<?xml version="1.0"?>
<feed xmlns="http://www.w3.org/2005/Atom" xml:lang="vi">
	<id>https://bktt.vn/index.php?action=history&amp;feed=atom&amp;title=B%C3%A1t_b%E1%BB%ADu</id>
	<title>Bát bửu - Lịch sử thay đổi</title>
	<link rel="self" type="application/atom+xml" href="https://bktt.vn/index.php?action=history&amp;feed=atom&amp;title=B%C3%A1t_b%E1%BB%ADu"/>
	<link rel="alternate" type="text/html" href="https://bktt.vn/index.php?title=B%C3%A1t_b%E1%BB%ADu&amp;action=history"/>
	<updated>2026-06-01T19:50:28Z</updated>
	<subtitle>Lịch sử thay đổi của trang này ở wiki</subtitle>
	<generator>MediaWiki 1.35.0</generator>
	<entry>
		<id>https://bktt.vn/index.php?title=B%C3%A1t_b%E1%BB%ADu&amp;diff=13307&amp;oldid=prev</id>
		<title>Tttrung: /* Bát bửu Đạo giáo */</title>
		<link rel="alternate" type="text/html" href="https://bktt.vn/index.php?title=B%C3%A1t_b%E1%BB%ADu&amp;diff=13307&amp;oldid=prev"/>
		<updated>2021-04-12T14:00:56Z</updated>

		<summary type="html">&lt;p&gt;&lt;span dir=&quot;auto&quot;&gt;&lt;span class=&quot;autocomment&quot;&gt;Bát bửu Đạo giáo&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/p&gt;
&lt;table class=&quot;diff diff-contentalign-left diff-editfont-monospace&quot; data-mw=&quot;interface&quot;&gt;
				&lt;col class=&quot;diff-marker&quot; /&gt;
				&lt;col class=&quot;diff-content&quot; /&gt;
				&lt;col class=&quot;diff-marker&quot; /&gt;
				&lt;col class=&quot;diff-content&quot; /&gt;
				&lt;tr class=&quot;diff-title&quot; lang=&quot;vi&quot;&gt;
				&lt;td colspan=&quot;2&quot; style=&quot;background-color: #fff; color: #202122; text-align: center;&quot;&gt;← Phiên bản cũ&lt;/td&gt;
				&lt;td colspan=&quot;2&quot; style=&quot;background-color: #fff; color: #202122; text-align: center;&quot;&gt;Phiên bản lúc 14:00, ngày 12 tháng 4 năm 2021&lt;/td&gt;
				&lt;/tr&gt;&lt;tr&gt;&lt;td colspan=&quot;2&quot; class=&quot;diff-lineno&quot; id=&quot;mw-diff-left-l22&quot; &gt;Dòng 22:&lt;/td&gt;
&lt;td colspan=&quot;2&quot; class=&quot;diff-lineno&quot;&gt;Dòng 22:&lt;/td&gt;&lt;/tr&gt;
&lt;tr&gt;&lt;td class='diff-marker'&gt; &lt;/td&gt;&lt;td style=&quot;background-color: #f8f9fa; color: #202122; font-size: 88%; border-style: solid; border-width: 1px 1px 1px 4px; border-radius: 0.33em; border-color: #eaecf0; vertical-align: top; white-space: pre-wrap;&quot;&gt;&lt;/td&gt;&lt;td class='diff-marker'&gt; &lt;/td&gt;&lt;td style=&quot;background-color: #f8f9fa; color: #202122; font-size: 88%; border-style: solid; border-width: 1px 1px 1px 4px; border-radius: 0.33em; border-color: #eaecf0; vertical-align: top; white-space: pre-wrap;&quot;&gt;&lt;/td&gt;&lt;/tr&gt;
&lt;tr&gt;&lt;td class='diff-marker'&gt; &lt;/td&gt;&lt;td style=&quot;background-color: #f8f9fa; color: #202122; font-size: 88%; border-style: solid; border-width: 1px 1px 1px 4px; border-radius: 0.33em; border-color: #eaecf0; vertical-align: top; white-space: pre-wrap;&quot;&gt;&lt;div&gt;Ngoài ra, còn có bát bửu chấp kích, còn gọi là Lỗ Bộ, là những đồ binh khí dùng để rước hoặc cắm vào giá để trần, như một “trấn phong” đặt ở cung vua, phủ quan hay các đền, đình, miếu, nhà thờ họ... Gồm những vũ khí như mác, kích, cờ tiết mao và bảng có chữ “Tĩnh Túc” và “Hồi Tị”, chùy, quả đấm, búa,  kiếm, song kiếm, trường thương, đại đao, đoản đao, siêu, roi, xà mâu, mác, khiên, giáo, cung tên, rìu, côn. Các vũ khí được cắm trong giá gỗ để làm đồ trang trí, và để tỏ ra uy quyền, khi bày, đặt chỉ cần chọn 8 vật. Thông thường có thể gọi một vài vật đơn, như là bình-kích chỉ một thứ vũ khí (kích) đọc âm tiếng Hán là “ki” đồng ấm với từ “cấp”, lến cấp bậc. Vì vậy nó biểu trưng cho sự thăng tiến nhanh (thăng tiến tam cấp). Trong một số trang trí bát bửu, có đồ án cái một cái kích vào độc bình thì đó là biểu trưng cho sự bình an và đại cát vì trong một nghĩa cổ, từ “kích” đồng âm với “cát” (những điều tốt lành). Ngoài ra còn có sự thể hiện “bình và cái yên ngựa” phối hợp với gậy như ý cũng biểu thị cho sự bình an, vạn sự như ý.&lt;/div&gt;&lt;/td&gt;&lt;td class='diff-marker'&gt; &lt;/td&gt;&lt;td style=&quot;background-color: #f8f9fa; color: #202122; font-size: 88%; border-style: solid; border-width: 1px 1px 1px 4px; border-radius: 0.33em; border-color: #eaecf0; vertical-align: top; white-space: pre-wrap;&quot;&gt;&lt;div&gt;Ngoài ra, còn có bát bửu chấp kích, còn gọi là Lỗ Bộ, là những đồ binh khí dùng để rước hoặc cắm vào giá để trần, như một “trấn phong” đặt ở cung vua, phủ quan hay các đền, đình, miếu, nhà thờ họ... Gồm những vũ khí như mác, kích, cờ tiết mao và bảng có chữ “Tĩnh Túc” và “Hồi Tị”, chùy, quả đấm, búa,  kiếm, song kiếm, trường thương, đại đao, đoản đao, siêu, roi, xà mâu, mác, khiên, giáo, cung tên, rìu, côn. Các vũ khí được cắm trong giá gỗ để làm đồ trang trí, và để tỏ ra uy quyền, khi bày, đặt chỉ cần chọn 8 vật. Thông thường có thể gọi một vài vật đơn, như là bình-kích chỉ một thứ vũ khí (kích) đọc âm tiếng Hán là “ki” đồng ấm với từ “cấp”, lến cấp bậc. Vì vậy nó biểu trưng cho sự thăng tiến nhanh (thăng tiến tam cấp). Trong một số trang trí bát bửu, có đồ án cái một cái kích vào độc bình thì đó là biểu trưng cho sự bình an và đại cát vì trong một nghĩa cổ, từ “kích” đồng âm với “cát” (những điều tốt lành). Ngoài ra còn có sự thể hiện “bình và cái yên ngựa” phối hợp với gậy như ý cũng biểu thị cho sự bình an, vạn sự như ý.&lt;/div&gt;&lt;/td&gt;&lt;/tr&gt;
&lt;tr&gt;&lt;td class='diff-marker'&gt;−&lt;/td&gt;&lt;td style=&quot;color: #202122; font-size: 88%; border-style: solid; border-width: 1px 1px 1px 4px; border-radius: 0.33em; border-color: #ffe49c; vertical-align: top; white-space: pre-wrap;&quot;&gt;&lt;div&gt; &lt;/div&gt;&lt;/td&gt;&lt;td class='diff-marker'&gt;+&lt;/td&gt;&lt;td style=&quot;color: #202122; font-size: 88%; border-style: solid; border-width: 1px 1px 1px 4px; border-radius: 0.33em; border-color: #a3d3ff; vertical-align: top; white-space: pre-wrap;&quot;&gt;&lt;div&gt;&lt;ins class=&quot;diffchange diffchange-inline&quot;&gt;==Ý nghĩa chung==&lt;/ins&gt;&lt;/div&gt;&lt;/td&gt;&lt;/tr&gt;
&lt;tr&gt;&lt;td class='diff-marker'&gt; &lt;/td&gt;&lt;td style=&quot;background-color: #f8f9fa; color: #202122; font-size: 88%; border-style: solid; border-width: 1px 1px 1px 4px; border-radius: 0.33em; border-color: #eaecf0; vertical-align: top; white-space: pre-wrap;&quot;&gt;&lt;div&gt;Những ý nghĩa sâu xa và gắn liền với mong ước về cuộc sống viên mãn, hạnh phúc của bát bửu đã làm cho hình tượng bát bửu luôn có mặt trong ý niệm tinh thần của các triều đại phong kiến ở Việt Nam. Đồng thời bát bửu cũng có ảnh hưởng sâu rộng, có chổ đứng bền vững trong tâm thức dân gian và tạo ra vô số biến thể độc đáo trong nhu cầu tâm linh - thẩm mỹ của người dân Việt, đặc biệt là nở rộ vào thời Nguyễn. Đó là quá trình mà Trần Văn Tốt trong Nhập môn nghệ thuật cổ Việt Nam đã đánh giá: “ ... nghệ thuật Việt Nam đã dần dần đi sâu vào một tính cách riêng của nó. Trong một số sản phẩm, ở đó nó hoàn toàn cởi bỏ những tiêu chuẩn cổ điển, nó chính là sự biểu hiện một sáng tạo tự phát và một cảm xúc rung động”.&amp;lt;ref&amp;gt;Trần Văn Tốt (1969), ''Nhập môn nghệ thuật cổ Việt Nam'', tập san Hội Nghiên cứu Đông Dương, số 1, Paris, tr.88&amp;lt;/ref&amp;gt; Mặt khác cũng cần phải chú ý đến sự chuyển thế của bát bửu trong liên kết các hình tượng từ điển tích như ông tam tinh (Thọ tinh, Lộc tinh, Phúc tinh). Ông Thọ không chỉ với trái đào trường thọ mà còn cầm trái bầu thắt và gậy trúc nhiều mắt tượng trưng trường sinh bất lão với kiểu thức: Thọ tỉ nam sơn”, “ Phúc thọ vẹn toàn” hay hình tượng ban phúc tặng của báu của Phúc tinh trong nề đắp nổi. Hình tượng thần Tài cũng gắn với các vật quý trong bát bửu như thần Tài với biểu tượng đồng tiền, xâu tiền. Thần Tài còn cầm cây như ý bên cạnh “núi” tiền, ngân lượng. Áo thần Tài trang trí tam sơn,  châu ngọc. Của kiểu thức “Cung hỷ phát tài” rất quen thuộc trong tranh khảm xã cừ và tranh gương cổ. Thỉnh thoảng trong chạm khảm xà cừ còn có hình tượng Lưu Hải ban tiền với xâu tiền buộc thành dây để nhảy múa. Hình tượng những cậu bé, cô bé bụ bẩm, khôi ngô, khỏa mạnh xuất hiện trong tranh nề và chạm đồ gỗ trang trí với hình ảnh em bé thổi sáo, cầm cái khánh theo kiểu thức “Phúc thọ trường lạc”. Phúc thọ cát khánh”. Một số kiểu thức mang tính phối hợp các vật quý để mở rộng ý nghĩa của hình tượng như trong chạm gỗ có cái khánh với như ý với ý nghĩa tốt lành như ý, hoa sen với như ý và giỏ kim chi với ý nghĩa hòa hợp như ý, cặp dơi với cái khánh với ý nghĩa song phúc như ý,  kết hợp hoa văn cái khánh với nút huyền bí với ý nghĩa trăm sự như ý (bách cát như ý), kết hợp cây bút với như ý mang ý nghĩa mọi việc đã định đều vẹn toàn như ý muốn. Ngoài ra còn có những sự kết hợp khác trong bát tiên với những ý nghĩa tương tự theo các đồ án trang trí cổ phương Đông, tiêu biểu là sự kết hợp của các cặp vật quý bát bửu như kiếm với quạt, phách nhịp (nhạc) với hoa sen, trái bầu thắt (thái cực, hồ lô, bầu vũ trụ, bầu rượu) với ngư cổ, lẵng hoa với ống sáo...&lt;/div&gt;&lt;/td&gt;&lt;td class='diff-marker'&gt; &lt;/td&gt;&lt;td style=&quot;background-color: #f8f9fa; color: #202122; font-size: 88%; border-style: solid; border-width: 1px 1px 1px 4px; border-radius: 0.33em; border-color: #eaecf0; vertical-align: top; white-space: pre-wrap;&quot;&gt;&lt;div&gt;Những ý nghĩa sâu xa và gắn liền với mong ước về cuộc sống viên mãn, hạnh phúc của bát bửu đã làm cho hình tượng bát bửu luôn có mặt trong ý niệm tinh thần của các triều đại phong kiến ở Việt Nam. Đồng thời bát bửu cũng có ảnh hưởng sâu rộng, có chổ đứng bền vững trong tâm thức dân gian và tạo ra vô số biến thể độc đáo trong nhu cầu tâm linh - thẩm mỹ của người dân Việt, đặc biệt là nở rộ vào thời Nguyễn. Đó là quá trình mà Trần Văn Tốt trong Nhập môn nghệ thuật cổ Việt Nam đã đánh giá: “ ... nghệ thuật Việt Nam đã dần dần đi sâu vào một tính cách riêng của nó. Trong một số sản phẩm, ở đó nó hoàn toàn cởi bỏ những tiêu chuẩn cổ điển, nó chính là sự biểu hiện một sáng tạo tự phát và một cảm xúc rung động”.&amp;lt;ref&amp;gt;Trần Văn Tốt (1969), ''Nhập môn nghệ thuật cổ Việt Nam'', tập san Hội Nghiên cứu Đông Dương, số 1, Paris, tr.88&amp;lt;/ref&amp;gt; Mặt khác cũng cần phải chú ý đến sự chuyển thế của bát bửu trong liên kết các hình tượng từ điển tích như ông tam tinh (Thọ tinh, Lộc tinh, Phúc tinh). Ông Thọ không chỉ với trái đào trường thọ mà còn cầm trái bầu thắt và gậy trúc nhiều mắt tượng trưng trường sinh bất lão với kiểu thức: Thọ tỉ nam sơn”, “ Phúc thọ vẹn toàn” hay hình tượng ban phúc tặng của báu của Phúc tinh trong nề đắp nổi. Hình tượng thần Tài cũng gắn với các vật quý trong bát bửu như thần Tài với biểu tượng đồng tiền, xâu tiền. Thần Tài còn cầm cây như ý bên cạnh “núi” tiền, ngân lượng. Áo thần Tài trang trí tam sơn,  châu ngọc. Của kiểu thức “Cung hỷ phát tài” rất quen thuộc trong tranh khảm xã cừ và tranh gương cổ. Thỉnh thoảng trong chạm khảm xà cừ còn có hình tượng Lưu Hải ban tiền với xâu tiền buộc thành dây để nhảy múa. Hình tượng những cậu bé, cô bé bụ bẩm, khôi ngô, khỏa mạnh xuất hiện trong tranh nề và chạm đồ gỗ trang trí với hình ảnh em bé thổi sáo, cầm cái khánh theo kiểu thức “Phúc thọ trường lạc”. Phúc thọ cát khánh”. Một số kiểu thức mang tính phối hợp các vật quý để mở rộng ý nghĩa của hình tượng như trong chạm gỗ có cái khánh với như ý với ý nghĩa tốt lành như ý, hoa sen với như ý và giỏ kim chi với ý nghĩa hòa hợp như ý, cặp dơi với cái khánh với ý nghĩa song phúc như ý,  kết hợp hoa văn cái khánh với nút huyền bí với ý nghĩa trăm sự như ý (bách cát như ý), kết hợp cây bút với như ý mang ý nghĩa mọi việc đã định đều vẹn toàn như ý muốn. Ngoài ra còn có những sự kết hợp khác trong bát tiên với những ý nghĩa tương tự theo các đồ án trang trí cổ phương Đông, tiêu biểu là sự kết hợp của các cặp vật quý bát bửu như kiếm với quạt, phách nhịp (nhạc) với hoa sen, trái bầu thắt (thái cực, hồ lô, bầu vũ trụ, bầu rượu) với ngư cổ, lẵng hoa với ống sáo...&lt;/div&gt;&lt;/td&gt;&lt;/tr&gt;
