | first1 = Stephen | last2 = Miscamble | first2 = Wilson D. | title = The Sorrows of George F. Kennan | journal = Reviews in American History | date = December 1994 | volume = 22 | issue = 4 | page = 711 | doi = 10.2307/2702824 | jstor = 2702824 | s2cid = 56610397}}&amp;lt;/ref&amp;gt; Ông được biết đến nhiều nhất với tư cách tác giả của [[Bức điện Dài]] gửi về từ Moskva vào ngày 22 tháng 2 năm 1946 và [[Bài viết X]] đăng trên tạp chí ''[[Foreign Affairs]]'' tháng 7 năm 1947.&amp;lt;ref name=&amp;quot;Iatrides&amp;quot;&amp;gt;{{cite journal | last1 = Iatrides | first1 = John O. | title = George F. Kennan and the Birth of Containment: The Greek Test Case | journal = World Policy Journal | date = 1 September 2005 | volume = 22 | issue = 3 | pages = 126–145 | doi = 10.1215/07402775-2005-4005 | jstor = 40209983 | s2cid = 96486375}}&amp;lt;/ref&amp;gt; Trong đó, Kennan đề xuất yếu tố chủ chốt trong chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ với Liên Xô là &amp;quot;ngăn chặn xu hướng bành trướng lâu dài theo hướng nhẫn nại nhưng kiên quyết và cảnh giác&amp;quot;.&amp;lt;ref name=&amp;quot;Robert&amp;quot;&amp;gt;{{cite journal | last1 = Tucker | first1 = Robert C. | title = The Long Telegram: An Act of Political Leadership | journal = The Princeton University Library Chronicle | date = 2005 | volume = 66 | issue = 2 | page = 295 | doi = 10.25290/prinunivlibrchro.66.2.0295 | s2cid = 158575214 | doi-access = free}}&amp;lt;/ref&amp;gt; Qua đó, Kennan được xem như nhà sáng lập của một chiến lược đối ngoại đã chi phối nhận thức và hành động của chính phủ Hoa Kỳ suốt gần 50 năm.&amp;lt;ref name=&amp;quot;Iatrides&amp;quot;/&amp;gt; Tuy nhiên, các học giả tranh luận về tầm ảnh hưởng của Kennan còn bản thân Kennan thì hạ thấp vai trò của mình.&amp;lt;ref name=&amp;quot;Pelz&amp;quot;/&amp;gt;&lt;/div&gt;&lt;/td&gt;&lt;/tr&gt;
&lt;tr&gt;&lt;td class='diff-marker'&gt; &lt;/td&gt;&lt;td style=&quot;background-color: #f8f9fa; color: #202122; font-size: 88%; border-style: solid; border-width: 1px 1px 1px 4px; border-radius: 0.33em; border-color: #eaecf0; vertical-align: top; white-space: pre-wrap;&quot;&gt;&lt;/td&gt;&lt;td class='diff-marker'&gt; &lt;/td&gt;&lt;td style=&quot;background-color: #f8f9fa; color: #202122; font-size: 88%; border-style: solid; border-width: 1px 1px 1px 4px; border-radius: 0.33em; border-color: #eaecf0; vertical-align: top; white-space: pre-wrap;&quot;&gt;&lt;/td&gt;&lt;/tr&gt;
&lt;tr&gt;&lt;td class='diff-marker'&gt;−&lt;/td&gt;&lt;td style=&quot;color: #202122; font-size: 88%; border-style: solid; border-width: 1px 1px 1px 4px; border-radius: 0.33em; border-color: #ffe49c; vertical-align: top; white-space: pre-wrap;&quot;&gt;&lt;div&gt;George Frost Kennan sinh ngày 16 tháng 2 năm 1904 ở [[Milwaukee]], [[Wincosin]], là con út trong gia đình có bốn người con.&amp;lt;ref name=&amp;quot;Linke&amp;quot;&amp;gt;{{cite journal | last1 = Linke | first1 = Daniel J. | last2 = Weeren | first2 =  ohn S. | title = The Life and Times of George F. Kennan, 1904–2005: A Centennial Retrospective | journal = The Princeton University Library Chronicle | date = 2005 | volume = 66 | issue = 2 | page = 265 | doi = 10.25290/prinunivlibrchro.66.2.0265 | s2cid = 165550128 | doi-access = free}}&amp;lt;/ref&amp;gt;{{sfn|Mayers|1990|p=17}} Ông từng học tại [[Học viện Quân sự St. John]] từ năm 1917 đến 1921 rồi đến [[Đại học Princeton]] từ 1921 đến 1925.{{sfn|Mayers|1990|p=xiii (chronology)}} Sau đó ông gia nhập Sở Ngoại giao mới thành lập, nắm giữ một vài chức vụ nhỏ ở châu Âu trước khi đến Đức và nghiên cứu về Liên Xô tại Đại học Berlin trong những năm 1929–1931.&amp;lt;ref name=&amp;quot;Linke&amp;quot;/&amp;gt;&amp;lt;ref name=&amp;quot;Stanke&amp;quot;&amp;gt;{{citation | last1 = Stanke | first1 = Jaclyn | title = Kennan, George (1905-2005) | date = 3 May 2018 | pages = 1–4 | publisher = John Wiley &amp;amp; Sons, Ltd | doi = 10.1002/9781118885154.dipl0438}}&amp;lt;/ref&amp;gt; Cuối năm 1933, Kennan được cử sang công tác tại đại sứ quán Hoa Kỳ ở Moskva cùng [[William Bullitt]], đại sứ Hoa Kỳ đầu tiên tại Liên Xô.{{sfn|Lukacs|2007|p=34}} Kennan trở lại Hoa Kỳ năm 1937 rồi tiếp tục đến Viên, Praha, và Berlin lúc [[Thế chiến II]] bùng nổ &lt;del class=&quot;diffchange diffchange-inline&quot;&gt;vào &lt;/del&gt;1939.&amp;lt;ref name=&amp;quot;Stanke&amp;quot;/&amp;gt; Sau khi Hoa Kỳ tham chiến, ông đã bị Đức Quốc xã giam cầm trong 5 tháng ở [[Bad Nauheim]].{{sfn|Mayers|1990|p=xiii (chronology)}}{{sfn|Lukacs|2007|p=50}} Cuối năm 1946, ông trở về Washington được bổ nhiệm làm Vụ Trưởng Vụ Hoạch định chính sách, của Bộ Ngoại giao.&lt;/div&gt;&lt;/td&gt;&lt;td class='diff-marker'&gt;+&lt;/td&gt;&lt;td style=&quot;color: #202122; font-size: 88%; border-style: solid; border-width: 1px 1px 1px 4px; border-radius: 0.33em; border-color: #a3d3ff; vertical-align: top; white-space: pre-wrap;&quot;&gt;&lt;div&gt;George Frost Kennan sinh ngày 16 tháng 2 năm 1904 ở [[Milwaukee]], [[Wincosin]], là con út trong gia đình có bốn người con.&amp;lt;ref name=&amp;quot;Linke&amp;quot;&amp;gt;{{cite journal | last1 = Linke | first1 = Daniel J. | last2 = Weeren | first2 =  ohn S. | title = The Life and Times of George F. Kennan, 1904–2005: A Centennial Retrospective | journal = The Princeton University Library Chronicle | date = 2005 | volume = 66 | issue = 2 | page = 265 | doi = 10.25290/prinunivlibrchro.66.2.0265 | s2cid = 165550128 | doi-access = free}}&amp;lt;/ref&amp;gt;{{sfn|Mayers|1990|p=17}} Ông từng học tại [[Học viện Quân sự St. John]] từ năm 1917 đến 1921 rồi đến [[Đại học Princeton]] từ 1921 đến 1925.{{sfn|Mayers|1990|p=xiii (chronology)}} Sau đó ông gia nhập Sở Ngoại giao mới thành lập, nắm giữ một vài chức vụ nhỏ ở châu Âu trước khi đến Đức và nghiên cứu về Liên Xô tại Đại học Berlin trong những năm 1929–1931.&amp;lt;ref name=&amp;quot;Linke&amp;quot;/&amp;gt;&amp;lt;ref name=&amp;quot;Stanke&amp;quot;&amp;gt;{{citation | last1 = Stanke | first1 = Jaclyn | title = Kennan, George (1905-2005) | date = 3 May 2018 | pages = 1–4 | publisher = John Wiley &amp;amp; Sons, Ltd | doi = 10.1002/9781118885154.dipl0438}}&amp;lt;/ref&amp;gt; Cuối năm 1933, Kennan được cử sang công tác tại đại sứ quán Hoa Kỳ ở Moskva cùng [[William Bullitt]], đại sứ Hoa Kỳ đầu tiên tại Liên Xô.{{sfn|Lukacs|2007|p=34}} Kennan trở lại Hoa Kỳ năm 1937 rồi tiếp tục đến Viên, Praha, và Berlin lúc [[Thế chiến II]] bùng nổ &lt;ins class=&quot;diffchange diffchange-inline&quot;&gt;năm &lt;/ins&gt;1939.&amp;lt;ref name=&amp;quot;Stanke&amp;quot;/&amp;gt; Sau khi Hoa Kỳ tham chiến, ông đã bị Đức Quốc xã giam cầm trong 5 tháng ở [[Bad Nauheim]].{{sfn|Mayers|1990|p=xiii (chronology)}}{{sfn|Lukacs|2007|p=50}} Cuối năm 1946, ông trở về Washington được bổ nhiệm làm Vụ Trưởng Vụ Hoạch định chính sách, của Bộ Ngoại giao.&lt;/div&gt;&lt;/td&gt;&lt;/tr&gt;
&lt;tr&gt;&lt;td class='diff-marker'&gt; &lt;/td&gt;&lt;td style=&quot;background-color: #f8f9fa; color: #202122; font-size: 88%; border-style: solid; border-width: 1px 1px 1px 4px; border-radius: 0.33em; border-color: #eaecf0; vertical-align: top; white-space: pre-wrap;&quot;&gt;&lt;/td&gt;&lt;td class='diff-marker'&gt; &lt;/td&gt;&lt;td style=&quot;background-color: #f8f9fa; color: #202122; font-size: 88%; border-style: solid; border-width: 1px 1px 1px 4px; border-radius: 0.33em; border-color: #eaecf0; vertical-align: top; white-space: pre-wrap;&quot;&gt;&lt;/td&gt;&lt;/tr&gt;
&lt;tr&gt;&lt;td class='diff-marker'&gt; &lt;/td&gt;&lt;td style=&quot;background-color: #f8f9fa; color: #202122; font-size: 88%; border-style: solid; border-width: 1px 1px 1px 4px; border-radius: 0.33em; border-color: #eaecf0; vertical-align: top; white-space: pre-wrap;&quot;&gt;&lt;div&gt;Trong bối cảnh mâu thuẫn Xô – Mỹ trở nên gay gắt, bằng ba văn kiện quan trọng: một bức điện dài 8.000 chữ (tháng 2.1946, khi là Đại biện lâm thời tại Liên Xô) và hai bài báo ký tên X trên tạp chí Các vấn đề đối ngoại vào 7.1947 và 4.1951, Kennan đã kiến nghị chiến lược “kiềm chế chủ nghĩa cộng sản”. Nội dung: 1) Liên Xô âm mưu mở rộng quyền lực ở châu Âu và các nơi khác bằng cách kiên trì gây sức ép nhằm làm suy yếu sức mạnh và ảnh hưởng của đối phương; 2) Liên Xô yếu hơn phương Tây và tương lai của quyền lực Liên Xô không có gì đảm bảo; 3) Nên tiến hành một chính sách kiềm chế kiên quyết chủ yếu bằng biện pháp kinh tế, chính trị và đặc biệt là chứng minh sự tốt đẹp của xã hội Hoa Kỳ buộc Liên Xô phải đối phó với các thế lực chống đối tại các khu vực mà họ âm mưu xâm phạm quyền lợi của phương Tây. Đồng thời, cần kiên nhẫn khuyến khích các thế lực cải cách chính tại Liên Xô tác động đến chính sách đối nội và đối ngoại của nước này.&lt;/div&gt;&lt;/td&gt;&lt;td class='diff-marker'&gt; &lt;/td&gt;&lt;td style=&quot;background-color: #f8f9fa; color: #202122; font-size: 88%; border-style: solid; border-width: 1px 1px 1px 4px; border-radius: 0.33em; border-color: #eaecf0; vertical-align: top; white-space: pre-wrap;&quot;&gt;&lt;div&gt;Trong bối cảnh mâu thuẫn Xô – Mỹ trở nên gay gắt, bằng ba văn kiện quan trọng: một bức điện dài 8.000 chữ (tháng 2.1946, khi là Đại biện lâm thời tại Liên Xô) và hai bài báo ký tên X trên tạp chí Các vấn đề đối ngoại vào 7.1947 và 4.1951, Kennan đã kiến nghị chiến lược “kiềm chế chủ nghĩa cộng sản”. Nội dung: 1) Liên Xô âm mưu mở rộng quyền lực ở châu Âu và các nơi khác bằng cách kiên trì gây sức ép nhằm làm suy yếu sức mạnh và ảnh hưởng của đối phương; 2) Liên Xô yếu hơn phương Tây và tương lai của quyền lực Liên Xô không có gì đảm bảo; 3) Nên tiến hành một chính sách kiềm chế kiên quyết chủ yếu bằng biện pháp kinh tế, chính trị và đặc biệt là chứng minh sự tốt đẹp của xã hội Hoa Kỳ buộc Liên Xô phải đối phó với các thế lực chống đối tại các khu vực mà họ âm mưu xâm phạm quyền lợi của phương Tây. Đồng thời, cần kiên nhẫn khuyến khích các thế lực cải cách chính tại Liên Xô tác động đến chính sách đối nội và đối ngoại của nước này.&lt;/div&gt;&lt;/td&gt;&lt;/tr&gt;

&lt;!-- diff cache key bktt:diff::1.12:old-19591:rev-19592 --&gt;
&lt;/table&gt;</summary>
		<author><name>Marrella</name></author>
	</entry>
	<entry>
		<id>https://bktt.vn/index.php?title=George_F._Kennan&amp;diff=19591&amp;oldid=prev</id>
		<title>Marrella vào lúc 10:34, ngày 13 tháng 7 năm 2022</title>
		<link rel="alternate" type="text/html" href="https://bktt.vn/index.php?title=George_F._Kennan&amp;diff=19591&amp;oldid=prev"/>
		<updated>2022-07-13T10:34:47Z</updated>

		<summary type="html">&lt;p&gt;&lt;/p&gt;
&lt;table class=&quot;diff diff-contentalign-left diff-editfont-monospace&quot; data-mw=&quot;interface&quot;&gt;
				&lt;col class=&quot;diff-marker&quot; /&gt;
				&lt;col class=&quot;diff-content&quot; /&gt;
				&lt;col class=&quot;diff-marker&quot; /&gt;
				&lt;col class=&quot;diff-content&quot; /&gt;
				&lt;tr class=&quot;diff-title&quot; lang=&quot;vi&quot;&gt;
				&lt;td colspan=&quot;2&quot; style=&quot;background-color: #fff; color: #202122; text-align: center;&quot;&gt;← Phiên bản cũ&lt;/td&gt;
				&lt;td colspan=&quot;2&quot; style=&quot;background-color: #fff; color: #202122; text-align: center;&quot;&gt;Phiên bản lúc 10:34, ngày 13 tháng 7 năm 2022&lt;/td&gt;
				&lt;/tr&gt;&lt;tr&gt;&lt;td colspan=&quot;2&quot; class=&quot;diff-lineno&quot; id=&quot;mw-diff-left-l3&quot; &gt;Dòng 3:&lt;/td&gt;
&lt;td colspan=&quot;2&quot; class=&quot;diff-lineno&quot;&gt;Dòng 3:&lt;/td&gt;&lt;/tr&gt;