&lt;tr&gt;&lt;td class='diff-marker'&gt; &lt;/td&gt;&lt;td style=&quot;background-color: #f8f9fa; color: #202122; font-size: 88%; border-style: solid; border-width: 1px 1px 1px 4px; border-radius: 0.33em; border-color: #eaecf0; vertical-align: top; white-space: pre-wrap;&quot;&gt;&lt;/td&gt;&lt;td class='diff-marker'&gt; &lt;/td&gt;&lt;td style=&quot;background-color: #f8f9fa; color: #202122; font-size: 88%; border-style: solid; border-width: 1px 1px 1px 4px; border-radius: 0.33em; border-color: #eaecf0; vertical-align: top; white-space: pre-wrap;&quot;&gt;&lt;/td&gt;&lt;/tr&gt;

&lt;!-- diff cache key bktt:diff::1.12:old-13306:rev-13307 --&gt;
&lt;/table&gt;</summary>
		<author><name>Tttrung</name></author>
	</entry>
	<entry>
		<id>https://bktt.vn/index.php?title=B%C3%A1t_b%E1%BB%ADu&amp;diff=13306&amp;oldid=prev</id>
		<title>Tttrung vào lúc 13:51, ngày 12 tháng 4 năm 2021</title>
		<link rel="alternate" type="text/html" href="https://bktt.vn/index.php?title=B%C3%A1t_b%E1%BB%ADu&amp;diff=13306&amp;oldid=prev"/>
		<updated>2021-04-12T13:51:50Z</updated>

		<summary type="html">&lt;p&gt;&lt;/p&gt;
&lt;table class=&quot;diff diff-contentalign-left diff-editfont-monospace&quot; data-mw=&quot;interface&quot;&gt;
				&lt;col class=&quot;diff-marker&quot; /&gt;
				&lt;col class=&quot;diff-content&quot; /&gt;
				&lt;col class=&quot;diff-marker&quot; /&gt;
				&lt;col class=&quot;diff-content&quot; /&gt;
				&lt;tr class=&quot;diff-title&quot; lang=&quot;vi&quot;&gt;
				&lt;td colspan=&quot;2&quot; style=&quot;background-color: #fff; color: #202122; text-align: center;&quot;&gt;← Phiên bản cũ&lt;/td&gt;
				&lt;td colspan=&quot;2&quot; style=&quot;background-color: #fff; color: #202122; text-align: center;&quot;&gt;Phiên bản lúc 13:51, ngày 12 tháng 4 năm 2021&lt;/td&gt;
				&lt;/tr&gt;&lt;tr&gt;&lt;td colspan=&quot;2&quot; class=&quot;diff-lineno&quot; id=&quot;mw-diff-left-l1&quot; &gt;Dòng 1:&lt;/td&gt;
&lt;td colspan=&quot;2&quot; class=&quot;diff-lineno&quot;&gt;Dòng 1:&lt;/td&gt;&lt;/tr&gt;
&lt;tr&gt;&lt;td class='diff-marker'&gt; &lt;/td&gt;&lt;td style=&quot;background-color: #f8f9fa; color: #202122; font-size: 88%; border-style: solid; border-width: 1px 1px 1px 4px; border-radius: 0.33em; border-color: #eaecf0; vertical-align: top; white-space: pre-wrap;&quot;&gt;&lt;div&gt;{{mới}}&lt;/div&gt;&lt;/td&gt;&lt;td class='diff-marker'&gt; &lt;/td&gt;&lt;td style=&quot;background-color: #f8f9fa; color: #202122; font-size: 88%; border-style: solid; border-width: 1px 1px 1px 4px; border-radius: 0.33em; border-color: #eaecf0; vertical-align: top; white-space: pre-wrap;&quot;&gt;&lt;div&gt;{{mới}}&lt;/div&gt;&lt;/td&gt;&lt;/tr&gt;
&lt;tr&gt;&lt;td class='diff-marker'&gt; &lt;/td&gt;&lt;td style=&quot;background-color: #f8f9fa; color: #202122; font-size: 88%; border-style: solid; border-width: 1px 1px 1px 4px; border-radius: 0.33em; border-color: #eaecf0; vertical-align: top; white-space: pre-wrap;&quot;&gt;&lt;div&gt;[[File:Chạm gỗ sơn son thếp vàng bát bửu.png|nhỏ|350px|Cuốn thư - tranh chạm gỗ sơn son thếp vàng tại Đại Nội (Huế)]]&lt;/div&gt;&lt;/td&gt;&lt;td class='diff-marker'&gt; &lt;/td&gt;&lt;td style=&quot;background-color: #f8f9fa; color: #202122; font-size: 88%; border-style: solid; border-width: 1px 1px 1px 4px; border-radius: 0.33em; border-color: #eaecf0; vertical-align: top; white-space: pre-wrap;&quot;&gt;&lt;div&gt;[[File:Chạm gỗ sơn son thếp vàng bát bửu.png|nhỏ|350px|Cuốn thư - tranh chạm gỗ sơn son thếp vàng tại Đại Nội (Huế)]]&lt;/div&gt;&lt;/td&gt;&lt;/tr&gt;
&lt;tr&gt;&lt;td class='diff-marker'&gt;−&lt;/td&gt;&lt;td style=&quot;color: #202122; font-size: 88%; border-style: solid; border-width: 1px 1px 1px 4px; border-radius: 0.33em; border-color: #ffe49c; vertical-align: top; white-space: pre-wrap;&quot;&gt;&lt;div&gt;'''Bát bửu''' là đề tài xuất hiện từ lâu trong mỹ thuật cổ của dân tộc [[Việt Nam]], trong đó người xưa “xã hội hóa”, “âm linh hóa” những đồ vật được coi là vật báu và tạo cho chúng những ngữ nghĩa, nội dung tinh thần biểu tượng khác nhau. Đồ vật quý được gọi với những cái tên mang nội hàm biểu hiện khác nhau và rất đa nghĩa mà trước hết chúng là tạp bảo (nhiều vật quý các loại), rồi khi điển hóa gọi là bách cổ một cách ước lệ của số đếm không tuyệt đối. Khi dùng trang trí, tạo hình và chuẩn hóa kiểu thức thì gọi là cổ đồ với sự trang trí từng bộ hay độc lập. Cuối cùng  khi sắp xếp, chọn lọc và dùng trong những điều kiện và hoàn cảnh, yêu cầu cụ thể mới gọi là bát bửu (bát bảo). Bát bửu cổ đồ cũng hình thành từ nhiều hình thái tồn tại của vật quý trong đời sống như loại vật quý từ: “... đời sống của tầng lớp phong lưu, nhàn hạ và nghệ sĩ như: cầm - kỳ - thi - họa; hoặc có thể là các loại đồ minh khí, vật dụng được gia công tỉ mỉ, khảm hay đính những thứ đá quý. Có thể đó là bức trướng liễn, hoành phí, câu đối có nội dung thâm thúy, thư pháp tài tình của những tác giả nổi tiếng. Hoặc những bộ văn phòng tứ bửu từ nguyên liệu quý hiếm được làm thành tác phẩm mỹ thuật có giá trị. Tựu trung, đó là những món đồ sử dụng hoặc trang trí có một giá trị đặc biệt, mang tính biểu tượng cao có tính thẩm mỹ và vai trò trong đời sống văn hóa”.&amp;lt;ref name=&amp;quot;Nguyễn Hữu Thông 2001&amp;quot;&amp;gt;Nguyễn Hữu Thông (2001), ''Mỹ thuật Huế nhìn từ góc độ ý nghĩa và biểu tượng trang trí'', Nxb Thuận Hóa, Huế, tr.124&amp;lt;/ref&amp;gt; Theo Tầm nguyên từ điển của Bửu Kế thì bát bửu là của các vị tiên: “Bát: tám; bửu: quý. Tám thứ quý của tiên”.&amp;lt;ref&amp;gt;Bửu Kế (1993), ''Tầm nguyên từ điển'', Nxb TP HCM, tr.52&amp;lt;/ref&amp;gt; Nói về ý nghĩa bát bửu khá nhiều,tuy nhiên các nhà nghiên cứu chưa thống nhất về việc xuất hiện bát bửu từ thời nào. Trong một số tài liệu có nói chung chung là trang trí thời Lý-Trần đã có một vài hình ảnh của bát bửu như đôi sừng tê, hoa sen... Trong các sách viết về mỹ thuật cổ thời Hậu Lê - Nguyễn thì việc nói đến bát bửu đã phổ biến. Đến thời Nguyễn thì bát bửu đã thành bộ đề tài và không còn trang trí lẻ tẻ như các thời kỳ trước.”&amp;lt;ref name=&amp;quot;Nguyễn Hữu Thông 2001&amp;quot;&amp;gt;Nguyễn Hữu Thông (2001), ''Mỹ thuật Huế nhìn từ góc độ ý nghĩa và biểu tượng'', Nxb Thuận Hóa, Huế, tr.124&amp;lt;/ref&amp;gt; Trong Lược sử Mỹ thuật Việt Nam, tác giả Nguyễn Phi Hoanh viết về đặc điểm của bát bửu trong mỹ thuật cổ dân tộc là: “Người xưa không nhất trí về tám vật này; trong những tác phẩm trang trí thường có khác nhau về một vài chi tiết.”&amp;lt;ref&amp;gt;Nguyễn Phi Hoanh (1970), ''Lược sử mỹ thuật Việt Nam'', Nxb KHXH, Hà Nội, tr.231&amp;lt;/ref&amp;gt;&lt;/div&gt;&lt;/td&gt;&lt;td class='diff-marker'&gt;+&lt;/td&gt;&lt;td style=&quot;color: #202122; font-size: 88%; border-style: solid; border-width: 1px 1px 1px 4px; border-radius: 0.33em; border-color: #a3d3ff; vertical-align: top; white-space: pre-wrap;&quot;&gt;&lt;div&gt;'''Bát bửu''' là đề tài xuất hiện từ lâu trong mỹ thuật cổ của dân tộc [[Việt Nam]], trong đó người xưa “xã hội hóa”, “âm linh hóa” những đồ vật được coi là vật báu và tạo cho chúng những ngữ nghĩa, nội dung tinh thần biểu tượng khác nhau. Đồ vật quý được gọi với những cái tên mang nội hàm biểu hiện khác nhau và rất đa nghĩa mà trước hết chúng là tạp bảo (nhiều vật quý các loại), rồi khi điển hóa gọi là bách cổ một cách ước lệ của số đếm không tuyệt đối. Khi dùng trang trí, tạo hình và chuẩn hóa kiểu thức thì gọi là cổ đồ với sự trang trí từng bộ hay độc lập. Cuối cùng  khi sắp xếp, chọn lọc và dùng trong những điều kiện và hoàn cảnh, yêu cầu cụ thể mới gọi là bát bửu (bát bảo). Bát bửu cổ đồ cũng hình thành từ nhiều hình thái tồn tại của vật quý trong đời sống như loại vật quý từ: “... đời sống của tầng lớp phong lưu, nhàn hạ và nghệ sĩ như: cầm - kỳ - thi - họa; hoặc có thể là các loại đồ minh khí, vật dụng được gia công tỉ mỉ, khảm hay đính những thứ đá quý. Có thể đó là bức trướng liễn, hoành phí, câu đối có nội dung thâm thúy, thư pháp tài tình của những tác giả nổi tiếng. Hoặc những bộ văn phòng tứ bửu từ nguyên liệu quý hiếm được làm thành tác phẩm mỹ thuật có giá trị. Tựu trung, đó là những món đồ sử dụng hoặc trang trí có một giá trị đặc biệt, mang tính biểu tượng cao có tính thẩm mỹ và vai trò trong đời sống văn hóa”.&amp;lt;ref name=&amp;quot;Nguyễn Hữu Thông 2001 &lt;ins class=&quot;diffchange diffchange-inline&quot;&gt;124&lt;/ins&gt;&amp;quot;&amp;gt;Nguyễn Hữu Thông (2001), ''Mỹ thuật Huế nhìn từ góc độ ý nghĩa và biểu tượng trang trí'', Nxb Thuận Hóa, Huế, tr.124&amp;lt;/ref&amp;gt; Theo Tầm nguyên từ điển của Bửu Kế thì bát bửu là của các vị tiên: “Bát: tám; bửu: quý. Tám thứ quý của tiên”.&amp;lt;ref&amp;gt;Bửu Kế (1993), ''Tầm nguyên từ điển'', Nxb TP HCM, tr.52&amp;lt;/ref&amp;gt; Nói về ý nghĩa bát bửu khá nhiều,tuy nhiên các nhà nghiên cứu chưa thống nhất về việc xuất hiện bát bửu từ thời nào. Trong một số tài liệu có nói chung chung là trang trí thời Lý-Trần đã có một vài hình ảnh của bát bửu như đôi sừng tê, hoa sen... Trong các sách viết về mỹ thuật cổ thời Hậu Lê - Nguyễn thì việc nói đến bát bửu đã phổ biến. Đến thời Nguyễn thì bát bửu đã thành bộ đề tài và không còn trang trí lẻ tẻ như các thời kỳ trước.”&amp;lt;ref name=&amp;quot;Nguyễn Hữu Thông 2001&amp;quot;&amp;gt;Nguyễn Hữu Thông (2001), ''Mỹ thuật Huế nhìn từ góc độ ý nghĩa và biểu tượng'', Nxb Thuận Hóa, Huế, tr.124&amp;lt;/ref&amp;gt; Trong Lược sử Mỹ thuật Việt Nam, tác giả Nguyễn Phi Hoanh viết về đặc điểm của bát bửu trong mỹ thuật cổ dân tộc là: “Người xưa không nhất trí về tám vật này; trong những tác phẩm trang trí thường có khác nhau về một vài chi tiết.”&amp;lt;ref&amp;gt;Nguyễn Phi Hoanh (1970), ''Lược sử mỹ thuật Việt Nam'', Nxb KHXH, Hà Nội, tr.231&amp;lt;/ref&amp;gt;&lt;/div&gt;&lt;/td&gt;&lt;/tr&gt;
&lt;tr&gt;&lt;td class='diff-marker'&gt; &lt;/td&gt;&lt;td style=&quot;background-color: #f8f9fa; color: #202122; font-size: 88%; border-style: solid; border-width: 1px 1px 1px 4px; border-radius: 0.33em; border-color: #eaecf0; vertical-align: top; white-space: pre-wrap;&quot;&gt;&lt;/td&gt;&lt;td class='diff-marker'&gt; &lt;/td&gt;&lt;td style=&quot;background-color: #f8f9fa; color: #202122; font-size: 88%; border-style: solid; border-width: 1px 1px 1px 4px; border-radius: 0.33em; border-color: #eaecf0; vertical-align: top; white-space: pre-wrap;&quot;&gt;&lt;/td&gt;&lt;/tr&gt;
&lt;tr&gt;&lt;td class='diff-marker'&gt; &lt;/td&gt;&lt;td style=&quot;background-color: #f8f9fa; color: #202122; font-size: 88%; border-style: solid; border-width: 1px 1px 1px 4px; border-radius: 0.33em; border-color: #eaecf0; vertical-align: top; white-space: pre-wrap;&quot;&gt;&lt;div&gt;Tác giả Đinh Hồng Hải trong Những biểu tượng đặc trưng trong văn hóa truyền thống Việt Nam viết: “... bát bửu là một mô-típ trang trí bắt nguồn từ Trung Hoa du nhập vào Việt Nam trong quá trình giao lưu văn hóa”.&amp;lt;ref&amp;gt;Đinh Hồng Hải (2012), Những biểu tượng đặc trưng trong văn hóa truyền thống Việt Nam, Nxb Tri Thức, Hà Nội, tr.158&amp;lt;/ref&amp;gt; Tác giả Nguyễn Hữu Thông viết: “Bát bửu hiểu nôm na là tám món quý. Trong nghệ thuật trang trí chúng thường kết thành từng bộ. Đây là một kiểu thức phổ biến, được thể hiện từ rất nhiều chất liệu khác nhau, cũng như được trình bày một cách đa dạng và phong phú trong trang trí Huế”.&amp;lt;ref name=&amp;quot;Nguyễn Hữu Thông 2001&amp;quot;/&amp;gt;&lt;/div&gt;&lt;/td&gt;&lt;td class='diff-marker'&gt; &lt;/td&gt;&lt;td style=&quot;background-color: #f8f9fa; color: #202122; font-size: 88%; border-style: solid; border-width: 1px 1px 1px 4px; border-radius: 0.33em; border-color: #eaecf0; vertical-align: top; white-space: pre-wrap;&quot;&gt;&lt;div&gt;Tác giả Đinh Hồng Hải trong Những biểu tượng đặc trưng trong văn hóa truyền thống Việt Nam viết: “... bát bửu là một mô-típ trang trí bắt nguồn từ Trung Hoa du nhập vào Việt Nam trong quá trình giao lưu văn hóa”.&amp;lt;ref&amp;gt;Đinh Hồng Hải (2012), Những biểu tượng đặc trưng trong văn hóa truyền thống Việt Nam, Nxb Tri Thức, Hà Nội, tr.158&amp;lt;/ref&amp;gt; Tác giả Nguyễn Hữu Thông viết: “Bát bửu hiểu nôm na là tám món quý. Trong nghệ thuật trang trí chúng thường kết thành từng bộ. Đây là một kiểu thức phổ biến, được thể hiện từ rất nhiều chất liệu khác nhau, cũng như được trình bày một cách đa dạng và phong phú trong trang trí Huế”.&amp;lt;ref name=&amp;quot;Nguyễn Hữu Thông 2001&amp;quot;/&amp;gt;&lt;/div&gt;&lt;/td&gt;&lt;/tr&gt;
&lt;tr&gt;&lt;td colspan=&quot;2&quot; class=&quot;diff-lineno&quot; id=&quot;mw-diff-left-l17&quot; &gt;Dòng 17:&lt;/td&gt;
&lt;td colspan=&quot;2&quot; class=&quot;diff-lineno&quot;&gt;Dòng 17:&lt;/td&gt;&lt;/tr&gt;
&lt;tr&gt;&lt;td class='diff-marker'&gt; &lt;/td&gt;&lt;td style=&quot;background-color: #f8f9fa; color: #202122; font-size: 88%; border-style: solid; border-width: 1px 1px 1px 4px; border-radius: 0.33em; border-color: #eaecf0; vertical-align: top; white-space: pre-wrap;&quot;&gt;&lt;div&gt;Nói về Đạo giáo trong đời sống xã hội Việt Nam trước đây, tác giả Nguyễn Tài Thư cho rằng Đạo giáo có ảnh hưởng đến người Việt “... vì nó phù hợp với tín ngưỡng dân gian và nó bổ sung những tín hiệu cần thiết mà tín ngưỡng dân gian không có... Tin theo Đạo giáo thần tiên vì người Việt vốn có tinh thần lãng mạn, muốn có cuộc đời dài lâu, muốn có cuộc sống tốt đẹp”.&amp;lt;ref&amp;gt;Nguyễn Tài Thư (1988), ''Lịch sử Phật giáo Việt Nam'', Nxb KHXH, Hà Nội, trang 85&amp;lt;/ref&amp;gt; Bát bửu trong Đạo giáo có rất nhiều kiểu thức, vật quý khác nhau và cũng có nhiều vật quý có trong bát bửu Nho giáo và Phật giáo. Trước hết là các vật quý gắn liền với bát tiên gồm cái quạt của Chung Ly Quyền, cái nậm thần (bầu rượu) của Lý Thiết Quài, bộ sanh tiền của Tào Quốc Cựu, cái lẵng hoa của Lam Thái Hòa, ống sáo trúc và cặp roi của Hàn Tương Tử và bông sen của tiên bà duy nhất trong bát tiên là Hà Tiên Cô. Ngoài ra còn có những thống kê khác với bát bửu Đạo giáo bao gồm thêm các vật quý như nấm linh chi, quạt ba tiêu, thanh kiếm, phất trần, gậy trúc,  bầu rượu, đàn tỳ bà, cái tiêu (sáo thổi dọc), dép cỏ, túi thiêng, trống cá (ngư cổ), cây thuốc... Có thể nhận thấy bát bửu Đạo giáo đã: “... hòa lẫn vào Phật giáo, Nho giáo và tín ngưỡng dân gian...”&amp;lt;ref&amp;gt;Đinh Hồng Hải (2012), sdd, tr.166&amp;lt;/ref&amp;gt;&lt;/div&gt;&lt;/td&gt;&lt;td class='diff-marker'&gt; &lt;/td&gt;&lt;td style=&quot;background-color: #f8f9fa; color: #202122; font-size: 88%; border-style: solid; border-width: 1px 1px 1px 4px; border-radius: 0.33em; border-color: #eaecf0; vertical-align: top; white-space: pre-wrap;&quot;&gt;&lt;div&gt;Nói về Đạo giáo trong đời sống xã hội Việt Nam trước đây, tác giả Nguyễn Tài Thư cho rằng Đạo giáo có ảnh hưởng đến người Việt “... vì nó phù hợp với tín ngưỡng dân gian và nó bổ sung những tín hiệu cần thiết mà tín ngưỡng dân gian không có... Tin theo Đạo giáo thần tiên vì người Việt vốn có tinh thần lãng mạn, muốn có cuộc đời dài lâu, muốn có cuộc sống tốt đẹp”.&amp;lt;ref&amp;gt;Nguyễn Tài Thư (1988), ''Lịch sử Phật giáo Việt Nam'', Nxb KHXH, Hà Nội, trang 85&amp;lt;/ref&amp;gt; Bát bửu trong Đạo giáo có rất nhiều kiểu thức, vật quý khác nhau và cũng có nhiều vật quý có trong bát bửu Nho giáo và Phật giáo. Trước hết là các vật quý gắn liền với bát tiên gồm cái quạt của Chung Ly Quyền, cái nậm thần (bầu rượu) của Lý Thiết Quài, bộ sanh tiền của Tào Quốc Cựu, cái lẵng hoa của Lam Thái Hòa, ống sáo trúc và cặp roi của Hàn Tương Tử và bông sen của tiên bà duy nhất trong bát tiên là Hà Tiên Cô. Ngoài ra còn có những thống kê khác với bát bửu Đạo giáo bao gồm thêm các vật quý như nấm linh chi, quạt ba tiêu, thanh kiếm, phất trần, gậy trúc,  bầu rượu, đàn tỳ bà, cái tiêu (sáo thổi dọc), dép cỏ, túi thiêng, trống cá (ngư cổ), cây thuốc... Có thể nhận thấy bát bửu Đạo giáo đã: “... hòa lẫn vào Phật giáo, Nho giáo và tín ngưỡng dân gian...”&amp;lt;ref&amp;gt;Đinh Hồng Hải (2012), sdd, tr.166&amp;lt;/ref&amp;gt;&lt;/div&gt;&lt;/td&gt;&lt;/tr&gt;
&lt;tr&gt;&lt;td class='diff-marker'&gt; &lt;/td&gt;&lt;td style=&quot;background-color: #f8f9fa; color: #202122; font-size: 88%; border-style: solid; border-width: 1px 1px 1px 4px; border-radius: 0.33em; border-color: #eaecf0; vertical-align: top; white-space: pre-wrap;&quot;&gt;&lt;/td&gt;&lt;td class='diff-marker'&gt; &lt;/td&gt;&lt;td style=&quot;background-color: #f8f9fa; color: #202122; font-size: 88%; border-style: solid; border-width: 1px 1px 1px 4px; border-radius: 0.33em; border-color: #eaecf0; vertical-align: top; white-space: pre-wrap;&quot;&gt;&lt;/td&gt;&lt;/tr&gt;
&lt;tr&gt;&lt;td class='diff-marker'&gt;−&lt;/td&gt;&lt;td style=&quot;color: #202122; font-size: 88%; border-style: solid; border-width: 1px 1px 1px 4px; border-radius: 0.33em; border-color: #ffe49c; vertical-align: top; white-space: pre-wrap;&quot;&gt;&lt;div&gt;Hình tượng các vật quý luôn được trang trí kết hợp với dải lụa thanh nhã, mềm mại hay với các biến thể hoa lá cách điệu hoá, hoa dây... Sự uốn lượn của các dải băng làm cho cái động và tĩnh trong trang trí thêm sinh động: “Hình tượng tám vật quý thường được trình bày kết hợp với những dãi băng điều, hoặc hoa lá hay cụm mây. Kiểu phối trí tạo nên sự liên kết mềm mại nhưng chặt chẽ cho bố cục tạo hình”.&amp;lt;ref name=&amp;quot;Nguyễn Hữu Thông 2001&amp;quot;/&amp;gt; Người xưa gọi kiểu thức bát bửu gắn kết dãi băng cách điệu là “bàn triền”, Theo từ điển Hán - Việt chữ “bàn” có nhiều nghĩa nhưng nghĩa được sử dụng là “vui vẻ”, còn “triền” có nghĩa là toàn vẹn, đầy đủ (vì vậy có khi đọc là “tuyền” hay “toàn”). “Mẫu thức hoa, dây, lá, kết hợp với bát bửu được gọi là “triền chi” mang biểu tượng cho sự phát triển thường xuyên, lâu dài.”&amp;lt;ref name=&amp;quot;Nguyễn Hữu Thông 2001&amp;quot;/&amp;gt;&lt;/div&gt;&lt;/td&gt;&lt;td class='diff-marker'&gt;+&lt;/td&gt;&lt;td style=&quot;color: #202122; font-size: 88%; border-style: solid; border-width: 1px 1px 1px 4px; border-radius: 0.33em; border-color: #a3d3ff; vertical-align: top; white-space: pre-wrap;&quot;&gt;&lt;div&gt;Hình tượng các vật quý luôn được trang trí kết hợp với dải lụa thanh nhã, mềm mại hay với các biến thể hoa lá cách điệu hoá, hoa dây... Sự uốn lượn của các dải băng làm cho cái động và tĩnh trong trang trí thêm sinh động: “Hình tượng tám vật quý thường được trình bày kết hợp với những dãi băng điều, hoặc hoa lá hay cụm mây. Kiểu phối trí tạo nên sự liên kết mềm mại nhưng chặt chẽ cho bố cục tạo hình”.&amp;lt;ref name=&amp;quot;Nguyễn Hữu Thông 2001 &lt;ins class=&quot;diffchange diffchange-inline&quot;&gt;124&lt;/ins&gt;&amp;quot;/&amp;gt; Người xưa gọi kiểu thức bát bửu gắn kết dãi băng cách điệu là “bàn triền”, Theo từ điển Hán - Việt chữ “bàn” có nhiều nghĩa nhưng nghĩa được sử dụng là “vui vẻ”, còn “triền” có nghĩa là toàn vẹn, đầy đủ (vì vậy có khi đọc là “tuyền” hay “toàn”). “Mẫu thức hoa, dây, lá, kết hợp với bát bửu được gọi là “triền chi” mang biểu tượng cho sự phát triển thường xuyên, lâu dài.”&amp;lt;ref name=&amp;quot;Nguyễn Hữu Thông 2001 &lt;ins class=&quot;diffchange diffchange-inline&quot;&gt;124&lt;/ins&gt;&amp;quot;/&amp;gt;&lt;/div&gt;&lt;/td&gt;&lt;/tr&gt;
&lt;tr&gt;&lt;td class='diff-marker'&gt; &lt;/td&gt;&lt;td style=&quot;background-color: #f8f9fa; color: #202122; font-size: 88%; border-style: solid; border-width: 1px 1px 1px 4px; border-radius: 0.33em; border-color: #eaecf0; vertical-align: top; white-space: pre-wrap;&quot;&gt;&lt;/td&gt;&lt;td class='diff-marker'&gt; &lt;/td&gt;&lt;td style=&quot;background-color: #f8f9fa; color: #202122; font-size: 88%; border-style: solid; border-width: 1px 1px 1px 4px; border-radius: 0.33em; border-color: #eaecf0; vertical-align: top; white-space: pre-wrap;&quot;&gt;&lt;/td&gt;&lt;/tr&gt;