&lt;tr&gt;&lt;td class='diff-marker'&gt; &lt;/td&gt;&lt;td style=&quot;background-color: #f8f9fa; color: #202122; font-size: 88%; border-style: solid; border-width: 1px 1px 1px 4px; border-radius: 0.33em; border-color: #eaecf0; vertical-align: top; white-space: pre-wrap;&quot;&gt;&lt;div&gt;'''George Frost Kennan''' (16 tháng 2 năm 1904 – 17 tháng 3 năm 2005) là một nhà ngoại giao và sử học Hoa Kỳ.&amp;lt;ref name=&amp;quot;Pelz&amp;quot;&amp;gt;{{cite journal | last1 = Pelz | first1 = Stephen | last2 = Miscamble | first2 = Wilson D. | title = The Sorrows of George F. Kennan | journal = Reviews in American History | date = December 1994 | volume = 22 | issue = 4 | page = 711 | doi = 10.2307/2702824 | jstor = 2702824 | s2cid = 56610397}}&amp;lt;/ref&amp;gt; Ông được biết đến nhiều nhất với tư cách tác giả của [[Bức điện Dài]] gửi về từ Moskva vào ngày 22 tháng 2 năm 1946 và [[Bài viết X]] đăng trên tạp chí ''[[Foreign Affairs]]'' tháng 7 năm 1947.&amp;lt;ref name=&amp;quot;Iatrides&amp;quot;&amp;gt;{{cite journal | last1 = Iatrides | first1 = John O. | title = George F. Kennan and the Birth of Containment: The Greek Test Case | journal = World Policy Journal | date = 1 September 2005 | volume = 22 | issue = 3 | pages = 126–145 | doi = 10.1215/07402775-2005-4005 | jstor = 40209983 | s2cid = 96486375}}&amp;lt;/ref&amp;gt; Trong đó, Kennan đề xuất yếu tố chủ chốt trong chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ với Liên Xô là &amp;quot;ngăn chặn xu hướng bành trướng lâu dài theo hướng nhẫn nại nhưng kiên quyết và cảnh giác&amp;quot;.&amp;lt;ref name=&amp;quot;Robert&amp;quot;&amp;gt;{{cite journal | last1 = Tucker | first1 = Robert C. | title = The Long Telegram: An Act of Political Leadership | journal = The Princeton University Library Chronicle | date = 2005 | volume = 66 | issue = 2 | page = 295 | doi = 10.25290/prinunivlibrchro.66.2.0295 | s2cid = 158575214 | doi-access = free}}&amp;lt;/ref&amp;gt; Qua đó, Kennan được xem như nhà sáng lập của một chiến lược đối ngoại đã chi phối nhận thức và hành động của chính phủ Hoa Kỳ suốt gần 50 năm.&amp;lt;ref name=&amp;quot;Iatrides&amp;quot;/&amp;gt; Tuy nhiên, các học giả tranh luận về tầm ảnh hưởng của Kennan còn bản thân Kennan thì hạ thấp vai trò của mình.&amp;lt;ref name=&amp;quot;Pelz&amp;quot;/&amp;gt;&lt;/div&gt;&lt;/td&gt;&lt;td class='diff-marker'&gt; &lt;/td&gt;&lt;td style=&quot;background-color: #f8f9fa; color: #202122; font-size: 88%; border-style: solid; border-width: 1px 1px 1px 4px; border-radius: 0.33em; border-color: #eaecf0; vertical-align: top; white-space: pre-wrap;&quot;&gt;&lt;div&gt;'''George Frost Kennan''' (16 tháng 2 năm 1904 – 17 tháng 3 năm 2005) là một nhà ngoại giao và sử học Hoa Kỳ.&amp;lt;ref name=&amp;quot;Pelz&amp;quot;&amp;gt;{{cite journal | last1 = Pelz | first1 = Stephen | last2 = Miscamble | first2 = Wilson D. | title = The Sorrows of George F. Kennan | journal = Reviews in American History | date = December 1994 | volume = 22 | issue = 4 | page = 711 | doi = 10.2307/2702824 | jstor = 2702824 | s2cid = 56610397}}&amp;lt;/ref&amp;gt; Ông được biết đến nhiều nhất với tư cách tác giả của [[Bức điện Dài]] gửi về từ Moskva vào ngày 22 tháng 2 năm 1946 và [[Bài viết X]] đăng trên tạp chí ''[[Foreign Affairs]]'' tháng 7 năm 1947.&amp;lt;ref name=&amp;quot;Iatrides&amp;quot;&amp;gt;{{cite journal | last1 = Iatrides | first1 = John O. | title = George F. Kennan and the Birth of Containment: The Greek Test Case | journal = World Policy Journal | date = 1 September 2005 | volume = 22 | issue = 3 | pages = 126–145 | doi = 10.1215/07402775-2005-4005 | jstor = 40209983 | s2cid = 96486375}}&amp;lt;/ref&amp;gt; Trong đó, Kennan đề xuất yếu tố chủ chốt trong chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ với Liên Xô là &amp;quot;ngăn chặn xu hướng bành trướng lâu dài theo hướng nhẫn nại nhưng kiên quyết và cảnh giác&amp;quot;.&amp;lt;ref name=&amp;quot;Robert&amp;quot;&amp;gt;{{cite journal | last1 = Tucker | first1 = Robert C. | title = The Long Telegram: An Act of Political Leadership | journal = The Princeton University Library Chronicle | date = 2005 | volume = 66 | issue = 2 | page = 295 | doi = 10.25290/prinunivlibrchro.66.2.0295 | s2cid = 158575214 | doi-access = free}}&amp;lt;/ref&amp;gt; Qua đó, Kennan được xem như nhà sáng lập của một chiến lược đối ngoại đã chi phối nhận thức và hành động của chính phủ Hoa Kỳ suốt gần 50 năm.&amp;lt;ref name=&amp;quot;Iatrides&amp;quot;/&amp;gt; Tuy nhiên, các học giả tranh luận về tầm ảnh hưởng của Kennan còn bản thân Kennan thì hạ thấp vai trò của mình.&amp;lt;ref name=&amp;quot;Pelz&amp;quot;/&amp;gt;&lt;/div&gt;&lt;/td&gt;&lt;/tr&gt;
&lt;tr&gt;&lt;td class='diff-marker'&gt; &lt;/td&gt;&lt;td style=&quot;background-color: #f8f9fa; color: #202122; font-size: 88%; border-style: solid; border-width: 1px 1px 1px 4px; border-radius: 0.33em; border-color: #eaecf0; vertical-align: top; white-space: pre-wrap;&quot;&gt;&lt;/td&gt;&lt;td class='diff-marker'&gt; &lt;/td&gt;&lt;td style=&quot;background-color: #f8f9fa; color: #202122; font-size: 88%; border-style: solid; border-width: 1px 1px 1px 4px; border-radius: 0.33em; border-color: #eaecf0; vertical-align: top; white-space: pre-wrap;&quot;&gt;&lt;/td&gt;&lt;/tr&gt;
&lt;tr&gt;&lt;td class='diff-marker'&gt;−&lt;/td&gt;&lt;td style=&quot;color: #202122; font-size: 88%; border-style: solid; border-width: 1px 1px 1px 4px; border-radius: 0.33em; border-color: #ffe49c; vertical-align: top; white-space: pre-wrap;&quot;&gt;&lt;div&gt;George Frost Kennan sinh ngày 16 tháng 2 năm 1904 ở [[Milwaukee]], [[Wincosin]], là con út trong gia đình có bốn người con.&amp;lt;ref name=&amp;quot;Linke&amp;quot;&amp;gt;{{cite journal | last1 = Linke | first1 = Daniel J. | last2 = Weeren | first2 =  ohn S. | title = The Life and Times of George F. Kennan, 1904–2005: A Centennial Retrospective | journal = The Princeton University Library Chronicle | date = 2005 | volume = 66 | issue = 2 | page = 265 | doi = 10.25290/prinunivlibrchro.66.2.0265 | s2cid = 165550128 | doi-access = free}}&amp;lt;/ref&amp;gt;{{sfn|Mayers|1990|p=17}} Ông từng học tại [[Học viện Quân sự St. John]] từ năm 1917 đến 1921 rồi đến [[Đại học Princeton]] từ 1921 đến 1925.{{sfn|Mayers|1990|p=xiii (chronology)}} Sau đó ông gia nhập Sở Ngoại giao mới thành lập, nắm giữ một vài chức vụ nhỏ ở châu Âu trước khi đến Đức và nghiên cứu về Liên Xô tại Đại học Berlin trong những năm 1929–1931.&amp;lt;ref name=&amp;quot;Linke&amp;quot;/&amp;gt;&amp;lt;ref name=&amp;quot;Stanke&amp;quot;&amp;gt;{{citation | last1 = Stanke | first1 = Jaclyn | title = Kennan, George (1905-2005) | date = 3 May 2018 | pages = 1–4 | publisher = John Wiley &amp;amp; Sons, Ltd | doi = 10.1002/9781118885154.dipl0438}}&amp;lt;/ref&amp;gt; Cuối năm 1933, Kennan được cử sang công tác tại đại sứ quán Hoa Kỳ ở Moskva cùng [[William Bullitt]], đại sứ Hoa Kỳ đầu tiên tại Liên Xô.{{sfn|Lukacs|2007|p=34}} Kennan trở lại Hoa Kỳ năm 1937 rồi tiếp tục đến Viên, Praha, và Berlin lúc [[Thế chiến II]] bùng nổ vào &lt;del class=&quot;diffchange diffchange-inline&quot;&gt;năm &lt;/del&gt;1939.&amp;lt;ref name=&amp;quot;Stanke&amp;quot;/&amp;gt; Sau khi Hoa Kỳ tham chiến, ông đã bị Đức Quốc xã giam cầm trong 5 tháng ở [[Bad Nauheim]].{{sfn|Mayers|1990|p=xiii (chronology)}}{{sfn|Lukacs|2007|p=50}} Cuối năm 1946, ông trở về &lt;del class=&quot;diffchange diffchange-inline&quot;&gt;Wáhington &lt;/del&gt;được bổ nhiệm làm Vụ Trưởng Vụ Hoạch định chính sách, của Bộ Ngoại giao.&lt;/div&gt;&lt;/td&gt;&lt;td class='diff-marker'&gt;+&lt;/td&gt;&lt;td style=&quot;color: #202122; font-size: 88%; border-style: solid; border-width: 1px 1px 1px 4px; border-radius: 0.33em; border-color: #a3d3ff; vertical-align: top; white-space: pre-wrap;&quot;&gt;&lt;div&gt;George Frost Kennan sinh ngày 16 tháng 2 năm 1904 ở [[Milwaukee]], [[Wincosin]], là con út trong gia đình có bốn người con.&amp;lt;ref name=&amp;quot;Linke&amp;quot;&amp;gt;{{cite journal | last1 = Linke | first1 = Daniel J. | last2 = Weeren | first2 =  ohn S. | title = The Life and Times of George F. Kennan, 1904–2005: A Centennial Retrospective | journal = The Princeton University Library Chronicle | date = 2005 | volume = 66 | issue = 2 | page = 265 | doi = 10.25290/prinunivlibrchro.66.2.0265 | s2cid = 165550128 | doi-access = free}}&amp;lt;/ref&amp;gt;{{sfn|Mayers|1990|p=17}} Ông từng học tại [[Học viện Quân sự St. John]] từ năm 1917 đến 1921 rồi đến [[Đại học Princeton]] từ 1921 đến 1925.{{sfn|Mayers|1990|p=xiii (chronology)}} Sau đó ông gia nhập Sở Ngoại giao mới thành lập, nắm giữ một vài chức vụ nhỏ ở châu Âu trước khi đến Đức và nghiên cứu về Liên Xô tại Đại học Berlin trong những năm 1929–1931.&amp;lt;ref name=&amp;quot;Linke&amp;quot;/&amp;gt;&amp;lt;ref name=&amp;quot;Stanke&amp;quot;&amp;gt;{{citation | last1 = Stanke | first1 = Jaclyn | title = Kennan, George (1905-2005) | date = 3 May 2018 | pages = 1–4 | publisher = John Wiley &amp;amp; Sons, Ltd | doi = 10.1002/9781118885154.dipl0438}}&amp;lt;/ref&amp;gt; Cuối năm 1933, Kennan được cử sang công tác tại đại sứ quán Hoa Kỳ ở Moskva cùng [[William Bullitt]], đại sứ Hoa Kỳ đầu tiên tại Liên Xô.{{sfn|Lukacs|2007|p=34}} Kennan trở lại Hoa Kỳ năm 1937 rồi tiếp tục đến Viên, Praha, và Berlin lúc [[Thế chiến II]] bùng nổ vào 1939.&amp;lt;ref name=&amp;quot;Stanke&amp;quot;/&amp;gt; Sau khi Hoa Kỳ tham chiến, ông đã bị Đức Quốc xã giam cầm trong 5 tháng ở [[Bad Nauheim]].{{sfn|Mayers|1990|p=xiii (chronology)}}{{sfn|Lukacs|2007|p=50}} Cuối năm 1946, ông trở về &lt;ins class=&quot;diffchange diffchange-inline&quot;&gt;Washington &lt;/ins&gt;được bổ nhiệm làm Vụ Trưởng Vụ Hoạch định chính sách, của Bộ Ngoại giao.&lt;/div&gt;&lt;/td&gt;&lt;/tr&gt;
&lt;tr&gt;&lt;td class='diff-marker'&gt; &lt;/td&gt;&lt;td style=&quot;background-color: #f8f9fa; color: #202122; font-size: 88%; border-style: solid; border-width: 1px 1px 1px 4px; border-radius: 0.33em; border-color: #eaecf0; vertical-align: top; white-space: pre-wrap;&quot;&gt;&lt;/td&gt;&lt;td class='diff-marker'&gt; &lt;/td&gt;&lt;td style=&quot;background-color: #f8f9fa; color: #202122; font-size: 88%; border-style: solid; border-width: 1px 1px 1px 4px; border-radius: 0.33em; border-color: #eaecf0; vertical-align: top; white-space: pre-wrap;&quot;&gt;&lt;/td&gt;&lt;/tr&gt;