&lt;tr&gt;&lt;td class='diff-marker'&gt; &lt;/td&gt;&lt;td style=&quot;background-color: #f8f9fa; color: #202122; font-size: 88%; border-style: solid; border-width: 1px 1px 1px 4px; border-radius: 0.33em; border-color: #eaecf0; vertical-align: top; white-space: pre-wrap;&quot;&gt;&lt;div&gt;Các bộ Bát bửu tam giáo đã tạo nên những hòa điệu tâm linh, triết lý, phản ánh tư tưởng nghệ thuật của thời đại. Tác giả Trần Đại Vinh khẳng định: “Phật, Đạo, Nho đã chi phối tín ngưỡng dân gian Huế từ căn đế, lan tỏa vào mọi ngóc ngách trong tâm thức người dân Huế...”&amp;lt;ref&amp;gt;Trần Đại Vinh (1995), ''Tín ngưỡng dân gian Huế'', Nxb Thuận Hóa, Huế, tr.59&amp;lt;/ref&amp;gt;&lt;/div&gt;&lt;/td&gt;&lt;td class='diff-marker'&gt; &lt;/td&gt;&lt;td style=&quot;background-color: #f8f9fa; color: #202122; font-size: 88%; border-style: solid; border-width: 1px 1px 1px 4px; border-radius: 0.33em; border-color: #eaecf0; vertical-align: top; white-space: pre-wrap;&quot;&gt;&lt;div&gt;Các bộ Bát bửu tam giáo đã tạo nên những hòa điệu tâm linh, triết lý, phản ánh tư tưởng nghệ thuật của thời đại. Tác giả Trần Đại Vinh khẳng định: “Phật, Đạo, Nho đã chi phối tín ngưỡng dân gian Huế từ căn đế, lan tỏa vào mọi ngóc ngách trong tâm thức người dân Huế...”&amp;lt;ref&amp;gt;Trần Đại Vinh (1995), ''Tín ngưỡng dân gian Huế'', Nxb Thuận Hóa, Huế, tr.59&amp;lt;/ref&amp;gt;&lt;/div&gt;&lt;/td&gt;&lt;/tr&gt;
&lt;/table&gt;</summary>
		<author><name>Tttrung</name></author>
	</entry>
	<entry>
		<id>https://bktt.vn/index.php?title=B%C3%A1t_b%E1%BB%ADu&amp;diff=13305&amp;oldid=prev</id>
		<title>Tttrung: /* Bát bửu Đạo giáo */</title>
		<link rel="alternate" type="text/html" href="https://bktt.vn/index.php?title=B%C3%A1t_b%E1%BB%ADu&amp;diff=13305&amp;oldid=prev"/>
		<updated>2021-04-12T13:50:06Z</updated>

		<summary type="html">&lt;p&gt;&lt;span dir=&quot;auto&quot;&gt;&lt;span class=&quot;autocomment&quot;&gt;Bát bửu Đạo giáo&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/p&gt;
&lt;table class=&quot;diff diff-contentalign-left diff-editfont-monospace&quot; data-mw=&quot;interface&quot;&gt;
				&lt;col class=&quot;diff-marker&quot; /&gt;
				&lt;col class=&quot;diff-content&quot; /&gt;
				&lt;col class=&quot;diff-marker&quot; /&gt;
				&lt;col class=&quot;diff-content&quot; /&gt;
				&lt;tr class=&quot;diff-title&quot; lang=&quot;vi&quot;&gt;
				&lt;td colspan=&quot;2&quot; style=&quot;background-color: #fff; color: #202122; text-align: center;&quot;&gt;← Phiên bản cũ&lt;/td&gt;
				&lt;td colspan=&quot;2&quot; style=&quot;background-color: #fff; color: #202122; text-align: center;&quot;&gt;Phiên bản lúc 13:50, ngày 12 tháng 4 năm 2021&lt;/td&gt;
				&lt;/tr&gt;&lt;tr&gt;&lt;td colspan=&quot;2&quot; class=&quot;diff-lineno&quot; id=&quot;mw-diff-left-l19&quot; &gt;Dòng 19:&lt;/td&gt;
&lt;td colspan=&quot;2&quot; class=&quot;diff-lineno&quot;&gt;Dòng 19:&lt;/td&gt;&lt;/tr&gt;
&lt;tr&gt;&lt;td class='diff-marker'&gt; &lt;/td&gt;&lt;td style=&quot;background-color: #f8f9fa; color: #202122; font-size: 88%; border-style: solid; border-width: 1px 1px 1px 4px; border-radius: 0.33em; border-color: #eaecf0; vertical-align: top; white-space: pre-wrap;&quot;&gt;&lt;div&gt;Hình tượng các vật quý luôn được trang trí kết hợp với dải lụa thanh nhã, mềm mại hay với các biến thể hoa lá cách điệu hoá, hoa dây... Sự uốn lượn của các dải băng làm cho cái động và tĩnh trong trang trí thêm sinh động: “Hình tượng tám vật quý thường được trình bày kết hợp với những dãi băng điều, hoặc hoa lá hay cụm mây. Kiểu phối trí tạo nên sự liên kết mềm mại nhưng chặt chẽ cho bố cục tạo hình”.&amp;lt;ref name=&amp;quot;Nguyễn Hữu Thông 2001&amp;quot;/&amp;gt; Người xưa gọi kiểu thức bát bửu gắn kết dãi băng cách điệu là “bàn triền”, Theo từ điển Hán - Việt chữ “bàn” có nhiều nghĩa nhưng nghĩa được sử dụng là “vui vẻ”, còn “triền” có nghĩa là toàn vẹn, đầy đủ (vì vậy có khi đọc là “tuyền” hay “toàn”). “Mẫu thức hoa, dây, lá, kết hợp với bát bửu được gọi là “triền chi” mang biểu tượng cho sự phát triển thường xuyên, lâu dài.”&amp;lt;ref name=&amp;quot;Nguyễn Hữu Thông 2001&amp;quot;/&amp;gt;&lt;/div&gt;&lt;/td&gt;&lt;td class='diff-marker'&gt; &lt;/td&gt;&lt;td style=&quot;background-color: #f8f9fa; color: #202122; font-size: 88%; border-style: solid; border-width: 1px 1px 1px 4px; border-radius: 0.33em; border-color: #eaecf0; vertical-align: top; white-space: pre-wrap;&quot;&gt;&lt;div&gt;Hình tượng các vật quý luôn được trang trí kết hợp với dải lụa thanh nhã, mềm mại hay với các biến thể hoa lá cách điệu hoá, hoa dây... Sự uốn lượn của các dải băng làm cho cái động và tĩnh trong trang trí thêm sinh động: “Hình tượng tám vật quý thường được trình bày kết hợp với những dãi băng điều, hoặc hoa lá hay cụm mây. Kiểu phối trí tạo nên sự liên kết mềm mại nhưng chặt chẽ cho bố cục tạo hình”.&amp;lt;ref name=&amp;quot;Nguyễn Hữu Thông 2001&amp;quot;/&amp;gt; Người xưa gọi kiểu thức bát bửu gắn kết dãi băng cách điệu là “bàn triền”, Theo từ điển Hán - Việt chữ “bàn” có nhiều nghĩa nhưng nghĩa được sử dụng là “vui vẻ”, còn “triền” có nghĩa là toàn vẹn, đầy đủ (vì vậy có khi đọc là “tuyền” hay “toàn”). “Mẫu thức hoa, dây, lá, kết hợp với bát bửu được gọi là “triền chi” mang biểu tượng cho sự phát triển thường xuyên, lâu dài.”&amp;lt;ref name=&amp;quot;Nguyễn Hữu Thông 2001&amp;quot;/&amp;gt;&lt;/div&gt;&lt;/td&gt;&lt;/tr&gt;
&lt;tr&gt;&lt;td class='diff-marker'&gt; &lt;/td&gt;&lt;td style=&quot;background-color: #f8f9fa; color: #202122; font-size: 88%; border-style: solid; border-width: 1px 1px 1px 4px; border-radius: 0.33em; border-color: #eaecf0; vertical-align: top; white-space: pre-wrap;&quot;&gt;&lt;/td&gt;&lt;td class='diff-marker'&gt; &lt;/td&gt;&lt;td style=&quot;background-color: #f8f9fa; color: #202122; font-size: 88%; border-style: solid; border-width: 1px 1px 1px 4px; border-radius: 0.33em; border-color: #eaecf0; vertical-align: top; white-space: pre-wrap;&quot;&gt;&lt;/td&gt;&lt;/tr&gt;
&lt;tr&gt;&lt;td class='diff-marker'&gt;−&lt;/td&gt;&lt;td style=&quot;color: #202122; font-size: 88%; border-style: solid; border-width: 1px 1px 1px 4px; border-radius: 0.33em; border-color: #ffe49c; vertical-align: top; white-space: pre-wrap;&quot;&gt;&lt;div&gt;Các bộ Bát bửu tam giáo đã tạo nên những hòa điệu tâm linh, triết lý, phản ánh tư tưởng nghệ thuật của thời đại. Tác giả Trần Đại Vinh khẳng định: “Phật, Đạo, Nho đã chi phối tín ngưỡng dân gian Huế từ căn đế, lan tỏa vào mọi ngóc ngách trong tâm thức người dân Huế...”&amp;lt;ref&amp;gt;Trần Đại Vinh (1995), Tín ngưỡng dân gian Huế, Nxb Thuận Hóa, Huế, tr.59&amp;lt;/ref&amp;gt;&lt;/div&gt;&lt;/td&gt;&lt;td class='diff-marker'&gt;+&lt;/td&gt;&lt;td style=&quot;color: #202122; font-size: 88%; border-style: solid; border-width: 1px 1px 1px 4px; border-radius: 0.33em; border-color: #a3d3ff; vertical-align: top; white-space: pre-wrap;&quot;&gt;&lt;div&gt;Các bộ Bát bửu tam giáo đã tạo nên những hòa điệu tâm linh, triết lý, phản ánh tư tưởng nghệ thuật của thời đại. Tác giả Trần Đại Vinh khẳng định: “Phật, Đạo, Nho đã chi phối tín ngưỡng dân gian Huế từ căn đế, lan tỏa vào mọi ngóc ngách trong tâm thức người dân Huế...”&amp;lt;ref&amp;gt;Trần Đại Vinh (1995), &lt;ins class=&quot;diffchange diffchange-inline&quot;&gt;''&lt;/ins&gt;Tín ngưỡng dân gian Huế&lt;ins class=&quot;diffchange diffchange-inline&quot;&gt;''&lt;/ins&gt;, Nxb Thuận Hóa, Huế, tr.59&amp;lt;/ref&amp;gt;&lt;/div&gt;&lt;/td&gt;&lt;/tr&gt;
&lt;tr&gt;&lt;td class='diff-marker'&gt; &lt;/td&gt;&lt;td style=&quot;background-color: #f8f9fa; color: #202122; font-size: 88%; border-style: solid; border-width: 1px 1px 1px 4px; border-radius: 0.33em; border-color: #eaecf0; vertical-align: top; white-space: pre-wrap;&quot;&gt;&lt;/td&gt;&lt;td class='diff-marker'&gt; &lt;/td&gt;&lt;td style=&quot;background-color: #f8f9fa; color: #202122; font-size: 88%; border-style: solid; border-width: 1px 1px 1px 4px; border-radius: 0.33em; border-color: #eaecf0; vertical-align: top; white-space: pre-wrap;&quot;&gt;&lt;/td&gt;&lt;/tr&gt;
&lt;tr&gt;&lt;td class='diff-marker'&gt; &lt;/td&gt;&lt;td style=&quot;background-color: #f8f9fa; color: #202122; font-size: 88%; border-style: solid; border-width: 1px 1px 1px 4px; border-radius: 0.33em; border-color: #eaecf0; vertical-align: top; white-space: pre-wrap;&quot;&gt;&lt;div&gt;Ngoài ra, còn có bát bửu chấp kích, còn gọi là Lỗ Bộ, là những đồ binh khí dùng để rước hoặc cắm vào giá để trần, như một “trấn phong” đặt ở cung vua, phủ quan hay các đền, đình, miếu, nhà thờ họ... Gồm những vũ khí như mác, kích, cờ tiết mao và bảng có chữ “Tĩnh Túc” và “Hồi Tị”, chùy, quả đấm, búa,  kiếm, song kiếm, trường thương, đại đao, đoản đao, siêu, roi, xà mâu, mác, khiên, giáo, cung tên, rìu, côn. Các vũ khí được cắm trong giá gỗ để làm đồ trang trí, và để tỏ ra uy quyền, khi bày, đặt chỉ cần chọn 8 vật. Thông thường có thể gọi một vài vật đơn, như là bình-kích chỉ một thứ vũ khí (kích) đọc âm tiếng Hán là “ki” đồng ấm với từ “cấp”, lến cấp bậc. Vì vậy nó biểu trưng cho sự thăng tiến nhanh (thăng tiến tam cấp). Trong một số trang trí bát bửu, có đồ án cái một cái kích vào độc bình thì đó là biểu trưng cho sự bình an và đại cát vì trong một nghĩa cổ, từ “kích” đồng âm với “cát” (những điều tốt lành). Ngoài ra còn có sự thể hiện “bình và cái yên ngựa” phối hợp với gậy như ý cũng biểu thị cho sự bình an, vạn sự như ý.&lt;/div&gt;&lt;/td&gt;&lt;td class='diff-marker'&gt; &lt;/td&gt;&lt;td style=&quot;background-color: #f8f9fa; color: #202122; font-size: 88%; border-style: solid; border-width: 1px 1px 1px 4px; border-radius: 0.33em; border-color: #eaecf0; vertical-align: top; white-space: pre-wrap;&quot;&gt;&lt;div&gt;Ngoài ra, còn có bát bửu chấp kích, còn gọi là Lỗ Bộ, là những đồ binh khí dùng để rước hoặc cắm vào giá để trần, như một “trấn phong” đặt ở cung vua, phủ quan hay các đền, đình, miếu, nhà thờ họ... Gồm những vũ khí như mác, kích, cờ tiết mao và bảng có chữ “Tĩnh Túc” và “Hồi Tị”, chùy, quả đấm, búa,  kiếm, song kiếm, trường thương, đại đao, đoản đao, siêu, roi, xà mâu, mác, khiên, giáo, cung tên, rìu, côn. Các vũ khí được cắm trong giá gỗ để làm đồ trang trí, và để tỏ ra uy quyền, khi bày, đặt chỉ cần chọn 8 vật. Thông thường có thể gọi một vài vật đơn, như là bình-kích chỉ một thứ vũ khí (kích) đọc âm tiếng Hán là “ki” đồng ấm với từ “cấp”, lến cấp bậc. Vì vậy nó biểu trưng cho sự thăng tiến nhanh (thăng tiến tam cấp). Trong một số trang trí bát bửu, có đồ án cái một cái kích vào độc bình thì đó là biểu trưng cho sự bình an và đại cát vì trong một nghĩa cổ, từ “kích” đồng âm với “cát” (những điều tốt lành). Ngoài ra còn có sự thể hiện “bình và cái yên ngựa” phối hợp với gậy như ý cũng biểu thị cho sự bình an, vạn sự như ý.&lt;/div&gt;&lt;/td&gt;&lt;/tr&gt;
&lt;tr&gt;&lt;td class='diff-marker'&gt; &lt;/td&gt;&lt;td style=&quot;background-color: #f8f9fa; color: #202122; font-size: 88%; border-style: solid; border-width: 1px 1px 1px 4px; border-radius: 0.33em; border-color: #eaecf0; vertical-align: top; white-space: pre-wrap;&quot;&gt;&lt;/td&gt;&lt;td class='diff-marker'&gt; &lt;/td&gt;&lt;td style=&quot;background-color: #f8f9fa; color: #202122; font-size: 88%; border-style: solid; border-width: 1px 1px 1px 4px; border-radius: 0.33em; border-color: #eaecf0; vertical-align: top; white-space: pre-wrap;&quot;&gt;&lt;/td&gt;&lt;/tr&gt;
&lt;tr&gt;&lt;td class='diff-marker'&gt;−&lt;/td&gt;&lt;td style=&quot;color: #202122; font-size: 88%; border-style: solid; border-width: 1px 1px 1px 4px; border-radius: 0.33em; border-color: #ffe49c; vertical-align: top; white-space: pre-wrap;&quot;&gt;&lt;div&gt;Những ý nghĩa sâu xa và gắn liền với mong ước về cuộc sống viên mãn, hạnh phúc của bát bửu đã làm cho hình tượng bát bửu luôn có mặt trong ý niệm tinh thần của các triều đại phong kiến ở Việt Nam. Đồng thời bát bửu cũng có ảnh hưởng sâu rộng, có chổ đứng bền vững trong tâm thức dân gian và tạo ra vô số biến thể độc đáo trong nhu cầu tâm linh - thẩm mỹ của người dân Việt, đặc biệt là nở rộ vào thời Nguyễn. Đó là quá trình mà Trần Văn Tốt trong Nhập môn nghệ thuật cổ Việt Nam đã đánh giá: “ ... nghệ thuật Việt Nam đã dần dần đi sâu vào một tính cách riêng của nó. Trong một số sản phẩm, ở đó nó hoàn toàn cởi bỏ những tiêu chuẩn cổ điển, nó chính là sự biểu hiện một sáng tạo tự phát và một cảm xúc rung động”.&amp;lt;ref&amp;gt;Trần Văn Tốt (1969), &lt;del class=&quot;diffchange diffchange-inline&quot;&gt;“Nhập &lt;/del&gt;môn nghệ thuật cổ Việt &lt;del class=&quot;diffchange diffchange-inline&quot;&gt;Nam”&lt;/del&gt;, tập san Hội Nghiên cứu Đông Dương, số 1, Paris, tr.88&amp;lt;/ref&amp;gt; Mặt khác cũng cần phải chú ý đến sự chuyển thế của bát bửu trong liên kết các hình tượng từ điển tích như ông tam tinh (Thọ tinh, Lộc tinh, Phúc tinh). Ông Thọ không chỉ với trái đào trường thọ mà còn cầm trái bầu thắt và gậy trúc nhiều mắt tượng trưng trường sinh bất lão với kiểu thức: Thọ tỉ nam sơn”, “ Phúc thọ vẹn toàn” hay hình tượng ban phúc tặng của báu của Phúc tinh trong nề đắp nổi. Hình tượng thần Tài cũng gắn với các vật quý trong bát bửu như thần Tài với biểu tượng đồng tiền, xâu tiền. Thần Tài còn cầm cây như ý bên cạnh “núi” tiền, ngân lượng. Áo thần Tài trang trí tam sơn,  châu ngọc. Của kiểu thức “Cung hỷ phát tài” rất quen thuộc trong tranh khảm xã cừ và tranh gương cổ. Thỉnh thoảng trong chạm khảm xà cừ còn có hình tượng Lưu Hải ban tiền với xâu tiền buộc thành dây để nhảy múa. Hình tượng những cậu bé, cô bé bụ bẩm, khôi ngô, khỏa mạnh xuất hiện trong tranh nề và chạm đồ gỗ trang trí với hình ảnh em bé thổi sáo, cầm cái khánh theo kiểu thức “Phúc thọ trường lạc”. Phúc thọ cát khánh”. Một số kiểu thức mang tính phối hợp các vật quý để mở rộng ý nghĩa của hình tượng như trong chạm gỗ có cái khánh với như ý với ý nghĩa tốt lành như ý, hoa sen với như ý và giỏ kim chi với ý nghĩa hòa hợp như ý, cặp dơi với cái khánh với ý nghĩa song phúc như ý,  kết hợp hoa văn cái khánh với nút huyền bí với ý nghĩa trăm sự như ý (bách cát như ý), kết hợp cây bút với như ý mang ý nghĩa mọi việc đã định đều vẹn toàn như ý muốn. Ngoài ra còn có những sự kết hợp khác trong bát tiên với những ý nghĩa tương tự theo các đồ án trang trí cổ phương Đông, tiêu biểu là sự kết hợp của các cặp vật quý bát bửu như kiếm với quạt, phách nhịp (nhạc) với hoa sen, trái bầu thắt (thái cực, hồ lô, bầu vũ trụ, bầu rượu) với ngư cổ, lẵng hoa với ống sáo...&lt;/div&gt;&lt;/td&gt;&lt;td class='diff-marker'&gt;+&lt;/td&gt;&lt;td style=&quot;color: #202122; font-size: 88%; border-style: solid; border-width: 1px 1px 1px 4px; border-radius: 0.33em; border-color: #a3d3ff; vertical-align: top; white-space: pre-wrap;&quot;&gt;&lt;div&gt;Những ý nghĩa sâu xa và gắn liền với mong ước về cuộc sống viên mãn, hạnh phúc của bát bửu đã làm cho hình tượng bát bửu luôn có mặt trong ý niệm tinh thần của các triều đại phong kiến ở Việt Nam. Đồng thời bát bửu cũng có ảnh hưởng sâu rộng, có chổ đứng bền vững trong tâm thức dân gian và tạo ra vô số biến thể độc đáo trong nhu cầu tâm linh - thẩm mỹ của người dân Việt, đặc biệt là nở rộ vào thời Nguyễn. Đó là quá trình mà Trần Văn Tốt trong Nhập môn nghệ thuật cổ Việt Nam đã đánh giá: “ ... nghệ thuật Việt Nam đã dần dần đi sâu vào một tính cách riêng của nó. Trong một số sản phẩm, ở đó nó hoàn toàn cởi bỏ những tiêu chuẩn cổ điển, nó chính là sự biểu hiện một sáng tạo tự phát và một cảm xúc rung động”.&amp;lt;ref&amp;gt;Trần Văn Tốt (1969), &lt;ins class=&quot;diffchange diffchange-inline&quot;&gt;''Nhập &lt;/ins&gt;môn nghệ thuật cổ Việt &lt;ins class=&quot;diffchange diffchange-inline&quot;&gt;Nam''&lt;/ins&gt;, tập san Hội Nghiên cứu Đông Dương, số 1, Paris, tr.88&amp;lt;/ref&amp;gt; Mặt khác cũng cần phải chú ý đến sự chuyển thế của bát bửu trong liên kết các hình tượng từ điển tích như ông tam tinh (Thọ tinh, Lộc tinh, Phúc tinh). Ông Thọ không chỉ với trái đào trường thọ mà còn cầm trái bầu thắt và gậy trúc nhiều mắt tượng trưng trường sinh bất lão với kiểu thức: Thọ tỉ nam sơn”, “ Phúc thọ vẹn toàn” hay hình tượng ban phúc tặng của báu của Phúc tinh trong nề đắp nổi. Hình tượng thần Tài cũng gắn với các vật quý trong bát bửu như thần Tài với biểu tượng đồng tiền, xâu tiền. Thần Tài còn cầm cây như ý bên cạnh “núi” tiền, ngân lượng. Áo thần Tài trang trí tam sơn,  châu ngọc. Của kiểu thức “Cung hỷ phát tài” rất quen thuộc trong tranh khảm xã cừ và tranh gương cổ. Thỉnh thoảng trong chạm khảm xà cừ còn có hình tượng Lưu Hải ban tiền với xâu tiền buộc thành dây để nhảy múa. Hình tượng những cậu bé, cô bé bụ bẩm, khôi ngô, khỏa mạnh xuất hiện trong tranh nề và chạm đồ gỗ trang trí với hình ảnh em bé thổi sáo, cầm cái khánh theo kiểu thức “Phúc thọ trường lạc”. Phúc thọ cát khánh”. Một số kiểu thức mang tính phối hợp các vật quý để mở rộng ý nghĩa của hình tượng như trong chạm gỗ có cái khánh với như ý với ý nghĩa tốt lành như ý, hoa sen với như ý và giỏ kim chi với ý nghĩa hòa hợp như ý, cặp dơi với cái khánh với ý nghĩa song phúc như ý,  kết hợp hoa văn cái khánh với nút huyền bí với ý nghĩa trăm sự như ý (bách cát như ý), kết hợp cây bút với như ý mang ý nghĩa mọi việc đã định đều vẹn toàn như ý muốn. Ngoài ra còn có những sự kết hợp khác trong bát tiên với những ý nghĩa tương tự theo các đồ án trang trí cổ phương Đông, tiêu biểu là sự kết hợp của các cặp vật quý bát bửu như kiếm với quạt, phách nhịp (nhạc) với hoa sen, trái bầu thắt (thái cực, hồ lô, bầu vũ trụ, bầu rượu) với ngư cổ, lẵng hoa với ống sáo...&lt;/div&gt;&lt;/td&gt;&lt;/tr&gt;
&lt;tr&gt;&lt;td class='diff-marker'&gt; &lt;/td&gt;&lt;td style=&quot;background-color: #f8f9fa; color: #202122; font-size: 88%; border-style: solid; border-width: 1px 1px 1px 4px; border-radius: 0.33em; border-color: #eaecf0; vertical-align: top; white-space: pre-wrap;&quot;&gt;&lt;/td&gt;&lt;td class='diff-marker'&gt; &lt;/td&gt;&lt;td style=&quot;background-color: #f8f9fa; color: #202122; font-size: 88%; border-style: solid; border-width: 1px 1px 1px 4px; border-radius: 0.33em; border-color: #eaecf0; vertical-align: top; white-space: pre-wrap;&quot;&gt;&lt;/td&gt;&lt;/tr&gt;
&lt;tr&gt;&lt;td class='diff-marker'&gt;−&lt;/td&gt;&lt;td style=&quot;color: #202122; font-size: 88%; border-style: solid; border-width: 1px 1px 1px 4px; border-radius: 0.33em; border-color: #ffe49c; vertical-align: top; white-space: pre-wrap;&quot;&gt;&lt;div&gt;Tóm lại, trang trí bát bửu có những chức năng tâm linh và thẩm mỹ gắn liền với kiến trúc, vật dụng, nhưng trong kiến trúc phong phú đa dạng hơn như trong bài “Một số đồ án trong tư tưởng nghệ thuật cổ Việt Nam”, tác giả  Nguyễn Hải Phong viết: “… trang trí kiến trúc vốn là thuộc phần phù trợ đóng vai trò tô điểm, lại trở thành nghệ thuật vừa có nội dung, vừa mang hình thức làm đẹp…” . &lt;del class=&quot;diffchange diffchange-inline&quot;&gt;, &lt;/del&gt;điều này tham chiếu ở trang trí bát bửu là rất đậm nét, thuyết phục.&lt;/div&gt;&lt;/td&gt;&lt;td class='diff-marker'&gt;+&lt;/td&gt;&lt;td style=&quot;color: #202122; font-size: 88%; border-style: solid; border-width: 1px 1px 1px 4px; border-radius: 0.33em; border-color: #a3d3ff; vertical-align: top; white-space: pre-wrap;&quot;&gt;&lt;div&gt;Tóm lại, trang trí bát bửu có những chức năng tâm linh và thẩm mỹ gắn liền với kiến trúc, vật dụng, nhưng trong kiến trúc phong phú đa dạng hơn như trong bài “Một số đồ án trong tư tưởng nghệ thuật cổ Việt Nam”, tác giả  Nguyễn Hải Phong viết: “… trang trí kiến trúc vốn là thuộc phần phù trợ đóng vai trò tô điểm, lại trở thành nghệ thuật vừa có nội dung, vừa mang hình thức làm đẹp…”&lt;ins class=&quot;diffchange diffchange-inline&quot;&gt;,&amp;lt;ref&amp;gt;Nguyễn Hải Phong (2007), “Nhận diện Mỹ thuật thời Nguyễn”, ''Tạp chí   Nghiên cứu Mỹ thuật'', Nxb Mỹ thuật, Hà Nội, tr&lt;/ins&gt;.&lt;ins class=&quot;diffchange diffchange-inline&quot;&gt;206&amp;lt;/ref&amp;gt; &lt;/ins&gt;điều này tham chiếu ở trang trí bát bửu là rất đậm nét, thuyết phục.&lt;/div&gt;&lt;/td&gt;&lt;/tr&gt;
&lt;tr&gt;&lt;td class='diff-marker'&gt; &lt;/td&gt;&lt;td style=&quot;background-color: #f8f9fa; color: #202122; font-size: 88%; border-style: solid; border-width: 1px 1px 1px 4px; border-radius: 0.33em; border-color: #eaecf0; vertical-align: top; white-space: pre-wrap;&quot;&gt;&lt;/td&gt;&lt;td class='diff-marker'&gt; &lt;/td&gt;&lt;td style=&quot;background-color: #f8f9fa; color: #202122; font-size: 88%; border-style: solid; border-width: 1px 1px 1px 4px; border-radius: 0.33em; border-color: #eaecf0; vertical-align: top; white-space: pre-wrap;&quot;&gt;&lt;/td&gt;&lt;/tr&gt;