&lt;tr&gt;&lt;td class='diff-marker'&gt; &lt;/td&gt;&lt;td style=&quot;background-color: #f8f9fa; color: #202122; font-size: 88%; border-style: solid; border-width: 1px 1px 1px 4px; border-radius: 0.33em; border-color: #eaecf0; vertical-align: top; white-space: pre-wrap;&quot;&gt;&lt;div&gt;Trong bối cảnh mâu thuẫn Xô – Mỹ trở nên gay gắt, bằng ba văn kiện quan trọng: một bức điện dài 8.000 chữ (tháng 2.1946, khi là Đại biện lâm thời tại Liên Xô) và hai bài báo ký tên X trên tạp chí Các vấn đề đối ngoại vào 7.1947 và 4.1951, Kennan đã kiến nghị chiến lược “kiềm chế chủ nghĩa cộng sản”. Nội dung: 1) Liên Xô âm mưu mở rộng quyền lực ở châu Âu và các nơi khác bằng cách kiên trì gây sức ép nhằm làm suy yếu sức mạnh và ảnh hưởng của đối phương; 2) Liên Xô yếu hơn phương Tây và tương lai của quyền lực Liên Xô không có gì đảm bảo; 3) Nên tiến hành một chính sách kiềm chế kiên quyết chủ yếu bằng biện pháp kinh tế, chính trị và đặc biệt là chứng minh sự tốt đẹp của xã hội Hoa Kỳ buộc Liên Xô phải đối phó với các thế lực chống đối tại các khu vực mà họ âm mưu xâm phạm quyền lợi của phương Tây. Đồng thời, cần kiên nhẫn khuyến khích các thế lực cải cách chính tại Liên Xô tác động đến chính sách đối nội và đối ngoại của nước này.&lt;/div&gt;&lt;/td&gt;&lt;td class='diff-marker'&gt; &lt;/td&gt;&lt;td style=&quot;background-color: #f8f9fa; color: #202122; font-size: 88%; border-style: solid; border-width: 1px 1px 1px 4px; border-radius: 0.33em; border-color: #eaecf0; vertical-align: top; white-space: pre-wrap;&quot;&gt;&lt;div&gt;Trong bối cảnh mâu thuẫn Xô – Mỹ trở nên gay gắt, bằng ba văn kiện quan trọng: một bức điện dài 8.000 chữ (tháng 2.1946, khi là Đại biện lâm thời tại Liên Xô) và hai bài báo ký tên X trên tạp chí Các vấn đề đối ngoại vào 7.1947 và 4.1951, Kennan đã kiến nghị chiến lược “kiềm chế chủ nghĩa cộng sản”. Nội dung: 1) Liên Xô âm mưu mở rộng quyền lực ở châu Âu và các nơi khác bằng cách kiên trì gây sức ép nhằm làm suy yếu sức mạnh và ảnh hưởng của đối phương; 2) Liên Xô yếu hơn phương Tây và tương lai của quyền lực Liên Xô không có gì đảm bảo; 3) Nên tiến hành một chính sách kiềm chế kiên quyết chủ yếu bằng biện pháp kinh tế, chính trị và đặc biệt là chứng minh sự tốt đẹp của xã hội Hoa Kỳ buộc Liên Xô phải đối phó với các thế lực chống đối tại các khu vực mà họ âm mưu xâm phạm quyền lợi của phương Tây. Đồng thời, cần kiên nhẫn khuyến khích các thế lực cải cách chính tại Liên Xô tác động đến chính sách đối nội và đối ngoại của nước này.&lt;/div&gt;&lt;/td&gt;&lt;/tr&gt;

&lt;!-- diff cache key bktt:diff::1.12:old-19590:rev-19591 --&gt;
&lt;/table&gt;</summary>
		<author><name>Marrella</name></author>
	</entry>
	<entry>
		<id>https://bktt.vn/index.php?title=George_F._Kennan&amp;diff=19590&amp;oldid=prev</id>
		<title>Marrella vào lúc 09:45, ngày 13 tháng 7 năm 2022</title>
		<link rel="alternate" type="text/html" href="https://bktt.vn/index.php?title=George_F._Kennan&amp;diff=19590&amp;oldid=prev"/>
		<updated>2022-07-13T09:45:37Z</updated>

		<summary type="html">&lt;p&gt;&lt;/p&gt;
&lt;table class=&quot;diff diff-contentalign-left diff-editfont-monospace&quot; data-mw=&quot;interface&quot;&gt;
				&lt;col class=&quot;diff-marker&quot; /&gt;
				&lt;col class=&quot;diff-content&quot; /&gt;
				&lt;col class=&quot;diff-marker&quot; /&gt;
				&lt;col class=&quot;diff-content&quot; /&gt;
				&lt;tr class=&quot;diff-title&quot; lang=&quot;vi&quot;&gt;
				&lt;td colspan=&quot;2&quot; style=&quot;background-color: #fff; color: #202122; text-align: center;&quot;&gt;← Phiên bản cũ&lt;/td&gt;
				&lt;td colspan=&quot;2&quot; style=&quot;background-color: #fff; color: #202122; text-align: center;&quot;&gt;Phiên bản lúc 09:45, ngày 13 tháng 7 năm 2022&lt;/td&gt;
				&lt;/tr&gt;&lt;tr&gt;&lt;td colspan=&quot;2&quot; class=&quot;diff-lineno&quot; id=&quot;mw-diff-left-l3&quot; &gt;Dòng 3:&lt;/td&gt;
&lt;td colspan=&quot;2&quot; class=&quot;diff-lineno&quot;&gt;Dòng 3:&lt;/td&gt;&lt;/tr&gt;
&lt;tr&gt;&lt;td class='diff-marker'&gt; &lt;/td&gt;&lt;td style=&quot;background-color: #f8f9fa; color: #202122; font-size: 88%; border-style: solid; border-width: 1px 1px 1px 4px; border-radius: 0.33em; border-color: #eaecf0; vertical-align: top; white-space: pre-wrap;&quot;&gt;&lt;div&gt;'''George Frost Kennan''' (16 tháng 2 năm 1904 – 17 tháng 3 năm 2005) là một nhà ngoại giao và sử học Hoa Kỳ.&amp;lt;ref name=&amp;quot;Pelz&amp;quot;&amp;gt;{{cite journal | last1 = Pelz | first1 = Stephen | last2 = Miscamble | first2 = Wilson D. | title = The Sorrows of George F. Kennan | journal = Reviews in American History | date = December 1994 | volume = 22 | issue = 4 | page = 711 | doi = 10.2307/2702824 | jstor = 2702824 | s2cid = 56610397}}&amp;lt;/ref&amp;gt; Ông được biết đến nhiều nhất với tư cách tác giả của [[Bức điện Dài]] gửi về từ Moskva vào ngày 22 tháng 2 năm 1946 và [[Bài viết X]] đăng trên tạp chí ''[[Foreign Affairs]]'' tháng 7 năm 1947.&amp;lt;ref name=&amp;quot;Iatrides&amp;quot;&amp;gt;{{cite journal | last1 = Iatrides | first1 = John O. | title = George F. Kennan and the Birth of Containment: The Greek Test Case | journal = World Policy Journal | date = 1 September 2005 | volume = 22 | issue = 3 | pages = 126–145 | doi = 10.1215/07402775-2005-4005 | jstor = 40209983 | s2cid = 96486375}}&amp;lt;/ref&amp;gt; Trong đó, Kennan đề xuất yếu tố chủ chốt trong chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ với Liên Xô là &amp;quot;ngăn chặn xu hướng bành trướng lâu dài theo hướng nhẫn nại nhưng kiên quyết và cảnh giác&amp;quot;.&amp;lt;ref name=&amp;quot;Robert&amp;quot;&amp;gt;{{cite journal | last1 = Tucker | first1 = Robert C. | title = The Long Telegram: An Act of Political Leadership | journal = The Princeton University Library Chronicle | date = 2005 | volume = 66 | issue = 2 | page = 295 | doi = 10.25290/prinunivlibrchro.66.2.0295 | s2cid = 158575214 | doi-access = free}}&amp;lt;/ref&amp;gt; Qua đó, Kennan được xem như nhà sáng lập của một chiến lược đối ngoại đã chi phối nhận thức và hành động của chính phủ Hoa Kỳ suốt gần 50 năm.&amp;lt;ref name=&amp;quot;Iatrides&amp;quot;/&amp;gt; Tuy nhiên, các học giả tranh luận về tầm ảnh hưởng của Kennan còn bản thân Kennan thì hạ thấp vai trò của mình.&amp;lt;ref name=&amp;quot;Pelz&amp;quot;/&amp;gt;&lt;/div&gt;&lt;/td&gt;&lt;td class='diff-marker'&gt; &lt;/td&gt;&lt;td style=&quot;background-color: #f8f9fa; color: #202122; font-size: 88%; border-style: solid; border-width: 1px 1px 1px 4px; border-radius: 0.33em; border-color: #eaecf0; vertical-align: top; white-space: pre-wrap;&quot;&gt;&lt;div&gt;'''George Frost Kennan''' (16 tháng 2 năm 1904 – 17 tháng 3 năm 2005) là một nhà ngoại giao và sử học Hoa Kỳ.&amp;lt;ref name=&amp;quot;Pelz&amp;quot;&amp;gt;{{cite journal | last1 = Pelz | first1 = Stephen | last2 = Miscamble | first2 = Wilson D. | title = The Sorrows of George F. Kennan | journal = Reviews in American History | date = December 1994 | volume = 22 | issue = 4 | page = 711 | doi = 10.2307/2702824 | jstor = 2702824 | s2cid = 56610397}}&amp;lt;/ref&amp;gt; Ông được biết đến nhiều nhất với tư cách tác giả của [[Bức điện Dài]] gửi về từ Moskva vào ngày 22 tháng 2 năm 1946 và [[Bài viết X]] đăng trên tạp chí ''[[Foreign Affairs]]'' tháng 7 năm 1947.&amp;lt;ref name=&amp;quot;Iatrides&amp;quot;&amp;gt;{{cite journal | last1 = Iatrides | first1 = John O. | title = George F. Kennan and the Birth of Containment: The Greek Test Case | journal = World Policy Journal | date = 1 September 2005 | volume = 22 | issue = 3 | pages = 126–145 | doi = 10.1215/07402775-2005-4005 | jstor = 40209983 | s2cid = 96486375}}&amp;lt;/ref&amp;gt; Trong đó, Kennan đề xuất yếu tố chủ chốt trong chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ với Liên Xô là &amp;quot;ngăn chặn xu hướng bành trướng lâu dài theo hướng nhẫn nại nhưng kiên quyết và cảnh giác&amp;quot;.&amp;lt;ref name=&amp;quot;Robert&amp;quot;&amp;gt;{{cite journal | last1 = Tucker | first1 = Robert C. | title = The Long Telegram: An Act of Political Leadership | journal = The Princeton University Library Chronicle | date = 2005 | volume = 66 | issue = 2 | page = 295 | doi = 10.25290/prinunivlibrchro.66.2.0295 | s2cid = 158575214 | doi-access = free}}&amp;lt;/ref&amp;gt; Qua đó, Kennan được xem như nhà sáng lập của một chiến lược đối ngoại đã chi phối nhận thức và hành động của chính phủ Hoa Kỳ suốt gần 50 năm.&amp;lt;ref name=&amp;quot;Iatrides&amp;quot;/&amp;gt; Tuy nhiên, các học giả tranh luận về tầm ảnh hưởng của Kennan còn bản thân Kennan thì hạ thấp vai trò của mình.&amp;lt;ref name=&amp;quot;Pelz&amp;quot;/&amp;gt;&lt;/div&gt;&lt;/td&gt;&lt;/tr&gt;
&lt;tr&gt;&lt;td class='diff-marker'&gt; &lt;/td&gt;&lt;td style=&quot;background-color: #f8f9fa; color: #202122; font-size: 88%; border-style: solid; border-width: 1px 1px 1px 4px; border-radius: 0.33em; border-color: #eaecf0; vertical-align: top; white-space: pre-wrap;&quot;&gt;&lt;/td&gt;&lt;td class='diff-marker'&gt; &lt;/td&gt;&lt;td style=&quot;background-color: #f8f9fa; color: #202122; font-size: 88%; border-style: solid; border-width: 1px 1px 1px 4px; border-radius: 0.33em; border-color: #eaecf0; vertical-align: top; white-space: pre-wrap;&quot;&gt;&lt;/td&gt;&lt;/tr&gt;
&lt;tr&gt;&lt;td class='diff-marker'&gt;−&lt;/td&gt;&lt;td style=&quot;color: #202122; font-size: 88%; border-style: solid; border-width: 1px 1px 1px 4px; border-radius: 0.33em; border-color: #ffe49c; vertical-align: top; white-space: pre-wrap;&quot;&gt;&lt;div&gt;George Frost Kennan sinh ngày 16 tháng 2 năm 1904 ở [[Milwaukee]], [[Wincosin]], là con út trong gia đình có bốn người con.&amp;lt;ref name=&amp;quot;Linke&amp;quot;&amp;gt;{{cite journal | last1 = Linke | first1 = Daniel J. | last2 = Weeren | first2 =  ohn S. | title = The Life and Times of George F. Kennan, 1904–2005: A Centennial Retrospective | journal = The Princeton University Library Chronicle | date = 2005 | volume = 66 | issue = 2 | page = 265 | doi = 10.25290/prinunivlibrchro.66.2.0265 | s2cid = 165550128 | doi-access = free}}&amp;lt;/ref&amp;gt;{{sfn|Mayers|1990|p=17}} Ông từng học tại [[Học viện Quân sự St. John]] từ năm 1917 đến 1921 rồi đến [[Đại học Princeton]] từ 1921 đến 1925.{{sfn|Mayers|1990|p=xiii (chronology)}} Sau đó ông gia nhập Sở Ngoại giao mới thành lập, nắm giữ một vài chức vụ nhỏ ở châu Âu trước khi đến Đức và nghiên cứu về Liên Xô tại Đại học Berlin trong những năm 1929–1931.&amp;lt;ref name=&amp;quot;Linke&amp;quot;/&amp;gt;&amp;lt;ref name=&amp;quot;Stanke&amp;quot;&amp;gt;{{citation | last1 = Stanke | first1 = Jaclyn | title = Kennan, George (1905-2005) | date = 3 May 2018 | pages = 1–4 | publisher = John Wiley &amp;amp; Sons, Ltd | doi = 10.1002/9781118885154.dipl0438}}&amp;lt;/ref&amp;gt; Cuối năm 1933, Kennan được cử sang công tác tại đại sứ quán Hoa Kỳ ở Moskva cùng [[William Bullitt]], đại sứ Hoa Kỳ đầu tiên tại Liên Xô.{{sfn|Lukacs|2007|p=34}} Kennan trở lại Hoa Kỳ năm 1937 rồi tiếp tục đến Viên, Praha, và Berlin &lt;del class=&quot;diffchange diffchange-inline&quot;&gt;khi &lt;/del&gt;[[Thế chiến II]] bùng nổ vào năm 1939.&amp;lt;ref name=&amp;quot;Stanke&amp;quot;/&amp;gt; Cuối năm 1946, ông trở về Wáhington được bổ nhiệm làm Vụ Trưởng Vụ Hoạch định chính sách, của Bộ Ngoại giao.&lt;/div&gt;&lt;/td&gt;&lt;td class='diff-marker'&gt;+&lt;/td&gt;&lt;td style=&quot;color: #202122; font-size: 88%; border-style: solid; border-width: 1px 1px 1px 4px; border-radius: 0.33em; border-color: #a3d3ff; vertical-align: top; white-space: pre-wrap;&quot;&gt;&lt;div&gt;George Frost Kennan sinh ngày 16 tháng 2 năm 1904 ở [[Milwaukee]], [[Wincosin]], là con út trong gia đình có bốn người con.&amp;lt;ref name=&amp;quot;Linke&amp;quot;&amp;gt;{{cite journal | last1 = Linke | first1 = Daniel J. | last2 = Weeren | first2 =  ohn S. | title = The Life and Times of George F. Kennan, 1904–2005: A Centennial Retrospective | journal = The Princeton University Library Chronicle | date = 2005 | volume = 66 | issue = 2 | page = 265 | doi = 10.25290/prinunivlibrchro.66.2.0265 | s2cid = 165550128 | doi-access = free}}&amp;lt;/ref&amp;gt;{{sfn|Mayers|1990|p=17}} Ông từng học tại [[Học viện Quân sự St. John]] từ năm 1917 đến 1921 rồi đến [[Đại học Princeton]] từ 1921 đến 1925.{{sfn|Mayers|1990|p=xiii (chronology)}} Sau đó ông gia nhập Sở Ngoại giao mới thành lập, nắm giữ một vài chức vụ nhỏ ở châu Âu trước khi đến Đức và nghiên cứu về Liên Xô tại Đại học Berlin trong những năm 1929–1931.&amp;lt;ref name=&amp;quot;Linke&amp;quot;/&amp;gt;&amp;lt;ref name=&amp;quot;Stanke&amp;quot;&amp;gt;{{citation | last1 = Stanke | first1 = Jaclyn | title = Kennan, George (1905-2005) | date = 3 May 2018 | pages = 1–4 | publisher = John Wiley &amp;amp; Sons, Ltd | doi = 10.1002/9781118885154.dipl0438}}&amp;lt;/ref&amp;gt; Cuối năm 1933, Kennan được cử sang công tác tại đại sứ quán Hoa Kỳ ở Moskva cùng [[William Bullitt]], đại sứ Hoa Kỳ đầu tiên tại Liên Xô.{{sfn|Lukacs|2007|p=34}} Kennan trở lại Hoa Kỳ năm 1937 rồi tiếp tục đến Viên, Praha, và Berlin &lt;ins class=&quot;diffchange diffchange-inline&quot;&gt;lúc &lt;/ins&gt;[[Thế chiến II]] bùng nổ vào năm 1939.&amp;lt;ref name=&amp;quot;Stanke&amp;quot;/&amp;gt; &lt;ins class=&quot;diffchange diffchange-inline&quot;&gt;Sau khi Hoa Kỳ tham chiến, ông đã bị Đức Quốc xã giam cầm trong 5 tháng ở [[Bad Nauheim]].{{sfn|Mayers|1990|p=xiii (chronology)}}{{sfn|Lukacs|2007|p=50}} &lt;/ins&gt;Cuối năm 1946, ông trở về Wáhington được bổ nhiệm làm Vụ Trưởng Vụ Hoạch định chính sách, của Bộ Ngoại giao.&lt;/div&gt;&lt;/td&gt;&lt;/tr&gt;