&lt;tr&gt;&lt;td class='diff-marker'&gt; &lt;/td&gt;&lt;td style=&quot;background-color: #f8f9fa; color: #202122; font-size: 88%; border-style: solid; border-width: 1px 1px 1px 4px; border-radius: 0.33em; border-color: #eaecf0; vertical-align: top; white-space: pre-wrap;&quot;&gt;&lt;div&gt;==Tham khảo==&lt;/div&gt;&lt;/td&gt;&lt;td class='diff-marker'&gt; &lt;/td&gt;&lt;td style=&quot;background-color: #f8f9fa; color: #202122; font-size: 88%; border-style: solid; border-width: 1px 1px 1px 4px; border-radius: 0.33em; border-color: #eaecf0; vertical-align: top; white-space: pre-wrap;&quot;&gt;&lt;div&gt;==Tham khảo==&lt;/div&gt;&lt;/td&gt;&lt;/tr&gt;
&lt;tr&gt;&lt;td class='diff-marker'&gt; &lt;/td&gt;&lt;td style=&quot;background-color: #f8f9fa; color: #202122; font-size: 88%; border-style: solid; border-width: 1px 1px 1px 4px; border-radius: 0.33em; border-color: #eaecf0; vertical-align: top; white-space: pre-wrap;&quot;&gt;&lt;div&gt;&amp;lt;references/&amp;gt;&lt;/div&gt;&lt;/td&gt;&lt;td class='diff-marker'&gt; &lt;/td&gt;&lt;td style=&quot;background-color: #f8f9fa; color: #202122; font-size: 88%; border-style: solid; border-width: 1px 1px 1px 4px; border-radius: 0.33em; border-color: #eaecf0; vertical-align: top; white-space: pre-wrap;&quot;&gt;&lt;div&gt;&amp;lt;references/&amp;gt;&lt;/div&gt;&lt;/td&gt;&lt;/tr&gt;
&lt;/table&gt;</summary>
		<author><name>Tttrung</name></author>
	</entry>
	<entry>
		<id>https://bktt.vn/index.php?title=B%C3%A1t_b%E1%BB%ADu&amp;diff=13304&amp;oldid=prev</id>
		<title>Tttrung: /* Bát bửu Đạo giáo */</title>
		<link rel="alternate" type="text/html" href="https://bktt.vn/index.php?title=B%C3%A1t_b%E1%BB%ADu&amp;diff=13304&amp;oldid=prev"/>
		<updated>2021-04-12T13:48:42Z</updated>

		<summary type="html">&lt;p&gt;&lt;span dir=&quot;auto&quot;&gt;&lt;span class=&quot;autocomment&quot;&gt;Bát bửu Đạo giáo&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/p&gt;
&lt;table class=&quot;diff diff-contentalign-left diff-editfont-monospace&quot; data-mw=&quot;interface&quot;&gt;
				&lt;col class=&quot;diff-marker&quot; /&gt;
				&lt;col class=&quot;diff-content&quot; /&gt;
				&lt;col class=&quot;diff-marker&quot; /&gt;
				&lt;col class=&quot;diff-content&quot; /&gt;
				&lt;tr class=&quot;diff-title&quot; lang=&quot;vi&quot;&gt;
				&lt;td colspan=&quot;2&quot; style=&quot;background-color: #fff; color: #202122; text-align: center;&quot;&gt;← Phiên bản cũ&lt;/td&gt;
				&lt;td colspan=&quot;2&quot; style=&quot;background-color: #fff; color: #202122; text-align: center;&quot;&gt;Phiên bản lúc 13:48, ngày 12 tháng 4 năm 2021&lt;/td&gt;
				&lt;/tr&gt;&lt;tr&gt;&lt;td colspan=&quot;2&quot; class=&quot;diff-lineno&quot; id=&quot;mw-diff-left-l23&quot; &gt;Dòng 23:&lt;/td&gt;
&lt;td colspan=&quot;2&quot; class=&quot;diff-lineno&quot;&gt;Dòng 23:&lt;/td&gt;&lt;/tr&gt;
&lt;tr&gt;&lt;td class='diff-marker'&gt; &lt;/td&gt;&lt;td style=&quot;background-color: #f8f9fa; color: #202122; font-size: 88%; border-style: solid; border-width: 1px 1px 1px 4px; border-radius: 0.33em; border-color: #eaecf0; vertical-align: top; white-space: pre-wrap;&quot;&gt;&lt;div&gt;Ngoài ra, còn có bát bửu chấp kích, còn gọi là Lỗ Bộ, là những đồ binh khí dùng để rước hoặc cắm vào giá để trần, như một “trấn phong” đặt ở cung vua, phủ quan hay các đền, đình, miếu, nhà thờ họ... Gồm những vũ khí như mác, kích, cờ tiết mao và bảng có chữ “Tĩnh Túc” và “Hồi Tị”, chùy, quả đấm, búa,  kiếm, song kiếm, trường thương, đại đao, đoản đao, siêu, roi, xà mâu, mác, khiên, giáo, cung tên, rìu, côn. Các vũ khí được cắm trong giá gỗ để làm đồ trang trí, và để tỏ ra uy quyền, khi bày, đặt chỉ cần chọn 8 vật. Thông thường có thể gọi một vài vật đơn, như là bình-kích chỉ một thứ vũ khí (kích) đọc âm tiếng Hán là “ki” đồng ấm với từ “cấp”, lến cấp bậc. Vì vậy nó biểu trưng cho sự thăng tiến nhanh (thăng tiến tam cấp). Trong một số trang trí bát bửu, có đồ án cái một cái kích vào độc bình thì đó là biểu trưng cho sự bình an và đại cát vì trong một nghĩa cổ, từ “kích” đồng âm với “cát” (những điều tốt lành). Ngoài ra còn có sự thể hiện “bình và cái yên ngựa” phối hợp với gậy như ý cũng biểu thị cho sự bình an, vạn sự như ý.&lt;/div&gt;&lt;/td&gt;&lt;td class='diff-marker'&gt; &lt;/td&gt;&lt;td style=&quot;background-color: #f8f9fa; color: #202122; font-size: 88%; border-style: solid; border-width: 1px 1px 1px 4px; border-radius: 0.33em; border-color: #eaecf0; vertical-align: top; white-space: pre-wrap;&quot;&gt;&lt;div&gt;Ngoài ra, còn có bát bửu chấp kích, còn gọi là Lỗ Bộ, là những đồ binh khí dùng để rước hoặc cắm vào giá để trần, như một “trấn phong” đặt ở cung vua, phủ quan hay các đền, đình, miếu, nhà thờ họ... Gồm những vũ khí như mác, kích, cờ tiết mao và bảng có chữ “Tĩnh Túc” và “Hồi Tị”, chùy, quả đấm, búa,  kiếm, song kiếm, trường thương, đại đao, đoản đao, siêu, roi, xà mâu, mác, khiên, giáo, cung tên, rìu, côn. Các vũ khí được cắm trong giá gỗ để làm đồ trang trí, và để tỏ ra uy quyền, khi bày, đặt chỉ cần chọn 8 vật. Thông thường có thể gọi một vài vật đơn, như là bình-kích chỉ một thứ vũ khí (kích) đọc âm tiếng Hán là “ki” đồng ấm với từ “cấp”, lến cấp bậc. Vì vậy nó biểu trưng cho sự thăng tiến nhanh (thăng tiến tam cấp). Trong một số trang trí bát bửu, có đồ án cái một cái kích vào độc bình thì đó là biểu trưng cho sự bình an và đại cát vì trong một nghĩa cổ, từ “kích” đồng âm với “cát” (những điều tốt lành). Ngoài ra còn có sự thể hiện “bình và cái yên ngựa” phối hợp với gậy như ý cũng biểu thị cho sự bình an, vạn sự như ý.&lt;/div&gt;&lt;/td&gt;&lt;/tr&gt;
&lt;tr&gt;&lt;td class='diff-marker'&gt; &lt;/td&gt;&lt;td style=&quot;background-color: #f8f9fa; color: #202122; font-size: 88%; border-style: solid; border-width: 1px 1px 1px 4px; border-radius: 0.33em; border-color: #eaecf0; vertical-align: top; white-space: pre-wrap;&quot;&gt;&lt;/td&gt;&lt;td class='diff-marker'&gt; &lt;/td&gt;&lt;td style=&quot;background-color: #f8f9fa; color: #202122; font-size: 88%; border-style: solid; border-width: 1px 1px 1px 4px; border-radius: 0.33em; border-color: #eaecf0; vertical-align: top; white-space: pre-wrap;&quot;&gt;&lt;/td&gt;&lt;/tr&gt;
&lt;tr&gt;&lt;td class='diff-marker'&gt;−&lt;/td&gt;&lt;td style=&quot;color: #202122; font-size: 88%; border-style: solid; border-width: 1px 1px 1px 4px; border-radius: 0.33em; border-color: #ffe49c; vertical-align: top; white-space: pre-wrap;&quot;&gt;&lt;div&gt;Những ý nghĩa sâu xa và gắn liền với mong ước về cuộc sống viên mãn, hạnh phúc của bát bửu đã làm cho hình tượng bát bửu luôn có mặt trong ý niệm tinh thần của các triều đại phong kiến ở Việt Nam. Đồng thời bát bửu cũng có ảnh hưởng sâu rộng, có chổ đứng bền vững trong tâm thức dân gian và tạo ra vô số biến thể độc đáo trong nhu cầu tâm linh - thẩm mỹ của người dân Việt, đặc biệt là nở rộ vào thời Nguyễn. Đó là quá trình mà Trần Văn Tốt trong Nhập môn nghệ thuật cổ Việt Nam đã đánh giá: “ ... nghệ thuật Việt Nam đã dần dần đi sâu vào một tính cách riêng của nó. Trong một số sản phẩm, ở đó nó hoàn toàn cởi bỏ những tiêu chuẩn cổ điển, nó chính là sự biểu hiện một sáng tạo tự phát và một cảm xúc rung động”. . Mặt khác cũng cần phải chú ý đến sự chuyển thế của bát bửu trong liên kết các hình tượng từ điển tích như ông tam tinh (Thọ tinh, Lộc tinh, Phúc tinh). Ông Thọ không chỉ với trái đào trường thọ mà còn cầm trái bầu thắt và gậy trúc nhiều mắt tượng trưng trường sinh bất lão với kiểu thức: Thọ tỉ nam sơn”, “ Phúc thọ vẹn toàn” hay hình tượng ban phúc tặng của báu của Phúc tinh trong nề đắp nổi. Hình tượng thần Tài cũng gắn với các vật quý trong bát bửu như thần Tài với biểu tượng đồng tiền, xâu tiền. Thần Tài còn cầm cây như ý bên cạnh “núi” tiền, ngân lượng. Áo thần Tài trang trí tam sơn,  châu ngọc. Của kiểu thức “Cung hỷ phát tài” rất quen thuộc trong tranh khảm xã cừ và tranh gương cổ. Thỉnh thoảng trong chạm khảm xà cừ còn có hình tượng Lưu Hải ban tiền với xâu tiền buộc thành dây để nhảy múa. Hình tượng những cậu bé, cô bé bụ bẩm, khôi ngô, khỏa mạnh xuất hiện trong tranh nề và chạm đồ gỗ trang trí với hình ảnh em bé thổi sáo, cầm cái khánh theo kiểu thức “Phúc thọ trường lạc”. Phúc thọ cát khánh”. Một số kiểu thức mang tính phối hợp các vật quý để mở rộng ý nghĩa của hình tượng như trong chạm gỗ có cái khánh với như ý với ý nghĩa tốt lành như ý, hoa sen với như ý và giỏ kim chi với ý nghĩa hòa hợp như ý, cặp dơi với cái khánh với ý nghĩa song phúc như ý,  kết hợp hoa văn cái khánh với nút huyền bí với ý nghĩa trăm sự như ý (bách cát như ý), kết hợp cây bút với như ý mang ý nghĩa mọi việc đã định đều vẹn toàn như ý muốn. Ngoài ra còn có những sự kết hợp khác trong bát tiên với những ý nghĩa tương tự theo các đồ án trang trí cổ phương Đông, tiêu biểu là sự kết hợp của các cặp vật quý bát bửu như kiếm với quạt, phách nhịp (nhạc) với hoa sen, trái bầu thắt (thái cực, hồ lô, bầu vũ trụ, bầu rượu) với ngư cổ, lẵng hoa với ống sáo...&lt;/div&gt;&lt;/td&gt;&lt;td class='diff-marker'&gt;+&lt;/td&gt;&lt;td style=&quot;color: #202122; font-size: 88%; border-style: solid; border-width: 1px 1px 1px 4px; border-radius: 0.33em; border-color: #a3d3ff; vertical-align: top; white-space: pre-wrap;&quot;&gt;&lt;div&gt;Những ý nghĩa sâu xa và gắn liền với mong ước về cuộc sống viên mãn, hạnh phúc của bát bửu đã làm cho hình tượng bát bửu luôn có mặt trong ý niệm tinh thần của các triều đại phong kiến ở Việt Nam. Đồng thời bát bửu cũng có ảnh hưởng sâu rộng, có chổ đứng bền vững trong tâm thức dân gian và tạo ra vô số biến thể độc đáo trong nhu cầu tâm linh - thẩm mỹ của người dân Việt, đặc biệt là nở rộ vào thời Nguyễn. Đó là quá trình mà Trần Văn Tốt trong Nhập môn nghệ thuật cổ Việt Nam đã đánh giá: “ ... nghệ thuật Việt Nam đã dần dần đi sâu vào một tính cách riêng của nó. Trong một số sản phẩm, ở đó nó hoàn toàn cởi bỏ những tiêu chuẩn cổ điển, nó chính là sự biểu hiện một sáng tạo tự phát và một cảm xúc rung động”.&lt;ins class=&quot;diffchange diffchange-inline&quot;&gt;&amp;lt;ref&amp;gt;Trần Văn Tốt (1969), “Nhập môn nghệ thuật cổ Việt Nam”, tập san Hội Nghiên cứu Đông Dương, số 1, Paris, tr&lt;/ins&gt;.&lt;ins class=&quot;diffchange diffchange-inline&quot;&gt;88&amp;lt;/ref&amp;gt; &lt;/ins&gt;Mặt khác cũng cần phải chú ý đến sự chuyển thế của bát bửu trong liên kết các hình tượng từ điển tích như ông tam tinh (Thọ tinh, Lộc tinh, Phúc tinh). Ông Thọ không chỉ với trái đào trường thọ mà còn cầm trái bầu thắt và gậy trúc nhiều mắt tượng trưng trường sinh bất lão với kiểu thức: Thọ tỉ nam sơn”, “ Phúc thọ vẹn toàn” hay hình tượng ban phúc tặng của báu của Phúc tinh trong nề đắp nổi. Hình tượng thần Tài cũng gắn với các vật quý trong bát bửu như thần Tài với biểu tượng đồng tiền, xâu tiền. Thần Tài còn cầm cây như ý bên cạnh “núi” tiền, ngân lượng. Áo thần Tài trang trí tam sơn,  châu ngọc. Của kiểu thức “Cung hỷ phát tài” rất quen thuộc trong tranh khảm xã cừ và tranh gương cổ. Thỉnh thoảng trong chạm khảm xà cừ còn có hình tượng Lưu Hải ban tiền với xâu tiền buộc thành dây để nhảy múa. Hình tượng những cậu bé, cô bé bụ bẩm, khôi ngô, khỏa mạnh xuất hiện trong tranh nề và chạm đồ gỗ trang trí với hình ảnh em bé thổi sáo, cầm cái khánh theo kiểu thức “Phúc thọ trường lạc”. Phúc thọ cát khánh”. Một số kiểu thức mang tính phối hợp các vật quý để mở rộng ý nghĩa của hình tượng như trong chạm gỗ có cái khánh với như ý với ý nghĩa tốt lành như ý, hoa sen với như ý và giỏ kim chi với ý nghĩa hòa hợp như ý, cặp dơi với cái khánh với ý nghĩa song phúc như ý,  kết hợp hoa văn cái khánh với nút huyền bí với ý nghĩa trăm sự như ý (bách cát như ý), kết hợp cây bút với như ý mang ý nghĩa mọi việc đã định đều vẹn toàn như ý muốn. Ngoài ra còn có những sự kết hợp khác trong bát tiên với những ý nghĩa tương tự theo các đồ án trang trí cổ phương Đông, tiêu biểu là sự kết hợp của các cặp vật quý bát bửu như kiếm với quạt, phách nhịp (nhạc) với hoa sen, trái bầu thắt (thái cực, hồ lô, bầu vũ trụ, bầu rượu) với ngư cổ, lẵng hoa với ống sáo...&lt;/div&gt;&lt;/td&gt;&lt;/tr&gt;