&lt;tr&gt;&lt;td class='diff-marker'&gt; &lt;/td&gt;&lt;td style=&quot;background-color: #f8f9fa; color: #202122; font-size: 88%; border-style: solid; border-width: 1px 1px 1px 4px; border-radius: 0.33em; border-color: #eaecf0; vertical-align: top; white-space: pre-wrap;&quot;&gt;&lt;/td&gt;&lt;td class='diff-marker'&gt; &lt;/td&gt;&lt;td style=&quot;background-color: #f8f9fa; color: #202122; font-size: 88%; border-style: solid; border-width: 1px 1px 1px 4px; border-radius: 0.33em; border-color: #eaecf0; vertical-align: top; white-space: pre-wrap;&quot;&gt;&lt;/td&gt;&lt;/tr&gt;
&lt;tr&gt;&lt;td class='diff-marker'&gt; &lt;/td&gt;&lt;td style=&quot;background-color: #f8f9fa; color: #202122; font-size: 88%; border-style: solid; border-width: 1px 1px 1px 4px; border-radius: 0.33em; border-color: #eaecf0; vertical-align: top; white-space: pre-wrap;&quot;&gt;&lt;div&gt;Trong bối cảnh mâu thuẫn Xô – Mỹ trở nên gay gắt, bằng ba văn kiện quan trọng: một bức điện dài 8.000 chữ (tháng 2.1946, khi là Đại biện lâm thời tại Liên Xô) và hai bài báo ký tên X trên tạp chí Các vấn đề đối ngoại vào 7.1947 và 4.1951, Kennan đã kiến nghị chiến lược “kiềm chế chủ nghĩa cộng sản”. Nội dung: 1) Liên Xô âm mưu mở rộng quyền lực ở châu Âu và các nơi khác bằng cách kiên trì gây sức ép nhằm làm suy yếu sức mạnh và ảnh hưởng của đối phương; 2) Liên Xô yếu hơn phương Tây và tương lai của quyền lực Liên Xô không có gì đảm bảo; 3) Nên tiến hành một chính sách kiềm chế kiên quyết chủ yếu bằng biện pháp kinh tế, chính trị và đặc biệt là chứng minh sự tốt đẹp của xã hội Hoa Kỳ buộc Liên Xô phải đối phó với các thế lực chống đối tại các khu vực mà họ âm mưu xâm phạm quyền lợi của phương Tây. Đồng thời, cần kiên nhẫn khuyến khích các thế lực cải cách chính tại Liên Xô tác động đến chính sách đối nội và đối ngoại của nước này.&lt;/div&gt;&lt;/td&gt;&lt;td class='diff-marker'&gt; &lt;/td&gt;&lt;td style=&quot;background-color: #f8f9fa; color: #202122; font-size: 88%; border-style: solid; border-width: 1px 1px 1px 4px; border-radius: 0.33em; border-color: #eaecf0; vertical-align: top; white-space: pre-wrap;&quot;&gt;&lt;div&gt;Trong bối cảnh mâu thuẫn Xô – Mỹ trở nên gay gắt, bằng ba văn kiện quan trọng: một bức điện dài 8.000 chữ (tháng 2.1946, khi là Đại biện lâm thời tại Liên Xô) và hai bài báo ký tên X trên tạp chí Các vấn đề đối ngoại vào 7.1947 và 4.1951, Kennan đã kiến nghị chiến lược “kiềm chế chủ nghĩa cộng sản”. Nội dung: 1) Liên Xô âm mưu mở rộng quyền lực ở châu Âu và các nơi khác bằng cách kiên trì gây sức ép nhằm làm suy yếu sức mạnh và ảnh hưởng của đối phương; 2) Liên Xô yếu hơn phương Tây và tương lai của quyền lực Liên Xô không có gì đảm bảo; 3) Nên tiến hành một chính sách kiềm chế kiên quyết chủ yếu bằng biện pháp kinh tế, chính trị và đặc biệt là chứng minh sự tốt đẹp của xã hội Hoa Kỳ buộc Liên Xô phải đối phó với các thế lực chống đối tại các khu vực mà họ âm mưu xâm phạm quyền lợi của phương Tây. Đồng thời, cần kiên nhẫn khuyến khích các thế lực cải cách chính tại Liên Xô tác động đến chính sách đối nội và đối ngoại của nước này.&lt;/div&gt;&lt;/td&gt;&lt;/tr&gt;

&lt;!-- diff cache key bktt:diff::1.12:old-19588:rev-19590 --&gt;
&lt;/table&gt;</summary>
		<author><name>Marrella</name></author>
	</entry>
	<entry>
		<id>https://bktt.vn/index.php?title=George_F._Kennan&amp;diff=19588&amp;oldid=prev</id>
		<title>Marrella vào lúc 09:37, ngày 13 tháng 7 năm 2022</title>
		<link rel="alternate" type="text/html" href="https://bktt.vn/index.php?title=George_F._Kennan&amp;diff=19588&amp;oldid=prev"/>
		<updated>2022-07-13T09:37:52Z</updated>

		<summary type="html">&lt;p&gt;&lt;/p&gt;
&lt;table class=&quot;diff diff-contentalign-left diff-editfont-monospace&quot; data-mw=&quot;interface&quot;&gt;
				&lt;col class=&quot;diff-marker&quot; /&gt;
				&lt;col class=&quot;diff-content&quot; /&gt;
				&lt;col class=&quot;diff-marker&quot; /&gt;
				&lt;col class=&quot;diff-content&quot; /&gt;
				&lt;tr class=&quot;diff-title&quot; lang=&quot;vi&quot;&gt;
				&lt;td colspan=&quot;2&quot; style=&quot;background-color: #fff; color: #202122; text-align: center;&quot;&gt;← Phiên bản cũ&lt;/td&gt;
				&lt;td colspan=&quot;2&quot; style=&quot;background-color: #fff; color: #202122; text-align: center;&quot;&gt;Phiên bản lúc 09:37, ngày 13 tháng 7 năm 2022&lt;/td&gt;
				&lt;/tr&gt;&lt;tr&gt;&lt;td colspan=&quot;2&quot; class=&quot;diff-lineno&quot; id=&quot;mw-diff-left-l3&quot; &gt;Dòng 3:&lt;/td&gt;
&lt;td colspan=&quot;2&quot; class=&quot;diff-lineno&quot;&gt;Dòng 3:&lt;/td&gt;&lt;/tr&gt;
&lt;tr&gt;&lt;td class='diff-marker'&gt; &lt;/td&gt;&lt;td style=&quot;background-color: #f8f9fa; color: #202122; font-size: 88%; border-style: solid; border-width: 1px 1px 1px 4px; border-radius: 0.33em; border-color: #eaecf0; vertical-align: top; white-space: pre-wrap;&quot;&gt;&lt;div&gt;'''George Frost Kennan''' (16 tháng 2 năm 1904 – 17 tháng 3 năm 2005) là một nhà ngoại giao và sử học Hoa Kỳ.&amp;lt;ref name=&amp;quot;Pelz&amp;quot;&amp;gt;{{cite journal | last1 = Pelz | first1 = Stephen | last2 = Miscamble | first2 = Wilson D. | title = The Sorrows of George F. Kennan | journal = Reviews in American History | date = December 1994 | volume = 22 | issue = 4 | page = 711 | doi = 10.2307/2702824 | jstor = 2702824 | s2cid = 56610397}}&amp;lt;/ref&amp;gt; Ông được biết đến nhiều nhất với tư cách tác giả của [[Bức điện Dài]] gửi về từ Moskva vào ngày 22 tháng 2 năm 1946 và [[Bài viết X]] đăng trên tạp chí ''[[Foreign Affairs]]'' tháng 7 năm 1947.&amp;lt;ref name=&amp;quot;Iatrides&amp;quot;&amp;gt;{{cite journal | last1 = Iatrides | first1 = John O. | title = George F. Kennan and the Birth of Containment: The Greek Test Case | journal = World Policy Journal | date = 1 September 2005 | volume = 22 | issue = 3 | pages = 126–145 | doi = 10.1215/07402775-2005-4005 | jstor = 40209983 | s2cid = 96486375}}&amp;lt;/ref&amp;gt; Trong đó, Kennan đề xuất yếu tố chủ chốt trong chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ với Liên Xô là &amp;quot;ngăn chặn xu hướng bành trướng lâu dài theo hướng nhẫn nại nhưng kiên quyết và cảnh giác&amp;quot;.&amp;lt;ref name=&amp;quot;Robert&amp;quot;&amp;gt;{{cite journal | last1 = Tucker | first1 = Robert C. | title = The Long Telegram: An Act of Political Leadership | journal = The Princeton University Library Chronicle | date = 2005 | volume = 66 | issue = 2 | page = 295 | doi = 10.25290/prinunivlibrchro.66.2.0295 | s2cid = 158575214 | doi-access = free}}&amp;lt;/ref&amp;gt; Qua đó, Kennan được xem như nhà sáng lập của một chiến lược đối ngoại đã chi phối nhận thức và hành động của chính phủ Hoa Kỳ suốt gần 50 năm.&amp;lt;ref name=&amp;quot;Iatrides&amp;quot;/&amp;gt; Tuy nhiên, các học giả tranh luận về tầm ảnh hưởng của Kennan còn bản thân Kennan thì hạ thấp vai trò của mình.&amp;lt;ref name=&amp;quot;Pelz&amp;quot;/&amp;gt;&lt;/div&gt;&lt;/td&gt;&lt;td class='diff-marker'&gt; &lt;/td&gt;&lt;td style=&quot;background-color: #f8f9fa; color: #202122; font-size: 88%; border-style: solid; border-width: 1px 1px 1px 4px; border-radius: 0.33em; border-color: #eaecf0; vertical-align: top; white-space: pre-wrap;&quot;&gt;&lt;div&gt;'''George Frost Kennan''' (16 tháng 2 năm 1904 – 17 tháng 3 năm 2005) là một nhà ngoại giao và sử học Hoa Kỳ.&amp;lt;ref name=&amp;quot;Pelz&amp;quot;&amp;gt;{{cite journal | last1 = Pelz | first1 = Stephen | last2 = Miscamble | first2 = Wilson D. | title = The Sorrows of George F. Kennan | journal = Reviews in American History | date = December 1994 | volume = 22 | issue = 4 | page = 711 | doi = 10.2307/2702824 | jstor = 2702824 | s2cid = 56610397}}&amp;lt;/ref&amp;gt; Ông được biết đến nhiều nhất với tư cách tác giả của [[Bức điện Dài]] gửi về từ Moskva vào ngày 22 tháng 2 năm 1946 và [[Bài viết X]] đăng trên tạp chí ''[[Foreign Affairs]]'' tháng 7 năm 1947.&amp;lt;ref name=&amp;quot;Iatrides&amp;quot;&amp;gt;{{cite journal | last1 = Iatrides | first1 = John O. | title = George F. Kennan and the Birth of Containment: The Greek Test Case | journal = World Policy Journal | date = 1 September 2005 | volume = 22 | issue = 3 | pages = 126–145 | doi = 10.1215/07402775-2005-4005 | jstor = 40209983 | s2cid = 96486375}}&amp;lt;/ref&amp;gt; Trong đó, Kennan đề xuất yếu tố chủ chốt trong chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ với Liên Xô là &amp;quot;ngăn chặn xu hướng bành trướng lâu dài theo hướng nhẫn nại nhưng kiên quyết và cảnh giác&amp;quot;.&amp;lt;ref name=&amp;quot;Robert&amp;quot;&amp;gt;{{cite journal | last1 = Tucker | first1 = Robert C. | title = The Long Telegram: An Act of Political Leadership | journal = The Princeton University Library Chronicle | date = 2005 | volume = 66 | issue = 2 | page = 295 | doi = 10.25290/prinunivlibrchro.66.2.0295 | s2cid = 158575214 | doi-access = free}}&amp;lt;/ref&amp;gt; Qua đó, Kennan được xem như nhà sáng lập của một chiến lược đối ngoại đã chi phối nhận thức và hành động của chính phủ Hoa Kỳ suốt gần 50 năm.&amp;lt;ref name=&amp;quot;Iatrides&amp;quot;/&amp;gt; Tuy nhiên, các học giả tranh luận về tầm ảnh hưởng của Kennan còn bản thân Kennan thì hạ thấp vai trò của mình.&amp;lt;ref name=&amp;quot;Pelz&amp;quot;/&amp;gt;&lt;/div&gt;&lt;/td&gt;&lt;/tr&gt;
&lt;tr&gt;&lt;td class='diff-marker'&gt; &lt;/td&gt;&lt;td style=&quot;background-color: #f8f9fa; color: #202122; font-size: 88%; border-style: solid; border-width: 1px 1px 1px 4px; border-radius: 0.33em; border-color: #eaecf0; vertical-align: top; white-space: pre-wrap;&quot;&gt;&lt;/td&gt;&lt;td class='diff-marker'&gt; &lt;/td&gt;&lt;td style=&quot;background-color: #f8f9fa; color: #202122; font-size: 88%; border-style: solid; border-width: 1px 1px 1px 4px; border-radius: 0.33em; border-color: #eaecf0; vertical-align: top; white-space: pre-wrap;&quot;&gt;&lt;/td&gt;&lt;/tr&gt;