&lt;tr&gt;&lt;td class='diff-marker'&gt; &lt;/td&gt;&lt;td style=&quot;background-color: #f8f9fa; color: #202122; font-size: 88%; border-style: solid; border-width: 1px 1px 1px 4px; border-radius: 0.33em; border-color: #eaecf0; vertical-align: top; white-space: pre-wrap;&quot;&gt;&lt;/td&gt;&lt;td class='diff-marker'&gt; &lt;/td&gt;&lt;td style=&quot;background-color: #f8f9fa; color: #202122; font-size: 88%; border-style: solid; border-width: 1px 1px 1px 4px; border-radius: 0.33em; border-color: #eaecf0; vertical-align: top; white-space: pre-wrap;&quot;&gt;&lt;/td&gt;&lt;/tr&gt;
&lt;tr&gt;&lt;td class='diff-marker'&gt; &lt;/td&gt;&lt;td style=&quot;background-color: #f8f9fa; color: #202122; font-size: 88%; border-style: solid; border-width: 1px 1px 1px 4px; border-radius: 0.33em; border-color: #eaecf0; vertical-align: top; white-space: pre-wrap;&quot;&gt;&lt;div&gt;Tóm lại, trang trí bát bửu có những chức năng tâm linh và thẩm mỹ gắn liền với kiến trúc, vật dụng, nhưng trong kiến trúc phong phú đa dạng hơn như trong bài “Một số đồ án trong tư tưởng nghệ thuật cổ Việt Nam”, tác giả  Nguyễn Hải Phong viết: “… trang trí kiến trúc vốn là thuộc phần phù trợ đóng vai trò tô điểm, lại trở thành nghệ thuật vừa có nội dung, vừa mang hình thức làm đẹp…” . , điều này tham chiếu ở trang trí bát bửu là rất đậm nét, thuyết phục.&lt;/div&gt;&lt;/td&gt;&lt;td class='diff-marker'&gt; &lt;/td&gt;&lt;td style=&quot;background-color: #f8f9fa; color: #202122; font-size: 88%; border-style: solid; border-width: 1px 1px 1px 4px; border-radius: 0.33em; border-color: #eaecf0; vertical-align: top; white-space: pre-wrap;&quot;&gt;&lt;div&gt;Tóm lại, trang trí bát bửu có những chức năng tâm linh và thẩm mỹ gắn liền với kiến trúc, vật dụng, nhưng trong kiến trúc phong phú đa dạng hơn như trong bài “Một số đồ án trong tư tưởng nghệ thuật cổ Việt Nam”, tác giả  Nguyễn Hải Phong viết: “… trang trí kiến trúc vốn là thuộc phần phù trợ đóng vai trò tô điểm, lại trở thành nghệ thuật vừa có nội dung, vừa mang hình thức làm đẹp…” . , điều này tham chiếu ở trang trí bát bửu là rất đậm nét, thuyết phục.&lt;/div&gt;&lt;/td&gt;&lt;/tr&gt;
&lt;/table&gt;</summary>
		<author><name>Tttrung</name></author>
	</entry>
	<entry>
		<id>https://bktt.vn/index.php?title=B%C3%A1t_b%E1%BB%ADu&amp;diff=13303&amp;oldid=prev</id>
		<title>Tttrung: /* Bát bửu Đạo giáo */</title>
		<link rel="alternate" type="text/html" href="https://bktt.vn/index.php?title=B%C3%A1t_b%E1%BB%ADu&amp;diff=13303&amp;oldid=prev"/>
		<updated>2021-04-12T13:47:58Z</updated>

		<summary type="html">&lt;p&gt;&lt;span dir=&quot;auto&quot;&gt;&lt;span class=&quot;autocomment&quot;&gt;Bát bửu Đạo giáo&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/p&gt;
&lt;table class=&quot;diff diff-contentalign-left diff-editfont-monospace&quot; data-mw=&quot;interface&quot;&gt;
				&lt;col class=&quot;diff-marker&quot; /&gt;
				&lt;col class=&quot;diff-content&quot; /&gt;
				&lt;col class=&quot;diff-marker&quot; /&gt;
				&lt;col class=&quot;diff-content&quot; /&gt;
				&lt;tr class=&quot;diff-title&quot; lang=&quot;vi&quot;&gt;
				&lt;td colspan=&quot;2&quot; style=&quot;background-color: #fff; color: #202122; text-align: center;&quot;&gt;← Phiên bản cũ&lt;/td&gt;
				&lt;td colspan=&quot;2&quot; style=&quot;background-color: #fff; color: #202122; text-align: center;&quot;&gt;Phiên bản lúc 13:47, ngày 12 tháng 4 năm 2021&lt;/td&gt;
				&lt;/tr&gt;&lt;tr&gt;&lt;td colspan=&quot;2&quot; class=&quot;diff-lineno&quot; id=&quot;mw-diff-left-l19&quot; &gt;Dòng 19:&lt;/td&gt;
&lt;td colspan=&quot;2&quot; class=&quot;diff-lineno&quot;&gt;Dòng 19:&lt;/td&gt;&lt;/tr&gt;
&lt;tr&gt;&lt;td class='diff-marker'&gt; &lt;/td&gt;&lt;td style=&quot;background-color: #f8f9fa; color: #202122; font-size: 88%; border-style: solid; border-width: 1px 1px 1px 4px; border-radius: 0.33em; border-color: #eaecf0; vertical-align: top; white-space: pre-wrap;&quot;&gt;&lt;div&gt;Hình tượng các vật quý luôn được trang trí kết hợp với dải lụa thanh nhã, mềm mại hay với các biến thể hoa lá cách điệu hoá, hoa dây... Sự uốn lượn của các dải băng làm cho cái động và tĩnh trong trang trí thêm sinh động: “Hình tượng tám vật quý thường được trình bày kết hợp với những dãi băng điều, hoặc hoa lá hay cụm mây. Kiểu phối trí tạo nên sự liên kết mềm mại nhưng chặt chẽ cho bố cục tạo hình”.&amp;lt;ref name=&amp;quot;Nguyễn Hữu Thông 2001&amp;quot;/&amp;gt; Người xưa gọi kiểu thức bát bửu gắn kết dãi băng cách điệu là “bàn triền”, Theo từ điển Hán - Việt chữ “bàn” có nhiều nghĩa nhưng nghĩa được sử dụng là “vui vẻ”, còn “triền” có nghĩa là toàn vẹn, đầy đủ (vì vậy có khi đọc là “tuyền” hay “toàn”). “Mẫu thức hoa, dây, lá, kết hợp với bát bửu được gọi là “triền chi” mang biểu tượng cho sự phát triển thường xuyên, lâu dài.”&amp;lt;ref name=&amp;quot;Nguyễn Hữu Thông 2001&amp;quot;/&amp;gt;&lt;/div&gt;&lt;/td&gt;&lt;td class='diff-marker'&gt; &lt;/td&gt;&lt;td style=&quot;background-color: #f8f9fa; color: #202122; font-size: 88%; border-style: solid; border-width: 1px 1px 1px 4px; border-radius: 0.33em; border-color: #eaecf0; vertical-align: top; white-space: pre-wrap;&quot;&gt;&lt;div&gt;Hình tượng các vật quý luôn được trang trí kết hợp với dải lụa thanh nhã, mềm mại hay với các biến thể hoa lá cách điệu hoá, hoa dây... Sự uốn lượn của các dải băng làm cho cái động và tĩnh trong trang trí thêm sinh động: “Hình tượng tám vật quý thường được trình bày kết hợp với những dãi băng điều, hoặc hoa lá hay cụm mây. Kiểu phối trí tạo nên sự liên kết mềm mại nhưng chặt chẽ cho bố cục tạo hình”.&amp;lt;ref name=&amp;quot;Nguyễn Hữu Thông 2001&amp;quot;/&amp;gt; Người xưa gọi kiểu thức bát bửu gắn kết dãi băng cách điệu là “bàn triền”, Theo từ điển Hán - Việt chữ “bàn” có nhiều nghĩa nhưng nghĩa được sử dụng là “vui vẻ”, còn “triền” có nghĩa là toàn vẹn, đầy đủ (vì vậy có khi đọc là “tuyền” hay “toàn”). “Mẫu thức hoa, dây, lá, kết hợp với bát bửu được gọi là “triền chi” mang biểu tượng cho sự phát triển thường xuyên, lâu dài.”&amp;lt;ref name=&amp;quot;Nguyễn Hữu Thông 2001&amp;quot;/&amp;gt;&lt;/div&gt;&lt;/td&gt;&lt;/tr&gt;
&lt;tr&gt;&lt;td class='diff-marker'&gt; &lt;/td&gt;&lt;td style=&quot;background-color: #f8f9fa; color: #202122; font-size: 88%; border-style: solid; border-width: 1px 1px 1px 4px; border-radius: 0.33em; border-color: #eaecf0; vertical-align: top; white-space: pre-wrap;&quot;&gt;&lt;/td&gt;&lt;td class='diff-marker'&gt; &lt;/td&gt;&lt;td style=&quot;background-color: #f8f9fa; color: #202122; font-size: 88%; border-style: solid; border-width: 1px 1px 1px 4px; border-radius: 0.33em; border-color: #eaecf0; vertical-align: top; white-space: pre-wrap;&quot;&gt;&lt;/td&gt;&lt;/tr&gt;
&lt;tr&gt;&lt;td class='diff-marker'&gt;−&lt;/td&gt;&lt;td style=&quot;color: #202122; font-size: 88%; border-style: solid; border-width: 1px 1px 1px 4px; border-radius: 0.33em; border-color: #ffe49c; vertical-align: top; white-space: pre-wrap;&quot;&gt;&lt;div&gt;Các bộ Bát bửu tam giáo đã tạo nên những hòa điệu tâm linh, triết lý, phản ánh tư tưởng nghệ thuật của thời đại. Tác giả Trần Đại Vinh khẳng định: “Phật, Đạo, Nho đã chi phối tín ngưỡng dân gian Huế từ căn đế, lan tỏa vào mọi ngóc ngách trong tâm thức người dân Huế...” &lt;del class=&quot;diffchange diffchange-inline&quot;&gt; &lt;/del&gt;.&lt;/div&gt;&lt;/td&gt;&lt;td class='diff-marker'&gt;+&lt;/td&gt;&lt;td style=&quot;color: #202122; font-size: 88%; border-style: solid; border-width: 1px 1px 1px 4px; border-radius: 0.33em; border-color: #a3d3ff; vertical-align: top; white-space: pre-wrap;&quot;&gt;&lt;div&gt;Các bộ Bát bửu tam giáo đã tạo nên những hòa điệu tâm linh, triết lý, phản ánh tư tưởng nghệ thuật của thời đại. Tác giả Trần Đại Vinh khẳng định: “Phật, Đạo, Nho đã chi phối tín ngưỡng dân gian Huế từ căn đế, lan tỏa vào mọi ngóc ngách trong tâm thức người dân Huế...”&lt;ins class=&quot;diffchange diffchange-inline&quot;&gt;&amp;lt;ref&amp;gt;Trần Đại Vinh (1995), Tín ngưỡng dân gian Huế, Nxb Thuận Hóa, Huế, tr&lt;/ins&gt;.&lt;ins class=&quot;diffchange diffchange-inline&quot;&gt;59&amp;lt;/ref&amp;gt;&lt;/ins&gt;&lt;/div&gt;&lt;/td&gt;&lt;/tr&gt;
&lt;tr&gt;&lt;td class='diff-marker'&gt; &lt;/td&gt;&lt;td style=&quot;background-color: #f8f9fa; color: #202122; font-size: 88%; border-style: solid; border-width: 1px 1px 1px 4px; border-radius: 0.33em; border-color: #eaecf0; vertical-align: top; white-space: pre-wrap;&quot;&gt;&lt;/td&gt;&lt;td class='diff-marker'&gt; &lt;/td&gt;&lt;td style=&quot;background-color: #f8f9fa; color: #202122; font-size: 88%; border-style: solid; border-width: 1px 1px 1px 4px; border-radius: 0.33em; border-color: #eaecf0; vertical-align: top; white-space: pre-wrap;&quot;&gt;&lt;/td&gt;&lt;/tr&gt;