&lt;tr&gt;&lt;td class='diff-marker'&gt;−&lt;/td&gt;&lt;td style=&quot;color: #202122; font-size: 88%; border-style: solid; border-width: 1px 1px 1px 4px; border-radius: 0.33em; border-color: #ffe49c; vertical-align: top; white-space: pre-wrap;&quot;&gt;&lt;div&gt;George Frost Kennan sinh ngày 16 tháng 2 năm 1904 ở [[Milwaukee]], [[Wincosin]], là con út trong gia đình có bốn người con.&amp;lt;ref name=&amp;quot;Linke&amp;quot;&amp;gt;{{cite journal | last1 = Linke | first1 = Daniel J. | last2 = Weeren | first2 =  ohn S. | title = The Life and Times of George F. Kennan, 1904–2005: A Centennial Retrospective | journal = The Princeton University Library Chronicle | date = 2005 | volume = 66 | issue = 2 | page = 265 | doi = 10.25290/prinunivlibrchro.66.2.0265 | s2cid = 165550128 | doi-access = free}}&amp;lt;/ref&amp;gt;{{sfn|Mayers|1990|p=17}} Ông từng học tại [[Học viện Quân sự St. John]] từ năm 1917 đến 1921 rồi đến [[Đại học Princeton]] từ 1921 đến 1925.{{sfn|Mayers|1990|p=xiii (chronology)}} Sau đó ông gia nhập Sở Ngoại giao mới thành lập, nắm giữ một vài chức vụ nhỏ ở châu Âu trước khi đến Đức và nghiên cứu về Liên Xô tại Đại học Berlin trong những năm 1929–1931.&amp;lt;ref name=&amp;quot;Linke&amp;quot;/&amp;gt;&amp;lt;ref name=&amp;quot;Stanke&amp;quot;&amp;gt;{{citation | last1 = Stanke | first1 = Jaclyn | title = Kennan, George (1905-2005) | date = 3 May 2018 | pages = 1–4 | publisher = John Wiley &amp;amp; Sons, Ltd | doi = 10.1002/9781118885154.dipl0438}}&amp;lt;/ref&amp;gt; Cuối năm 1933, Kennan được cử sang công tác tại đại sứ quán Hoa Kỳ ở Moskva cùng [[William Bullitt]], đại sứ Hoa Kỳ đầu tiên tại Liên Xô.{{sfn|Lukacs|2007|p=34}} &lt;del class=&quot;diffchange diffchange-inline&quot;&gt;Ông làm việc tại Moskva đến &lt;/del&gt;năm 1937 &lt;del class=&quot;diffchange diffchange-inline&quot;&gt;và sau đó được cử làm việc ở &lt;/del&gt;Viên&lt;del class=&quot;diffchange diffchange-inline&quot;&gt;, Áo&lt;/del&gt;, Praha&lt;del class=&quot;diffchange diffchange-inline&quot;&gt;, Séc&lt;/del&gt;, và Berlin&lt;del class=&quot;diffchange diffchange-inline&quot;&gt;, Đức, rồi Bồ Đào Nha. Sau đó lại đến Moskva &lt;/del&gt;vào &lt;del class=&quot;diffchange diffchange-inline&quot;&gt;những &lt;/del&gt;năm &lt;del class=&quot;diffchange diffchange-inline&quot;&gt;1944-1946&lt;/del&gt;. Cuối năm 1946, ông trở về Wáhington được bổ nhiệm làm Vụ Trưởng Vụ Hoạch định chính sách, của Bộ Ngoại giao.&lt;/div&gt;&lt;/td&gt;&lt;td class='diff-marker'&gt;+&lt;/td&gt;&lt;td style=&quot;color: #202122; font-size: 88%; border-style: solid; border-width: 1px 1px 1px 4px; border-radius: 0.33em; border-color: #a3d3ff; vertical-align: top; white-space: pre-wrap;&quot;&gt;&lt;div&gt;George Frost Kennan sinh ngày 16 tháng 2 năm 1904 ở [[Milwaukee]], [[Wincosin]], là con út trong gia đình có bốn người con.&amp;lt;ref name=&amp;quot;Linke&amp;quot;&amp;gt;{{cite journal | last1 = Linke | first1 = Daniel J. | last2 = Weeren | first2 =  ohn S. | title = The Life and Times of George F. Kennan, 1904–2005: A Centennial Retrospective | journal = The Princeton University Library Chronicle | date = 2005 | volume = 66 | issue = 2 | page = 265 | doi = 10.25290/prinunivlibrchro.66.2.0265 | s2cid = 165550128 | doi-access = free}}&amp;lt;/ref&amp;gt;{{sfn|Mayers|1990|p=17}} Ông từng học tại [[Học viện Quân sự St. John]] từ năm 1917 đến 1921 rồi đến [[Đại học Princeton]] từ 1921 đến 1925.{{sfn|Mayers|1990|p=xiii (chronology)}} Sau đó ông gia nhập Sở Ngoại giao mới thành lập, nắm giữ một vài chức vụ nhỏ ở châu Âu trước khi đến Đức và nghiên cứu về Liên Xô tại Đại học Berlin trong những năm 1929–1931.&amp;lt;ref name=&amp;quot;Linke&amp;quot;/&amp;gt;&amp;lt;ref name=&amp;quot;Stanke&amp;quot;&amp;gt;{{citation | last1 = Stanke | first1 = Jaclyn | title = Kennan, George (1905-2005) | date = 3 May 2018 | pages = 1–4 | publisher = John Wiley &amp;amp; Sons, Ltd | doi = 10.1002/9781118885154.dipl0438}}&amp;lt;/ref&amp;gt; Cuối năm 1933, Kennan được cử sang công tác tại đại sứ quán Hoa Kỳ ở Moskva cùng [[William Bullitt]], đại sứ Hoa Kỳ đầu tiên tại Liên Xô.{{sfn|Lukacs|2007|p=34}} &lt;ins class=&quot;diffchange diffchange-inline&quot;&gt;Kennan trở lại Hoa Kỳ &lt;/ins&gt;năm 1937 &lt;ins class=&quot;diffchange diffchange-inline&quot;&gt;rồi tiếp tục đến &lt;/ins&gt;Viên, Praha, và Berlin &lt;ins class=&quot;diffchange diffchange-inline&quot;&gt;khi [[Thế chiến II]] bùng nổ &lt;/ins&gt;vào năm &lt;ins class=&quot;diffchange diffchange-inline&quot;&gt;1939&lt;/ins&gt;.&lt;ins class=&quot;diffchange diffchange-inline&quot;&gt;&amp;lt;ref name=&amp;quot;Stanke&amp;quot;/&amp;gt; &lt;/ins&gt;Cuối năm 1946, ông trở về Wáhington được bổ nhiệm làm Vụ Trưởng Vụ Hoạch định chính sách, của Bộ Ngoại giao.&lt;/div&gt;&lt;/td&gt;&lt;/tr&gt;
&lt;tr&gt;&lt;td class='diff-marker'&gt; &lt;/td&gt;&lt;td style=&quot;background-color: #f8f9fa; color: #202122; font-size: 88%; border-style: solid; border-width: 1px 1px 1px 4px; border-radius: 0.33em; border-color: #eaecf0; vertical-align: top; white-space: pre-wrap;&quot;&gt;&lt;/td&gt;&lt;td class='diff-marker'&gt; &lt;/td&gt;&lt;td style=&quot;background-color: #f8f9fa; color: #202122; font-size: 88%; border-style: solid; border-width: 1px 1px 1px 4px; border-radius: 0.33em; border-color: #eaecf0; vertical-align: top; white-space: pre-wrap;&quot;&gt;&lt;/td&gt;&lt;/tr&gt;
&lt;tr&gt;&lt;td class='diff-marker'&gt; &lt;/td&gt;&lt;td style=&quot;background-color: #f8f9fa; color: #202122; font-size: 88%; border-style: solid; border-width: 1px 1px 1px 4px; border-radius: 0.33em; border-color: #eaecf0; vertical-align: top; white-space: pre-wrap;&quot;&gt;&lt;div&gt;Trong bối cảnh mâu thuẫn Xô – Mỹ trở nên gay gắt, bằng ba văn kiện quan trọng: một bức điện dài 8.000 chữ (tháng 2.1946, khi là Đại biện lâm thời tại Liên Xô) và hai bài báo ký tên X trên tạp chí Các vấn đề đối ngoại vào 7.1947 và 4.1951, Kennan đã kiến nghị chiến lược “kiềm chế chủ nghĩa cộng sản”. Nội dung: 1) Liên Xô âm mưu mở rộng quyền lực ở châu Âu và các nơi khác bằng cách kiên trì gây sức ép nhằm làm suy yếu sức mạnh và ảnh hưởng của đối phương; 2) Liên Xô yếu hơn phương Tây và tương lai của quyền lực Liên Xô không có gì đảm bảo; 3) Nên tiến hành một chính sách kiềm chế kiên quyết chủ yếu bằng biện pháp kinh tế, chính trị và đặc biệt là chứng minh sự tốt đẹp của xã hội Hoa Kỳ buộc Liên Xô phải đối phó với các thế lực chống đối tại các khu vực mà họ âm mưu xâm phạm quyền lợi của phương Tây. Đồng thời, cần kiên nhẫn khuyến khích các thế lực cải cách chính tại Liên Xô tác động đến chính sách đối nội và đối ngoại của nước này.&lt;/div&gt;&lt;/td&gt;&lt;td class='diff-marker'&gt; &lt;/td&gt;&lt;td style=&quot;background-color: #f8f9fa; color: #202122; font-size: 88%; border-style: solid; border-width: 1px 1px 1px 4px; border-radius: 0.33em; border-color: #eaecf0; vertical-align: top; white-space: pre-wrap;&quot;&gt;&lt;div&gt;Trong bối cảnh mâu thuẫn Xô – Mỹ trở nên gay gắt, bằng ba văn kiện quan trọng: một bức điện dài 8.000 chữ (tháng 2.1946, khi là Đại biện lâm thời tại Liên Xô) và hai bài báo ký tên X trên tạp chí Các vấn đề đối ngoại vào 7.1947 và 4.1951, Kennan đã kiến nghị chiến lược “kiềm chế chủ nghĩa cộng sản”. Nội dung: 1) Liên Xô âm mưu mở rộng quyền lực ở châu Âu và các nơi khác bằng cách kiên trì gây sức ép nhằm làm suy yếu sức mạnh và ảnh hưởng của đối phương; 2) Liên Xô yếu hơn phương Tây và tương lai của quyền lực Liên Xô không có gì đảm bảo; 3) Nên tiến hành một chính sách kiềm chế kiên quyết chủ yếu bằng biện pháp kinh tế, chính trị và đặc biệt là chứng minh sự tốt đẹp của xã hội Hoa Kỳ buộc Liên Xô phải đối phó với các thế lực chống đối tại các khu vực mà họ âm mưu xâm phạm quyền lợi của phương Tây. Đồng thời, cần kiên nhẫn khuyến khích các thế lực cải cách chính tại Liên Xô tác động đến chính sách đối nội và đối ngoại của nước này.&lt;/div&gt;&lt;/td&gt;&lt;/tr&gt;
&lt;tr&gt;&lt;td colspan=&quot;2&quot; class=&quot;diff-lineno&quot; id=&quot;mw-diff-left-l22&quot; &gt;Dòng 22:&lt;/td&gt;
&lt;td colspan=&quot;2&quot; class=&quot;diff-lineno&quot;&gt;Dòng 22:&lt;/td&gt;&lt;/tr&gt;
&lt;tr&gt;&lt;td class='diff-marker'&gt; &lt;/td&gt;&lt;td style=&quot;background-color: #f8f9fa; color: #202122; font-size: 88%; border-style: solid; border-width: 1px 1px 1px 4px; border-radius: 0.33em; border-color: #eaecf0; vertical-align: top; white-space: pre-wrap;&quot;&gt;&lt;div&gt;== Tài liệu tham khảo ==&lt;/div&gt;&lt;/td&gt;&lt;td class='diff-marker'&gt; &lt;/td&gt;&lt;td style=&quot;background-color: #f8f9fa; color: #202122; font-size: 88%; border-style: solid; border-width: 1px 1px 1px 4px; border-radius: 0.33em; border-color: #eaecf0; vertical-align: top; white-space: pre-wrap;&quot;&gt;&lt;div&gt;== Tài liệu tham khảo ==&lt;/div&gt;&lt;/td&gt;&lt;/tr&gt;
&lt;tr&gt;&lt;td class='diff-marker'&gt; &lt;/td&gt;&lt;td style=&quot;background-color: #f8f9fa; color: #202122; font-size: 88%; border-style: solid; border-width: 1px 1px 1px 4px; border-radius: 0.33em; border-color: #eaecf0; vertical-align: top; white-space: pre-wrap;&quot;&gt;&lt;div&gt;*{{cite book | last = Mayers | first = David | date = 1990 | title = George Kennan and the Dilemmas of US Foreign Policy | publisher = Oxford University Press | isbn = 0-19-505139-4}}&lt;/div&gt;&lt;/td&gt;&lt;td class='diff-marker'&gt; &lt;/td&gt;&lt;td style=&quot;background-color: #f8f9fa; color: #202122; font-size: 88%; border-style: solid; border-width: 1px 1px 1px 4px; border-radius: 0.33em; border-color: #eaecf0; vertical-align: top; white-space: pre-wrap;&quot;&gt;&lt;div&gt;*{{cite book | last = Mayers | first = David | date = 1990 | title = George Kennan and the Dilemmas of US Foreign Policy | publisher = Oxford University Press | isbn = 0-19-505139-4}}&lt;/div&gt;&lt;/td&gt;&lt;/tr&gt;
&lt;tr&gt;&lt;td class='diff-marker'&gt;−&lt;/td&gt;&lt;td style=&quot;color: #202122; font-size: 88%; border-style: solid; border-width: 1px 1px 1px 4px; border-radius: 0.33em; border-color: #ffe49c; vertical-align: top; white-space: pre-wrap;&quot;&gt;&lt;div&gt;*{{cite book | last = Lukacs | first = John | date = 2007 | title = George Kennan: A Study of Character | publisher = Yale University Press | isbn = 978-0-300-12221-3}}&lt;del class=&quot;diffchange diffchange-inline&quot;&gt;&amp;lt;/ref&amp;gt;&lt;/del&gt;&lt;/div&gt;&lt;/td&gt;&lt;td class='diff-marker'&gt;+&lt;/td&gt;&lt;td style=&quot;color: #202122; font-size: 88%; border-style: solid; border-width: 1px 1px 1px 4px; border-radius: 0.33em; border-color: #a3d3ff; vertical-align: top; white-space: pre-wrap;&quot;&gt;&lt;div&gt;*{{cite book | last = Lukacs | first = John | date = 2007 | title = George Kennan: A Study of Character | publisher = Yale University Press | isbn = 978-0-300-12221-3}}&lt;/div&gt;&lt;/td&gt;&lt;/tr&gt;
&lt;tr&gt;&lt;td class='diff-marker'&gt; &lt;/td&gt;&lt;td style=&quot;background-color: #f8f9fa; color: #202122; font-size: 88%; border-style: solid; border-width: 1px 1px 1px 4px; border-radius: 0.33em; border-color: #eaecf0; vertical-align: top; white-space: pre-wrap;&quot;&gt;&lt;div&gt;*Kennan, George F. Sketches from a Life, New York, 1989&lt;/div&gt;&lt;/td&gt;&lt;td class='diff-marker'&gt; &lt;/td&gt;&lt;td style=&quot;background-color: #f8f9fa; color: #202122; font-size: 88%; border-style: solid; border-width: 1px 1px 1px 4px; border-radius: 0.33em; border-color: #eaecf0; vertical-align: top; white-space: pre-wrap;&quot;&gt;&lt;div&gt;*Kennan, George F. Sketches from a Life, New York, 1989&lt;/div&gt;&lt;/td&gt;&lt;/tr&gt;
&lt;tr&gt;&lt;td class='diff-marker'&gt; &lt;/td&gt;&lt;td style=&quot;background-color: #f8f9fa; color: #202122; font-size: 88%; border-style: solid; border-width: 1px 1px 1px 4px; border-radius: 0.33em; border-color: #eaecf0; vertical-align: top; white-space: pre-wrap;&quot;&gt;&lt;div&gt;*Kennan, George F., The Kennan Diaries, New York: John Lukacs (ed.), George F. Kennan and the Origins of Containment, 1944–1946: The Kennan-Lukacs Correspondence. (University of Missouri Press, 1997.&lt;/div&gt;&lt;/td&gt;&lt;td class='diff-marker'&gt; &lt;/td&gt;&lt;td style=&quot;background-color: #f8f9fa; color: #202122; font-size: 88%; border-style: solid; border-width: 1px 1px 1px 4px; border-radius: 0.33em; border-color: #eaecf0; vertical-align: top; white-space: pre-wrap;&quot;&gt;&lt;div&gt;*Kennan, George F., The Kennan Diaries, New York: John Lukacs (ed.), George F. Kennan and the Origins of Containment, 1944–1946: The Kennan-Lukacs Correspondence. (University of Missouri Press, 1997.&lt;/div&gt;&lt;/td&gt;&lt;/tr&gt;
&lt;tr&gt;&lt;td class='diff-marker'&gt; &lt;/td&gt;&lt;td style=&quot;background-color: #f8f9fa; color: #202122; font-size: 88%; border-style: solid; border-width: 1px 1px 1px 4px; border-radius: 0.33em; border-color: #eaecf0; vertical-align: top; white-space: pre-wrap;&quot;&gt;&lt;div&gt;*X (July 1947), The Sources of Soviet Conduct&amp;quot;, Foreign Affairs, 25&lt;/div&gt;&lt;/td&gt;&lt;td class='diff-marker'&gt; &lt;/td&gt;&lt;td style=&quot;background-color: #f8f9fa; color: #202122; font-size: 88%; border-style: solid; border-width: 1px 1px 1px 4px; border-radius: 0.33em; border-color: #eaecf0; vertical-align: top; white-space: pre-wrap;&quot;&gt;&lt;div&gt;*X (July 1947), The Sources of Soviet Conduct&amp;quot;, Foreign Affairs, 25&lt;/div&gt;&lt;/td&gt;&lt;/tr&gt;
&lt;/table&gt;</summary>
		<author><name>Marrella</name></author>
	</entry>
	<entry>
		<id>https://bktt.vn/index.php?title=George_F._Kennan&amp;diff=19587&amp;oldid=prev</id>
		<title>Marrella vào lúc 09:19, ngày 13 tháng 7 năm 2022</title>
		<link rel="alternate" type="text/html" href="https://bktt.vn/index.php?title=George_F._Kennan&amp;diff=19587&amp;oldid=prev"/>
		<updated>2022-07-13T09:19:17Z</updated>

		<summary type="html">&lt;p&gt;&lt;/p&gt;
&lt;table class=&quot;diff diff-contentalign-left diff-editfont-monospace&quot; data-mw=&quot;interface&quot;&gt;
				&lt;col class=&quot;diff-marker&quot; /&gt;
				&lt;col class=&quot;diff-content&quot; /&gt;
				&lt;col class=&quot;diff-marker&quot; /&gt;
				&lt;col class=&quot;diff-content&quot; /&gt;
				&lt;tr class=&quot;diff-title&quot; lang=&quot;vi&quot;&gt;
				&lt;td colspan=&quot;2&quot; style=&quot;background-color: #fff; color: #202122; text-align: center;&quot;&gt;← Phiên bản cũ&lt;/td&gt;
				&lt;td colspan=&quot;2&quot; style=&quot;background-color: #fff; color: #202122; text-align: center;&quot;&gt;Phiên bản lúc 09:19, ngày 13 tháng 7 năm 2022&lt;/td&gt;
				&lt;/tr&gt;&lt;tr&gt;&lt;td colspan=&quot;2&quot; class=&quot;diff-lineno&quot; id=&quot;mw-diff-left-l3&quot; &gt;Dòng 3:&lt;/td&gt;
&lt;td colspan=&quot;2&quot; class=&quot;diff-lineno&quot;&gt;Dòng 3:&lt;/td&gt;&lt;/tr&gt;
&lt;tr&gt;&lt;td class='diff-marker'&gt; &lt;/td&gt;&lt;td style=&quot;background-color: #f8f9fa; color: #202122; font-size: 88%; border-style: solid; border-width: 1px 1px 1px 4px; border-radius: 0.33em; border-color: #eaecf0; vertical-align: top; white-space: pre-wrap;&quot;&gt;&lt;div&gt;'''George Frost Kennan''' (16 tháng 2 năm 1904 – 17 tháng 3 năm 2005) là một nhà ngoại giao và sử học Hoa Kỳ.&amp;lt;ref name=&amp;quot;Pelz&amp;quot;&amp;gt;{{cite journal | last1 = Pelz | first1 = Stephen | last2 = Miscamble | first2 = Wilson D. | title = The Sorrows of George F. Kennan | journal = Reviews in American History | date = December 1994 | volume = 22 | issue = 4 | page = 711 | doi = 10.2307/2702824 | jstor = 2702824 | s2cid = 56610397}}&amp;lt;/ref&amp;gt; Ông được biết đến nhiều nhất với tư cách tác giả của [[Bức điện Dài]] gửi về từ Moskva vào ngày 22 tháng 2 năm 1946 và [[Bài viết X]] đăng trên tạp chí ''[[Foreign Affairs]]'' tháng 7 năm 1947.&amp;lt;ref name=&amp;quot;Iatrides&amp;quot;&amp;gt;{{cite journal | last1 = Iatrides | first1 = John O. | title = George F. Kennan and the Birth of Containment: The Greek Test Case | journal = World Policy Journal | date = 1 September 2005 | volume = 22 | issue = 3 | pages = 126–145 | doi = 10.1215/07402775-2005-4005 | jstor = 40209983 | s2cid = 96486375}}&amp;lt;/ref&amp;gt; Trong đó, Kennan đề xuất yếu tố chủ chốt trong chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ với Liên Xô là &amp;quot;ngăn chặn xu hướng bành trướng lâu dài theo hướng nhẫn nại nhưng kiên quyết và cảnh giác&amp;quot;.&amp;lt;ref name=&amp;quot;Robert&amp;quot;&amp;gt;{{cite journal | last1 = Tucker | first1 = Robert C. | title = The Long Telegram: An Act of Political Leadership | journal = The Princeton University Library Chronicle | date = 2005 | volume = 66 | issue = 2 | page = 295 | doi = 10.25290/prinunivlibrchro.66.2.0295 | s2cid = 158575214 | doi-access = free}}&amp;lt;/ref&amp;gt; Qua đó, Kennan được xem như nhà sáng lập của một chiến lược đối ngoại đã chi phối nhận thức và hành động của chính phủ Hoa Kỳ suốt gần 50 năm.&amp;lt;ref name=&amp;quot;Iatrides&amp;quot;/&amp;gt; Tuy nhiên, các học giả tranh luận về tầm ảnh hưởng của Kennan còn bản thân Kennan thì hạ thấp vai trò của mình.&amp;lt;ref name=&amp;quot;Pelz&amp;quot;/&amp;gt;&lt;/div&gt;&lt;/td&gt;&lt;td class='diff-marker'&gt; &lt;/td&gt;&lt;td style=&quot;background-color: #f8f9fa; color: #202122; font-size: 88%; border-style: solid; border-width: 1px 1px 1px 4px; border-radius: 0.33em; border-color: #eaecf0; vertical-align: top; white-space: pre-wrap;&quot;&gt;&lt;div&gt;'''George Frost Kennan''' (16 tháng 2 năm 1904 – 17 tháng 3 năm 2005) là một nhà ngoại giao và sử học Hoa Kỳ.&amp;lt;ref name=&amp;quot;Pelz&amp;quot;&amp;gt;{{cite journal | last1 = Pelz | first1 = Stephen | last2 = Miscamble | first2 = Wilson D. | title = The Sorrows of George F. Kennan | journal = Reviews in American History | date = December 1994 | volume = 22 | issue = 4 | page = 711 | doi = 10.2307/2702824 | jstor = 2702824 | s2cid = 56610397}}&amp;lt;/ref&amp;gt; Ông được biết đến nhiều nhất với tư cách tác giả của [[Bức điện Dài]] gửi về từ Moskva vào ngày 22 tháng 2 năm 1946 và [[Bài viết X]] đăng trên tạp chí ''[[Foreign Affairs]]'' tháng 7 năm 1947.&amp;lt;ref name=&amp;quot;Iatrides&amp;quot;&amp;gt;{{cite journal | last1 = Iatrides | first1 = John O. | title = George F. Kennan and the Birth of Containment: The Greek Test Case | journal = World Policy Journal | date = 1 September 2005 | volume = 22 | issue = 3 | pages = 126–145 | doi = 10.1215/07402775-2005-4005 | jstor = 40209983 | s2cid = 96486375}}&amp;lt;/ref&amp;gt; Trong đó, Kennan đề xuất yếu tố chủ chốt trong chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ với Liên Xô là &amp;quot;ngăn chặn xu hướng bành trướng lâu dài theo hướng nhẫn nại nhưng kiên quyết và cảnh giác&amp;quot;.&amp;lt;ref name=&amp;quot;Robert&amp;quot;&amp;gt;{{cite journal | last1 = Tucker | first1 = Robert C. | title = The Long Telegram: An Act of Political Leadership | journal = The Princeton University Library Chronicle | date = 2005 | volume = 66 | issue = 2 | page = 295 | doi = 10.25290/prinunivlibrchro.66.2.0295 | s2cid = 158575214 | doi-access = free}}&amp;lt;/ref&amp;gt; Qua đó, Kennan được xem như nhà sáng lập của một chiến lược đối ngoại đã chi phối nhận thức và hành động của chính phủ Hoa Kỳ suốt gần 50 năm.&amp;lt;ref name=&amp;quot;Iatrides&amp;quot;/&amp;gt; Tuy nhiên, các học giả tranh luận về tầm ảnh hưởng của Kennan còn bản thân Kennan thì hạ thấp vai trò của mình.&amp;lt;ref name=&amp;quot;Pelz&amp;quot;/&amp;gt;&lt;/div&gt;&lt;/td&gt;&lt;/tr&gt;
&lt;tr&gt;&lt;td class='diff-marker'&gt; &lt;/td&gt;&lt;td style=&quot;background-color: #f8f9fa; color: #202122; font-size: 88%; border-style: solid; border-width: 1px 1px 1px 4px; border-radius: 0.33em; border-color: #eaecf0; vertical-align: top; white-space: pre-wrap;&quot;&gt;&lt;/td&gt;&lt;td class='diff-marker'&gt; &lt;/td&gt;&lt;td style=&quot;background-color: #f8f9fa; color: #202122; font-size: 88%; border-style: solid; border-width: 1px 1px 1px 4px; border-radius: 0.33em; border-color: #eaecf0; vertical-align: top; white-space: pre-wrap;&quot;&gt;&lt;/td&gt;&lt;/tr&gt;
&lt;tr&gt;&lt;td class='diff-marker'&gt;−&lt;/td&gt;&lt;td style=&quot;color: #202122; font-size: 88%; border-style: solid; border-width: 1px 1px 1px 4px; border-radius: 0.33em; border-color: #ffe49c; vertical-align: top; white-space: pre-wrap;&quot;&gt;&lt;div&gt;George Frost Kennan sinh ngày 16 tháng 2 năm 1904 ở [[Milwaukee]], [[Wincosin]], là con út trong gia đình có bốn người con.&amp;lt;ref name=&amp;quot;Linke&amp;quot;&amp;gt;{{cite journal | last1 = Linke | first1 = Daniel J. | last2 = Weeren | first2 =  ohn S. | title = The Life and Times of George F. Kennan, 1904–2005: A Centennial Retrospective | journal = The Princeton University Library Chronicle | date = 2005 | volume = 66 | issue = 2 | page = 265 | doi = 10.25290/prinunivlibrchro.66.2.0265 | s2cid = 165550128 | doi-access = free}}&amp;lt;/ref&amp;gt;{{sfn|Mayers|1990|p=17}} Ông từng học tại [[Học viện Quân sự St. John]] từ năm 1917 đến 1921 rồi đến [[Đại học Princeton]] từ 1921 đến 1925.{{sfn|Mayers|1990|p=xiii (chronology)}} Sau đó ông gia nhập Sở Ngoại giao mới thành lập, nắm giữ một vài chức vụ nhỏ ở châu Âu trước khi đến Đức và nghiên cứu về Liên Xô tại Đại học Berlin trong những năm 1929–1931.&amp;lt;ref name=&amp;quot;Linke&amp;quot;/&amp;gt;&amp;lt;ref name=&amp;quot;Stanke&amp;quot;&amp;gt;{{citation | last1 = Stanke | first1 = Jaclyn | title = Kennan, George (1905-2005) | date = 3 May 2018 | pages = 1–4 | publisher = John Wiley &amp;amp; Sons, Ltd | doi = 10.1002/9781118885154.dipl0438}}&amp;lt;/ref&amp;gt; Cuối năm 1933, Kennan được cử sang công tác tại đại sứ quán Hoa Kỳ ở Moskva cùng [[William Bullitt]], đại sứ Hoa Kỳ đầu tiên tại Liên Xô. Ông làm việc tại Moskva đến năm 1937 và sau đó được cử làm việc ở Viên, Áo, Praha, Séc, và Berlin, Đức, rồi Bồ Đào Nha. Sau đó lại đến Moskva vào những năm 1944-1946. Cuối năm 1946, ông trở về Wáhington được bổ nhiệm làm Vụ Trưởng Vụ Hoạch định chính sách, của Bộ Ngoại giao.&lt;/div&gt;&lt;/td&gt;&lt;td class='diff-marker'&gt;+&lt;/td&gt;&lt;td style=&quot;color: #202122; font-size: 88%; border-style: solid; border-width: 1px 1px 1px 4px; border-radius: 0.33em; border-color: #a3d3ff; vertical-align: top; white-space: pre-wrap;&quot;&gt;&lt;div&gt;George Frost Kennan sinh ngày 16 tháng 2 năm 1904 ở [[Milwaukee]], [[Wincosin]], là con út trong gia đình có bốn người con.&amp;lt;ref name=&amp;quot;Linke&amp;quot;&amp;gt;{{cite journal | last1 = Linke | first1 = Daniel J. | last2 = Weeren | first2 =  ohn S. | title = The Life and Times of George F. Kennan, 1904–2005: A Centennial Retrospective | journal = The Princeton University Library Chronicle | date = 2005 | volume = 66 | issue = 2 | page = 265 | doi = 10.25290/prinunivlibrchro.66.2.0265 | s2cid = 165550128 | doi-access = free}}&amp;lt;/ref&amp;gt;{{sfn|Mayers|1990|p=17}} Ông từng học tại [[Học viện Quân sự St. John]] từ năm 1917 đến 1921 rồi đến [[Đại học Princeton]] từ 1921 đến 1925.{{sfn|Mayers|1990|p=xiii (chronology)}} Sau đó ông gia nhập Sở Ngoại giao mới thành lập, nắm giữ một vài chức vụ nhỏ ở châu Âu trước khi đến Đức và nghiên cứu về Liên Xô tại Đại học Berlin trong những năm 1929–1931.&amp;lt;ref name=&amp;quot;Linke&amp;quot;/&amp;gt;&amp;lt;ref name=&amp;quot;Stanke&amp;quot;&amp;gt;{{citation | last1 = Stanke | first1 = Jaclyn | title = Kennan, George (1905-2005) | date = 3 May 2018 | pages = 1–4 | publisher = John Wiley &amp;amp; Sons, Ltd | doi = 10.1002/9781118885154.dipl0438}}&amp;lt;/ref&amp;gt; Cuối năm 1933, Kennan được cử sang công tác tại đại sứ quán Hoa Kỳ ở Moskva cùng [[William Bullitt]], đại sứ Hoa Kỳ đầu tiên tại Liên Xô.&lt;ins class=&quot;diffchange diffchange-inline&quot;&gt;{{sfn|Lukacs|2007|p=34}} &lt;/ins&gt;Ông làm việc tại Moskva đến năm 1937 và sau đó được cử làm việc ở Viên, Áo, Praha, Séc, và Berlin, Đức, rồi Bồ Đào Nha. Sau đó lại đến Moskva vào những năm 1944-1946. Cuối năm 1946, ông trở về Wáhington được bổ nhiệm làm Vụ Trưởng Vụ Hoạch định chính sách, của Bộ Ngoại giao.&lt;/div&gt;&lt;/td&gt;&lt;/tr&gt;
&lt;tr&gt;&lt;td class='diff-marker'&gt; &lt;/td&gt;&lt;td style=&quot;background-color: #f8f9fa; color: #202122; font-size: 88%; border-style: solid; border-width: 1px 1px 1px 4px; border-radius: 0.33em; border-color: #eaecf0; vertical-align: top; white-space: pre-wrap;&quot;&gt;&lt;/td&gt;&lt;td class='diff-marker'&gt; &lt;/td&gt;&lt;td style=&quot;background-color: #f8f9fa; color: #202122; font-size: 88%; border-style: solid; border-width: 1px 1px 1px 4px; border-radius: 0.33em; border-color: #eaecf0; vertical-align: top; white-space: pre-wrap;&quot;&gt;&lt;/td&gt;&lt;/tr&gt;
&lt;tr&gt;&lt;td class='diff-marker'&gt; &lt;/td&gt;&lt;td style=&quot;background-color: #f8f9fa; color: #202122; font-size: 88%; border-style: solid; border-width: 1px 1px 1px 4px; border-radius: 0.33em; border-color: #eaecf0; vertical-align: top; white-space: pre-wrap;&quot;&gt;&lt;div&gt;Trong bối cảnh mâu thuẫn Xô – Mỹ trở nên gay gắt, bằng ba văn kiện quan trọng: một bức điện dài 8.000 chữ (tháng 2.1946, khi là Đại biện lâm thời tại Liên Xô) và hai bài báo ký tên X trên tạp chí Các vấn đề đối ngoại vào 7.1947 và 4.1951, Kennan đã kiến nghị chiến lược “kiềm chế chủ nghĩa cộng sản”. Nội dung: 1) Liên Xô âm mưu mở rộng quyền lực ở châu Âu và các nơi khác bằng cách kiên trì gây sức ép nhằm làm suy yếu sức mạnh và ảnh hưởng của đối phương; 2) Liên Xô yếu hơn phương Tây và tương lai của quyền lực Liên Xô không có gì đảm bảo; 3) Nên tiến hành một chính sách kiềm chế kiên quyết chủ yếu bằng biện pháp kinh tế, chính trị và đặc biệt là chứng minh sự tốt đẹp của xã hội Hoa Kỳ buộc Liên Xô phải đối phó với các thế lực chống đối tại các khu vực mà họ âm mưu xâm phạm quyền lợi của phương Tây. Đồng thời, cần kiên nhẫn khuyến khích các thế lực cải cách chính tại Liên Xô tác động đến chính sách đối nội và đối ngoại của nước này.&lt;/div&gt;&lt;/td&gt;&lt;td class='diff-marker'&gt; &lt;/td&gt;&lt;td style=&quot;background-color: #f8f9fa; color: #202122; font-size: 88%; border-style: solid; border-width: 1px 1px 1px 4px; border-radius: 0.33em; border-color: #eaecf0; vertical-align: top; white-space: pre-wrap;&quot;&gt;&lt;div&gt;Trong bối cảnh mâu thuẫn Xô – Mỹ trở nên gay gắt, bằng ba văn kiện quan trọng: một bức điện dài 8.000 chữ (tháng 2.1946, khi là Đại biện lâm thời tại Liên Xô) và hai bài báo ký tên X trên tạp chí Các vấn đề đối ngoại vào 7.1947 và 4.1951, Kennan đã kiến nghị chiến lược “kiềm chế chủ nghĩa cộng sản”. Nội dung: 1) Liên Xô âm mưu mở rộng quyền lực ở châu Âu và các nơi khác bằng cách kiên trì gây sức ép nhằm làm suy yếu sức mạnh và ảnh hưởng của đối phương; 2) Liên Xô yếu hơn phương Tây và tương lai của quyền lực Liên Xô không có gì đảm bảo; 3) Nên tiến hành một chính sách kiềm chế kiên quyết chủ yếu bằng biện pháp kinh tế, chính trị và đặc biệt là chứng minh sự tốt đẹp của xã hội Hoa Kỳ buộc Liên Xô phải đối phó với các thế lực chống đối tại các khu vực mà họ âm mưu xâm phạm quyền lợi của phương Tây. Đồng thời, cần kiên nhẫn khuyến khích các thế lực cải cách chính tại Liên Xô tác động đến chính sách đối nội và đối ngoại của nước này.&lt;/div&gt;&lt;/td&gt;&lt;/tr&gt;
&lt;tr&gt;&lt;td colspan=&quot;2&quot; class=&quot;diff-lineno&quot; id=&quot;mw-diff-left-l22&quot; &gt;Dòng 22:&lt;/td&gt;
&lt;td colspan=&quot;2&quot; class=&quot;diff-lineno&quot;&gt;Dòng 22:&lt;/td&gt;&lt;/tr&gt;
&lt;tr&gt;&lt;td class='diff-marker'&gt; &lt;/td&gt;&lt;td style=&quot;background-color: #f8f9fa; color: #202122; font-size: 88%; border-style: solid; border-width: 1px 1px 1px 4px; border-radius: 0.33em; border-color: #eaecf0; vertical-align: top; white-space: pre-wrap;&quot;&gt;&lt;div&gt;== Tài liệu tham khảo ==&lt;/div&gt;&lt;/td&gt;&lt;td class='diff-marker'&gt; &lt;/td&gt;&lt;td style=&quot;background-color: #f8f9fa; color: #202122; font-size: 88%; border-style: solid; border-width: 1px 1px 1px 4px; border-radius: 0.33em; border-color: #eaecf0; vertical-align: top; white-space: pre-wrap;&quot;&gt;&lt;div&gt;== Tài liệu tham khảo ==&lt;/div&gt;&lt;/td&gt;&lt;/tr&gt;
&lt;tr&gt;&lt;td class='diff-marker'&gt; &lt;/td&gt;&lt;td style=&quot;background-color: #f8f9fa; color: #202122; font-size: 88%; border-style: solid; border-width: 1px 1px 1px 4px; border-radius: 0.33em; border-color: #eaecf0; vertical-align: top; white-space: pre-wrap;&quot;&gt;&lt;div&gt;*{{cite book | last = Mayers | first = David | date = 1990 | title = George Kennan and the Dilemmas of US Foreign Policy | publisher = Oxford University Press | isbn = 0-19-505139-4}}&lt;/div&gt;&lt;/td&gt;&lt;td class='diff-marker'&gt; &lt;/td&gt;&lt;td style=&quot;background-color: #f8f9fa; color: #202122; font-size: 88%; border-style: solid; border-width: 1px 1px 1px 4px; border-radius: 0.33em; border-color: #eaecf0; vertical-align: top; white-space: pre-wrap;&quot;&gt;&lt;div&gt;*{{cite book | last = Mayers | first = David | date = 1990 | title = George Kennan and the Dilemmas of US Foreign Policy | publisher = Oxford University Press | isbn = 0-19-505139-4}}&lt;/div&gt;&lt;/td&gt;&lt;/tr&gt;
&lt;tr&gt;&lt;td colspan=&quot;2&quot;&gt; &lt;/td&gt;&lt;td class='diff-marker'&gt;+&lt;/td&gt;&lt;td style=&quot;color: #202122; font-size: 88%; border-style: solid; border-width: 1px 1px 1px 4px; border-radius: 0.33em; border-color: #a3d3ff; vertical-align: top; white-space: pre-wrap;&quot;&gt;&lt;div&gt;&lt;ins style=&quot;font-weight: bold; text-decoration: none;&quot;&gt;*{{cite book | last = Lukacs | first = John | date = 2007 | title = George Kennan: A Study of Character | publisher = Yale University Press | isbn = 978-0-300-12221-3}}&amp;lt;/ref&amp;gt;&lt;/ins&gt;&lt;/div&gt;&lt;/td&gt;&lt;/tr&gt;
&lt;tr&gt;&lt;td class='diff-marker'&gt; &lt;/td&gt;&lt;td style=&quot;background-color: #f8f9fa; color: #202122; font-size: 88%; border-style: solid; border-width: 1px 1px 1px 4px; border-radius: 0.33em; border-color: #eaecf0; vertical-align: top; white-space: pre-wrap;&quot;&gt;&lt;div&gt;*Kennan, George F. Sketches from a Life, New York, 1989&lt;/div&gt;&lt;/td&gt;&lt;td class='diff-marker'&gt; &lt;/td&gt;&lt;td style=&quot;background-color: #f8f9fa; color: #202122; font-size: 88%; border-style: solid; border-width: 1px 1px 1px 4px; border-radius: 0.33em; border-color: #eaecf0; vertical-align: top; white-space: pre-wrap;&quot;&gt;&lt;div&gt;*Kennan, George F. Sketches from a Life, New York, 1989&lt;/div&gt;&lt;/td&gt;&lt;/tr&gt;
&lt;tr&gt;&lt;td class='diff-marker'&gt; &lt;/td&gt;&lt;td style=&quot;background-color: #f8f9fa; color: #202122; font-size: 88%; border-style: solid; border-width: 1px 1px 1px 4px; border-radius: 0.33em; border-color: #eaecf0; vertical-align: top; white-space: pre-wrap;&quot;&gt;&lt;div&gt;*Kennan, George F., The Kennan Diaries, New York: John Lukacs (ed.), George F. Kennan and the Origins of Containment, 1944–1946: The Kennan-Lukacs Correspondence. (University of Missouri Press, 1997.&lt;/div&gt;&lt;/td&gt;&lt;td class='diff-marker'&gt; &lt;/td&gt;&lt;td style=&quot;background-color: #f8f9fa; color: #202122; font-size: 88%; border-style: solid; border-width: 1px 1px 1px 4px; border-radius: 0.33em; border-color: #eaecf0; vertical-align: top; white-space: pre-wrap;&quot;&gt;&lt;div&gt;*Kennan, George F., The Kennan Diaries, New York: John Lukacs (ed.), George F. Kennan and the Origins of Containment, 1944–1946: The Kennan-Lukacs Correspondence. (University of Missouri Press, 1997.&lt;/div&gt;&lt;/td&gt;&lt;/tr&gt;
&lt;tr&gt;&lt;td class='diff-marker'&gt; &lt;/td&gt;&lt;td style=&quot;background-color: #f8f9fa; color: #202122; font-size: 88%; border-style: solid; border-width: 1px 1px 1px 4px; border-radius: 0.33em; border-color: #eaecf0; vertical-align: top; white-space: pre-wrap;&quot;&gt;&lt;div&gt;*X (July 1947), The Sources of Soviet Conduct&amp;quot;, Foreign Affairs, 25&lt;/div&gt;&lt;/td&gt;&lt;td class='diff-marker'&gt; &lt;/td&gt;&lt;td style=&quot;background-color: #f8f9fa; color: #202122; font-size: 88%; border-style: solid; border-width: 1px 1px 1px 4px; border-radius: 0.33em; border-color: #eaecf0; vertical-align: top; white-space: pre-wrap;&quot;&gt;&lt;div&gt;*X (July 1947), The Sources of Soviet Conduct&amp;quot;, Foreign Affairs, 25&lt;/div&gt;&lt;/td&gt;&lt;/tr&gt;
&lt;/table&gt;</summary>
		<author><name>Marrella</name></author>
	</entry>
	<entry>
		<id>https://bktt.vn/index.php?title=George_F._Kennan&amp;diff=19586&amp;oldid=prev</id>
		<title>Marrella vào lúc 09:15, ngày 13 tháng 7 năm 2022</title>
		<link rel="alternate" type="text/html" href="https://bktt.vn/index.php?title=George_F._Kennan&amp;diff=19586&amp;oldid=prev"/>
		<updated>2022-07-13T09:15:28Z</updated>

		<summary type="html">&lt;p&gt;&lt;/p&gt;
&lt;table class=&quot;diff diff-contentalign-left diff-editfont-monospace&quot; data-mw=&quot;interface&quot;&gt;
				&lt;col class=&quot;diff-marker&quot; /&gt;
				&lt;col class=&quot;diff-content&quot; /&gt;
				&lt;col class=&quot;diff-marker&quot; /&gt;
				&lt;col class=&quot;diff-content&quot; /&gt;
				&lt;tr class=&quot;diff-title&quot; lang=&quot;vi&quot;&gt;
				&lt;td colspan=&quot;2&quot; style=&quot;background-color: #fff; color: #202122; text-align: center;&quot;&gt;← Phiên bản cũ&lt;/td&gt;
				&lt;td colspan=&quot;2&quot; style=&quot;background-color: #fff; color: #202122; text-align: center;&quot;&gt;Phiên bản lúc 09:15, ngày 13 tháng 7 năm 2022&lt;/td&gt;
				&lt;/tr&gt;&lt;tr&gt;&lt;td colspan=&quot;2&quot; class=&quot;diff-lineno&quot; id=&quot;mw-diff-left-l3&quot; &gt;Dòng 3:&lt;/td&gt;
&lt;td colspan=&quot;2&quot; class=&quot;diff-lineno&quot;&gt;Dòng 3:&lt;/td&gt;&lt;/tr&gt;
&lt;tr&gt;&lt;td class='diff-marker'&gt; &lt;/td&gt;&lt;td style=&quot;background-color: #f8f9fa; color: #202122; font-size: 88%; border-style: solid; border-width: 1px 1px 1px 4px; border-radius: 0.33em; border-color: #eaecf0; vertical-align: top; white-space: pre-wrap;&quot;&gt;&lt;div&gt;'''George Frost Kennan''' (16 tháng 2 năm 1904 – 17 tháng 3 năm 2005) là một nhà ngoại giao và sử học Hoa Kỳ.&amp;lt;ref name=&amp;quot;Pelz&amp;quot;&amp;gt;{{cite journal | last1 = Pelz | first1 = Stephen | last2 = Miscamble | first2 = Wilson D. | title = The Sorrows of George F. Kennan | journal = Reviews in American History | date = December 1994 | volume = 22 | issue = 4 | page = 711 | doi = 10.2307/2702824 | jstor = 2702824 | s2cid = 56610397}}&amp;lt;/ref&amp;gt; Ông được biết đến nhiều nhất với tư cách tác giả của [[Bức điện Dài]] gửi về từ Moskva vào ngày 22 tháng 2 năm 1946 và [[Bài viết X]] đăng trên tạp chí ''[[Foreign Affairs]]'' tháng 7 năm 1947.&amp;lt;ref name=&amp;quot;Iatrides&amp;quot;&amp;gt;{{cite journal | last1 = Iatrides | first1 = John O. | title = George F. Kennan and the Birth of Containment: The Greek Test Case | journal = World Policy Journal | date = 1 September 2005 | volume = 22 | issue = 3 | pages = 126–145 | doi = 10.1215/07402775-2005-4005 | jstor = 40209983 | s2cid = 96486375}}&amp;lt;/ref&amp;gt; Trong đó, Kennan đề xuất yếu tố chủ chốt trong chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ với Liên Xô là &amp;quot;ngăn chặn xu hướng bành trướng lâu dài theo hướng nhẫn nại nhưng kiên quyết và cảnh giác&amp;quot;.&amp;lt;ref name=&amp;quot;Robert&amp;quot;&amp;gt;{{cite journal | last1 = Tucker | first1 = Robert C. | title = The Long Telegram: An Act of Political Leadership | journal = The Princeton University Library Chronicle | date = 2005 | volume = 66 | issue = 2 | page = 295 | doi = 10.25290/prinunivlibrchro.66.2.0295 | s2cid = 158575214 | doi-access = free}}&amp;lt;/ref&amp;gt; Qua đó, Kennan được xem như nhà sáng lập của một chiến lược đối ngoại đã chi phối nhận thức và hành động của chính phủ Hoa Kỳ suốt gần 50 năm.&amp;lt;ref name=&amp;quot;Iatrides&amp;quot;/&amp;gt; Tuy nhiên, các học giả tranh luận về tầm ảnh hưởng của Kennan còn bản thân Kennan thì hạ thấp vai trò của mình.&amp;lt;ref name=&amp;quot;Pelz&amp;quot;/&amp;gt;&lt;/div&gt;&lt;/td&gt;&lt;td class='diff-marker'&gt; &lt;/td&gt;&lt;td style=&quot;background-color: #f8f9fa; color: #202122; font-size: 88%; border-style: solid; border-width: 1px 1px 1px 4px; border-radius: 0.33em; border-color: #eaecf0; vertical-align: top; white-space: pre-wrap;&quot;&gt;&lt;div&gt;'''George Frost Kennan''' (16 tháng 2 năm 1904 – 17 tháng 3 năm 2005) là một nhà ngoại giao và sử học Hoa Kỳ.&amp;lt;ref name=&amp;quot;Pelz&amp;quot;&amp;gt;{{cite journal | last1 = Pelz | first1 = Stephen | last2 = Miscamble | first2 = Wilson D. | title = The Sorrows of George F. Kennan | journal = Reviews in American History | date = December 1994 | volume = 22 | issue = 4 | page = 711 | doi = 10.2307/2702824 | jstor = 2702824 | s2cid = 56610397}}&amp;lt;/ref&amp;gt; Ông được biết đến nhiều nhất với tư cách tác giả của [[Bức điện Dài]] gửi về từ Moskva vào ngày 22 tháng 2 năm 1946 và [[Bài viết X]] đăng trên tạp chí ''[[Foreign Affairs]]'' tháng 7 năm 1947.&amp;lt;ref name=&amp;quot;Iatrides&amp;quot;&amp;gt;{{cite journal | last1 = Iatrides | first1 = John O. | title = George F. Kennan and the Birth of Containment: The Greek Test Case | journal = World Policy Journal | date = 1 September 2005 | volume = 22 | issue = 3 | pages = 126–145 | doi = 10.1215/07402775-2005-4005 | jstor = 40209983 | s2cid = 96486375}}&amp;lt;/ref&amp;gt; Trong đó, Kennan đề xuất yếu tố chủ chốt trong chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ với Liên Xô là &amp;quot;ngăn chặn xu hướng bành trướng lâu dài theo hướng nhẫn nại nhưng kiên quyết và cảnh giác&amp;quot;.&amp;lt;ref name=&amp;quot;Robert&amp;quot;&amp;gt;{{cite journal | last1 = Tucker | first1 = Robert C. | title = The Long Telegram: An Act of Political Leadership | journal = The Princeton University Library Chronicle | date = 2005 | volume = 66 | issue = 2 | page = 295 | doi = 10.25290/prinunivlibrchro.66.2.0295 | s2cid = 158575214 | doi-access = free}}&amp;lt;/ref&amp;gt; Qua đó, Kennan được xem như nhà sáng lập của một chiến lược đối ngoại đã chi phối nhận thức và hành động của chính phủ Hoa Kỳ suốt gần 50 năm.&amp;lt;ref name=&amp;quot;Iatrides&amp;quot;/&amp;gt; Tuy nhiên, các học giả tranh luận về tầm ảnh hưởng của Kennan còn bản thân Kennan thì hạ thấp vai trò của mình.&amp;lt;ref name=&amp;quot;Pelz&amp;quot;/&amp;gt;&lt;/div&gt;&lt;/td&gt;&lt;/tr&gt;
&lt;tr&gt;&lt;td class='diff-marker'&gt; &lt;/td&gt;&lt;td style=&quot;background-color: #f8f9fa; color: #202122; font-size: 88%; border-style: solid; border-width: 1px 1px 1px 4px; border-radius: 0.33em; border-color: #eaecf0; vertical-align: top; white-space: pre-wrap;&quot;&gt;&lt;/td&gt;&lt;td class='diff-marker'&gt; &lt;/td&gt;&lt;td style=&quot;background-color: #f8f9fa; color: #202122; font-size: 88%; border-style: solid; border-width: 1px 1px 1px 4px; border-radius: 0.33em; border-color: #eaecf0; vertical-align: top; white-space: pre-wrap;&quot;&gt;&lt;/td&gt;&lt;/tr&gt;
&lt;tr&gt;&lt;td class='diff-marker'&gt;−&lt;/td&gt;&lt;td style=&quot;color: #202122; font-size: 88%; border-style: solid; border-width: 1px 1px 1px 4px; border-radius: 0.33em; border-color: #ffe49c; vertical-align: top; white-space: pre-wrap;&quot;&gt;&lt;div&gt;George Frost Kennan sinh ngày 16 tháng 2 năm 1904 ở [[Milwaukee]], [[Wincosin]], là con út trong gia đình có bốn người con.&amp;lt;ref name=&amp;quot;Linke&amp;quot;&amp;gt;{{cite journal | last1 = Linke | first1 = Daniel J. | last2 = Weeren | first2 =  ohn S. | title = The Life and Times of George F. Kennan, 1904–2005: A Centennial Retrospective | journal = The Princeton University Library Chronicle | date = 2005 | volume = 66 | issue = 2 | page = 265 | doi = 10.25290/prinunivlibrchro.66.2.0265 | s2cid = 165550128 | doi-access = free}}&amp;lt;/ref&amp;gt;{{sfn|Mayers|1990|p=17}} Ông từng học tại [[Học viện Quân sự St. John]] từ năm 1917 đến 1921 rồi đến [[Đại học Princeton]] từ 1921 đến 1925.{{sfn|Mayers|1990|p=xiii (chronology)}} Sau đó ông gia nhập Sở Ngoại giao mới thành lập, nắm giữ một vài chức vụ nhỏ ở châu Âu trước khi đến Đức và nghiên cứu về Liên Xô tại Đại học Berlin trong những năm 1929–1931.&amp;lt;ref name=&amp;quot;Linke&amp;quot;/&amp;gt;&amp;lt;ref name=&amp;quot;Stanke&amp;quot;&amp;gt;{{citation | last1 = Stanke | first1 = Jaclyn | title = Kennan, George (1905-2005) | date = 3 May 2018 | pages = 1–4 | publisher = John Wiley &amp;amp; Sons, Ltd | doi = 10.1002/9781118885154.dipl0438}}&amp;lt;/ref&amp;gt; &lt;del class=&quot;diffchange diffchange-inline&quot;&gt;Năm &lt;/del&gt;1933, &lt;del class=&quot;diffchange diffchange-inline&quot;&gt;Hoa Kỳ và Liên Xô thiết lập quan hệ ngoại giao, ông đươc &lt;/del&gt;cử sang công tác tại &lt;del class=&quot;diffchange diffchange-inline&quot;&gt;Đại Sứ &lt;/del&gt;quán Hoa Kỳ &lt;del class=&quot;diffchange diffchange-inline&quot;&gt;tại &lt;/del&gt;Moskva cùng &lt;del class=&quot;diffchange diffchange-inline&quot;&gt;với &lt;/del&gt;đại sứ &lt;del class=&quot;diffchange diffchange-inline&quot;&gt;William C. Bullitt&lt;/del&gt;. Ông làm việc tại Moskva đến năm 1937 và sau đó được cử làm việc ở Viên, Áo, Praha, Séc, và Berlin, Đức, rồi Bồ Đào Nha. Sau đó lại đến Moskva vào những năm 1944-1946. Cuối năm 1946, ông trở về Wáhington được bổ nhiệm làm Vụ Trưởng Vụ Hoạch định chính sách, của Bộ Ngoại giao.&lt;/div&gt;&lt;/td&gt;&lt;td class='diff-marker'&gt;+&lt;/td&gt;&lt;td style=&quot;color: #202122; font-size: 88%; border-style: solid; border-width: 1px 1px 1px 4px; border-radius: 0.33em; border-color: #a3d3ff; vertical-align: top; white-space: pre-wrap;&quot;&gt;&lt;div&gt;George Frost Kennan sinh ngày 16 tháng 2 năm 1904 ở [[Milwaukee]], [[Wincosin]], là con út trong gia đình có bốn người con.&amp;lt;ref name=&amp;quot;Linke&amp;quot;&amp;gt;{{cite journal | last1 = Linke | first1 = Daniel J. | last2 = Weeren | first2 =  ohn S. | title = The Life and Times of George F. Kennan, 1904–2005: A Centennial Retrospective | journal = The Princeton University Library Chronicle | date = 2005 | volume = 66 | issue = 2 | page = 265 | doi = 10.25290/prinunivlibrchro.66.2.0265 | s2cid = 165550128 | doi-access = free}}&amp;lt;/ref&amp;gt;{{sfn|Mayers|1990|p=17}} Ông từng học tại [[Học viện Quân sự St. John]] từ năm 1917 đến 1921 rồi đến [[Đại học Princeton]] từ 1921 đến 1925.{{sfn|Mayers|1990|p=xiii (chronology)}} Sau đó ông gia nhập Sở Ngoại giao mới thành lập, nắm giữ một vài chức vụ nhỏ ở châu Âu trước khi đến Đức và nghiên cứu về Liên Xô tại Đại học Berlin trong những năm 1929–1931.&amp;lt;ref name=&amp;quot;Linke&amp;quot;/&amp;gt;&amp;lt;ref name=&amp;quot;Stanke&amp;quot;&amp;gt;{{citation | last1 = Stanke | first1 = Jaclyn | title = Kennan, George (1905-2005) | date = 3 May 2018 | pages = 1–4 | publisher = John Wiley &amp;amp; Sons, Ltd | doi = 10.1002/9781118885154.dipl0438}}&amp;lt;/ref&amp;gt; &lt;ins class=&quot;diffchange diffchange-inline&quot;&gt;Cuối năm &lt;/ins&gt;1933, &lt;ins class=&quot;diffchange diffchange-inline&quot;&gt;Kennan được &lt;/ins&gt;cử sang công tác tại &lt;ins class=&quot;diffchange diffchange-inline&quot;&gt;đại sứ &lt;/ins&gt;quán Hoa Kỳ &lt;ins class=&quot;diffchange diffchange-inline&quot;&gt;ở &lt;/ins&gt;Moskva cùng &lt;ins class=&quot;diffchange diffchange-inline&quot;&gt;[[William Bullitt]], &lt;/ins&gt;đại sứ &lt;ins class=&quot;diffchange diffchange-inline&quot;&gt;Hoa Kỳ đầu tiên tại Liên Xô&lt;/ins&gt;. Ông làm việc tại Moskva đến năm 1937 và sau đó được cử làm việc ở Viên, Áo, Praha, Séc, và Berlin, Đức, rồi Bồ Đào Nha. Sau đó lại đến Moskva vào những năm 1944-1946. Cuối năm 1946, ông trở về Wáhington được bổ nhiệm làm Vụ Trưởng Vụ Hoạch định chính sách, của Bộ Ngoại giao.&lt;/div&gt;&lt;/td&gt;&lt;/tr&gt;
&lt;tr&gt;&lt;td class='diff-marker'&gt; &lt;/td&gt;&lt;td style=&quot;background-color: #f8f9fa; color: #202122; font-size: 88%; border-style: solid; border-width: 1px 1px 1px 4px; border-radius: 0.33em; border-color: #eaecf0; vertical-align: top; white-space: pre-wrap;&quot;&gt;&lt;/td&gt;&lt;td class='diff-marker'&gt; &lt;/td&gt;&lt;td style=&quot;background-color: #f8f9fa; color: #202122; font-size: 88%; border-style: solid; border-width: 1px 1px 1px 4px; border-radius: 0.33em; border-color: #eaecf0; vertical-align: top; white-space: pre-wrap;&quot;&gt;&lt;/td&gt;&lt;/tr&gt;
&lt;tr&gt;&lt;td class='diff-marker'&gt; &lt;/td&gt;&lt;td style=&quot;background-color: #f8f9fa; color: #202122; font-size: 88%; border-style: solid; border-width: 1px 1px 1px 4px; border-radius: 0.33em; border-color: #eaecf0; vertical-align: top; white-space: pre-wrap;&quot;&gt;&lt;div&gt;Trong bối cảnh mâu thuẫn Xô – Mỹ trở nên gay gắt, bằng ba văn kiện quan trọng: một bức điện dài 8.000 chữ (tháng 2.1946, khi là Đại biện lâm thời tại Liên Xô) và hai bài báo ký tên X trên tạp chí Các vấn đề đối ngoại vào 7.1947 và 4.1951, Kennan đã kiến nghị chiến lược “kiềm chế chủ nghĩa cộng sản”. Nội dung: 1) Liên Xô âm mưu mở rộng quyền lực ở châu Âu và các nơi khác bằng cách kiên trì gây sức ép nhằm làm suy yếu sức mạnh và ảnh hưởng của đối phương; 2) Liên Xô yếu hơn phương Tây và tương lai của quyền lực Liên Xô không có gì đảm bảo; 3) Nên tiến hành một chính sách kiềm chế kiên quyết chủ yếu bằng biện pháp kinh tế, chính trị và đặc biệt là chứng minh sự tốt đẹp của xã hội Hoa Kỳ buộc Liên Xô phải đối phó với các thế lực chống đối tại các khu vực mà họ âm mưu xâm phạm quyền lợi của phương Tây. Đồng thời, cần kiên nhẫn khuyến khích các thế lực cải cách chính tại Liên Xô tác động đến chính sách đối nội và đối ngoại của nước này.&lt;/div&gt;&lt;/td&gt;&lt;td class='diff-marker'&gt; &lt;/td&gt;&lt;td style=&quot;background-color: #f8f9fa; color: #202122; font-size: 88%; border-style: solid; border-width: 1px 1px 1px 4px; border-radius: 0.33em; border-color: #eaecf0; vertical-align: top; white-space: pre-wrap;&quot;&gt;&lt;div&gt;Trong bối cảnh mâu thuẫn Xô – Mỹ trở nên gay gắt, bằng ba văn kiện quan trọng: một bức điện dài 8.000 chữ (tháng 2.1946, khi là Đại biện lâm thời tại Liên Xô) và hai bài báo ký tên X trên tạp chí Các vấn đề đối ngoại vào 7.1947 và 4.1951, Kennan đã kiến nghị chiến lược “kiềm chế chủ nghĩa cộng sản”. Nội dung: 1) Liên Xô âm mưu mở rộng quyền lực ở châu Âu và các nơi khác bằng cách kiên trì gây sức ép nhằm làm suy yếu sức mạnh và ảnh hưởng của đối phương; 2) Liên Xô yếu hơn phương Tây và tương lai của quyền lực Liên Xô không có gì đảm bảo; 3) Nên tiến hành một chính sách kiềm chế kiên quyết chủ yếu bằng biện pháp kinh tế, chính trị và đặc biệt là chứng minh sự tốt đẹp của xã hội Hoa Kỳ buộc Liên Xô phải đối phó với các thế lực chống đối tại các khu vực mà họ âm mưu xâm phạm quyền lợi của phương Tây. Đồng thời, cần kiên nhẫn khuyến khích các thế lực cải cách chính tại Liên Xô tác động đến chính sách đối nội và đối ngoại của nước này.&lt;/div&gt;&lt;/td&gt;&lt;/tr&gt;
&lt;/table&gt;</summary>
		<author><name>Marrella</name></author>
	</entry>
</feed>