&lt;tr&gt;&lt;td class='diff-marker'&gt; &lt;/td&gt;&lt;td style=&quot;background-color: #f8f9fa; color: #202122; font-size: 88%; border-style: solid; border-width: 1px 1px 1px 4px; border-radius: 0.33em; border-color: #eaecf0; vertical-align: top; white-space: pre-wrap;&quot;&gt;&lt;div&gt;Ngoài ra, còn có bát bửu chấp kích, còn gọi là Lỗ Bộ, là những đồ binh khí dùng để rước hoặc cắm vào giá để trần, như một “trấn phong” đặt ở cung vua, phủ quan hay các đền, đình, miếu, nhà thờ họ... Gồm những vũ khí như mác, kích, cờ tiết mao và bảng có chữ “Tĩnh Túc” và “Hồi Tị”, chùy, quả đấm, búa,  kiếm, song kiếm, trường thương, đại đao, đoản đao, siêu, roi, xà mâu, mác, khiên, giáo, cung tên, rìu, côn. Các vũ khí được cắm trong giá gỗ để làm đồ trang trí, và để tỏ ra uy quyền, khi bày, đặt chỉ cần chọn 8 vật. Thông thường có thể gọi một vài vật đơn, như là bình-kích chỉ một thứ vũ khí (kích) đọc âm tiếng Hán là “ki” đồng ấm với từ “cấp”, lến cấp bậc. Vì vậy nó biểu trưng cho sự thăng tiến nhanh (thăng tiến tam cấp). Trong một số trang trí bát bửu, có đồ án cái một cái kích vào độc bình thì đó là biểu trưng cho sự bình an và đại cát vì trong một nghĩa cổ, từ “kích” đồng âm với “cát” (những điều tốt lành). Ngoài ra còn có sự thể hiện “bình và cái yên ngựa” phối hợp với gậy như ý cũng biểu thị cho sự bình an, vạn sự như ý.&lt;/div&gt;&lt;/td&gt;&lt;td class='diff-marker'&gt; &lt;/td&gt;&lt;td style=&quot;background-color: #f8f9fa; color: #202122; font-size: 88%; border-style: solid; border-width: 1px 1px 1px 4px; border-radius: 0.33em; border-color: #eaecf0; vertical-align: top; white-space: pre-wrap;&quot;&gt;&lt;div&gt;Ngoài ra, còn có bát bửu chấp kích, còn gọi là Lỗ Bộ, là những đồ binh khí dùng để rước hoặc cắm vào giá để trần, như một “trấn phong” đặt ở cung vua, phủ quan hay các đền, đình, miếu, nhà thờ họ... Gồm những vũ khí như mác, kích, cờ tiết mao và bảng có chữ “Tĩnh Túc” và “Hồi Tị”, chùy, quả đấm, búa,  kiếm, song kiếm, trường thương, đại đao, đoản đao, siêu, roi, xà mâu, mác, khiên, giáo, cung tên, rìu, côn. Các vũ khí được cắm trong giá gỗ để làm đồ trang trí, và để tỏ ra uy quyền, khi bày, đặt chỉ cần chọn 8 vật. Thông thường có thể gọi một vài vật đơn, như là bình-kích chỉ một thứ vũ khí (kích) đọc âm tiếng Hán là “ki” đồng ấm với từ “cấp”, lến cấp bậc. Vì vậy nó biểu trưng cho sự thăng tiến nhanh (thăng tiến tam cấp). Trong một số trang trí bát bửu, có đồ án cái một cái kích vào độc bình thì đó là biểu trưng cho sự bình an và đại cát vì trong một nghĩa cổ, từ “kích” đồng âm với “cát” (những điều tốt lành). Ngoài ra còn có sự thể hiện “bình và cái yên ngựa” phối hợp với gậy như ý cũng biểu thị cho sự bình an, vạn sự như ý.&lt;/div&gt;&lt;/td&gt;&lt;/tr&gt;
&lt;/table&gt;</summary>
		<author><name>Tttrung</name></author>
	</entry>
	<entry>
		<id>https://bktt.vn/index.php?title=B%C3%A1t_b%E1%BB%ADu&amp;diff=13302&amp;oldid=prev</id>
		<title>Tttrung vào lúc 13:47, ngày 12 tháng 4 năm 2021</title>
		<link rel="alternate" type="text/html" href="https://bktt.vn/index.php?title=B%C3%A1t_b%E1%BB%ADu&amp;diff=13302&amp;oldid=prev"/>
		<updated>2021-04-12T13:47:18Z</updated>

		<summary type="html">&lt;p&gt;&lt;/p&gt;
&lt;table class=&quot;diff diff-contentalign-left diff-editfont-monospace&quot; data-mw=&quot;interface&quot;&gt;
				&lt;col class=&quot;diff-marker&quot; /&gt;
				&lt;col class=&quot;diff-content&quot; /&gt;
				&lt;col class=&quot;diff-marker&quot; /&gt;
				&lt;col class=&quot;diff-content&quot; /&gt;
				&lt;tr class=&quot;diff-title&quot; lang=&quot;vi&quot;&gt;
				&lt;td colspan=&quot;2&quot; style=&quot;background-color: #fff; color: #202122; text-align: center;&quot;&gt;← Phiên bản cũ&lt;/td&gt;
				&lt;td colspan=&quot;2&quot; style=&quot;background-color: #fff; color: #202122; text-align: center;&quot;&gt;Phiên bản lúc 13:47, ngày 12 tháng 4 năm 2021&lt;/td&gt;
				&lt;/tr&gt;&lt;tr&gt;&lt;td colspan=&quot;2&quot; class=&quot;diff-lineno&quot; id=&quot;mw-diff-left-l1&quot; &gt;Dòng 1:&lt;/td&gt;
&lt;td colspan=&quot;2&quot; class=&quot;diff-lineno&quot;&gt;Dòng 1:&lt;/td&gt;&lt;/tr&gt;
&lt;tr&gt;&lt;td class='diff-marker'&gt; &lt;/td&gt;&lt;td style=&quot;background-color: #f8f9fa; color: #202122; font-size: 88%; border-style: solid; border-width: 1px 1px 1px 4px; border-radius: 0.33em; border-color: #eaecf0; vertical-align: top; white-space: pre-wrap;&quot;&gt;&lt;div&gt;{{mới}}&lt;/div&gt;&lt;/td&gt;&lt;td class='diff-marker'&gt; &lt;/td&gt;&lt;td style=&quot;background-color: #f8f9fa; color: #202122; font-size: 88%; border-style: solid; border-width: 1px 1px 1px 4px; border-radius: 0.33em; border-color: #eaecf0; vertical-align: top; white-space: pre-wrap;&quot;&gt;&lt;div&gt;{{mới}}&lt;/div&gt;&lt;/td&gt;&lt;/tr&gt;
&lt;tr&gt;&lt;td class='diff-marker'&gt; &lt;/td&gt;&lt;td style=&quot;background-color: #f8f9fa; color: #202122; font-size: 88%; border-style: solid; border-width: 1px 1px 1px 4px; border-radius: 0.33em; border-color: #eaecf0; vertical-align: top; white-space: pre-wrap;&quot;&gt;&lt;div&gt;[[File:Chạm gỗ sơn son thếp vàng bát bửu.png|nhỏ|350px|Cuốn thư - tranh chạm gỗ sơn son thếp vàng tại Đại Nội (Huế)]]&lt;/div&gt;&lt;/td&gt;&lt;td class='diff-marker'&gt; &lt;/td&gt;&lt;td style=&quot;background-color: #f8f9fa; color: #202122; font-size: 88%; border-style: solid; border-width: 1px 1px 1px 4px; border-radius: 0.33em; border-color: #eaecf0; vertical-align: top; white-space: pre-wrap;&quot;&gt;&lt;div&gt;[[File:Chạm gỗ sơn son thếp vàng bát bửu.png|nhỏ|350px|Cuốn thư - tranh chạm gỗ sơn son thếp vàng tại Đại Nội (Huế)]]&lt;/div&gt;&lt;/td&gt;&lt;/tr&gt;
&lt;tr&gt;&lt;td class='diff-marker'&gt;−&lt;/td&gt;&lt;td style=&quot;color: #202122; font-size: 88%; border-style: solid; border-width: 1px 1px 1px 4px; border-radius: 0.33em; border-color: #ffe49c; vertical-align: top; white-space: pre-wrap;&quot;&gt;&lt;div&gt;'''Bát bửu''' là đề tài xuất hiện từ lâu trong mỹ thuật cổ của dân tộc [[Việt Nam]], trong đó người xưa “xã hội hóa”, “âm linh hóa” những đồ vật được coi là vật báu và tạo cho chúng những ngữ nghĩa, nội dung tinh thần biểu tượng khác nhau. Đồ vật quý được gọi với những cái tên mang nội hàm biểu hiện khác nhau và rất đa nghĩa mà trước hết chúng là tạp bảo (nhiều vật quý các loại), rồi khi điển hóa gọi là bách cổ một cách ước lệ của số đếm không tuyệt đối. Khi dùng trang trí, tạo hình và chuẩn hóa kiểu thức thì gọi là cổ đồ với sự trang trí từng bộ hay độc lập. Cuối cùng  khi sắp xếp, chọn lọc và dùng trong những điều kiện và hoàn cảnh, yêu cầu cụ thể mới gọi là bát bửu (bát bảo). Bát bửu cổ đồ cũng hình thành từ nhiều hình thái tồn tại của vật quý trong đời sống như loại vật quý từ: “... đời sống của tầng lớp phong lưu, nhàn hạ và nghệ sĩ như: cầm - kỳ - thi - họa; hoặc có thể là các loại đồ minh khí, vật dụng được gia công tỉ mỉ, khảm hay đính những thứ đá quý. Có thể đó là bức trướng liễn, hoành phí, câu đối có nội dung thâm thúy, thư pháp tài tình của những tác giả nổi tiếng. Hoặc những bộ văn phòng tứ bửu từ nguyên liệu quý hiếm được làm thành tác phẩm mỹ thuật có giá trị. Tựu trung, đó là những món đồ sử dụng hoặc trang trí có một giá trị đặc biệt, mang tính biểu tượng cao có tính thẩm mỹ và vai trò trong đời sống văn hóa”.&amp;lt;ref&amp;gt;Nguyễn Hữu Thông (2001), ''Mỹ thuật Huế nhìn từ góc độ ý nghĩa và biểu tượng trang trí'', Nxb Thuận Hóa, Huế, tr.124&amp;lt;/ref&amp;gt; Theo Tầm nguyên từ điển của Bửu Kế thì bát bửu là của các vị tiên: “Bát: tám; bửu: quý. Tám thứ quý của tiên”.&amp;lt;ref&amp;gt;Bửu Kế (1993), ''Tầm nguyên từ điển'', Nxb TP HCM, tr.52&amp;lt;/ref&amp;gt; Nói về ý nghĩa bát bửu khá nhiều,tuy nhiên các nhà nghiên cứu chưa thống nhất về việc xuất hiện bát bửu từ thời nào. Trong một số tài liệu có nói chung chung là trang trí thời Lý-Trần đã có một vài hình ảnh của bát bửu như đôi sừng tê, hoa sen... Trong các sách viết về mỹ thuật cổ thời Hậu Lê - Nguyễn thì việc nói đến bát bửu đã phổ biến. Đến thời Nguyễn thì bát bửu đã thành bộ đề tài và không còn trang trí lẻ tẻ như các thời kỳ trước.”&amp;lt;ref name=&amp;quot;Nguyễn Hữu Thông 2001&amp;quot;&amp;gt;Nguyễn Hữu Thông (2001), ''Mỹ thuật Huế nhìn từ góc độ ý nghĩa và biểu tượng'', Nxb Thuận Hóa, Huế, tr.124&amp;lt;/ref&amp;gt; Trong Lược sử Mỹ thuật Việt Nam, tác giả Nguyễn Phi Hoanh viết về đặc điểm của bát bửu trong mỹ thuật cổ dân tộc là: “Người xưa không nhất trí về tám vật này; trong những tác phẩm trang trí thường có khác nhau về một vài chi tiết.”&amp;lt;ref&amp;gt;Nguyễn Phi Hoanh (1970), ''Lược sử mỹ thuật Việt Nam'', Nxb KHXH, Hà Nội, tr.231&amp;lt;/ref&amp;gt;&lt;/div&gt;&lt;/td&gt;&lt;td class='diff-marker'&gt;+&lt;/td&gt;&lt;td style=&quot;color: #202122; font-size: 88%; border-style: solid; border-width: 1px 1px 1px 4px; border-radius: 0.33em; border-color: #a3d3ff; vertical-align: top; white-space: pre-wrap;&quot;&gt;&lt;div&gt;'''Bát bửu''' là đề tài xuất hiện từ lâu trong mỹ thuật cổ của dân tộc [[Việt Nam]], trong đó người xưa “xã hội hóa”, “âm linh hóa” những đồ vật được coi là vật báu và tạo cho chúng những ngữ nghĩa, nội dung tinh thần biểu tượng khác nhau. Đồ vật quý được gọi với những cái tên mang nội hàm biểu hiện khác nhau và rất đa nghĩa mà trước hết chúng là tạp bảo (nhiều vật quý các loại), rồi khi điển hóa gọi là bách cổ một cách ước lệ của số đếm không tuyệt đối. Khi dùng trang trí, tạo hình và chuẩn hóa kiểu thức thì gọi là cổ đồ với sự trang trí từng bộ hay độc lập. Cuối cùng  khi sắp xếp, chọn lọc và dùng trong những điều kiện và hoàn cảnh, yêu cầu cụ thể mới gọi là bát bửu (bát bảo). Bát bửu cổ đồ cũng hình thành từ nhiều hình thái tồn tại của vật quý trong đời sống như loại vật quý từ: “... đời sống của tầng lớp phong lưu, nhàn hạ và nghệ sĩ như: cầm - kỳ - thi - họa; hoặc có thể là các loại đồ minh khí, vật dụng được gia công tỉ mỉ, khảm hay đính những thứ đá quý. Có thể đó là bức trướng liễn, hoành phí, câu đối có nội dung thâm thúy, thư pháp tài tình của những tác giả nổi tiếng. Hoặc những bộ văn phòng tứ bửu từ nguyên liệu quý hiếm được làm thành tác phẩm mỹ thuật có giá trị. Tựu trung, đó là những món đồ sử dụng hoặc trang trí có một giá trị đặc biệt, mang tính biểu tượng cao có tính thẩm mỹ và vai trò trong đời sống văn hóa”.&amp;lt;ref &lt;ins class=&quot;diffchange diffchange-inline&quot;&gt;name=&amp;quot;Nguyễn Hữu Thông 2001&amp;quot;&lt;/ins&gt;&amp;gt;Nguyễn Hữu Thông (2001), ''Mỹ thuật Huế nhìn từ góc độ ý nghĩa và biểu tượng trang trí'', Nxb Thuận Hóa, Huế, tr.124&amp;lt;/ref&amp;gt; Theo Tầm nguyên từ điển của Bửu Kế thì bát bửu là của các vị tiên: “Bát: tám; bửu: quý. Tám thứ quý của tiên”.&amp;lt;ref&amp;gt;Bửu Kế (1993), ''Tầm nguyên từ điển'', Nxb TP HCM, tr.52&amp;lt;/ref&amp;gt; Nói về ý nghĩa bát bửu khá nhiều,tuy nhiên các nhà nghiên cứu chưa thống nhất về việc xuất hiện bát bửu từ thời nào. Trong một số tài liệu có nói chung chung là trang trí thời Lý-Trần đã có một vài hình ảnh của bát bửu như đôi sừng tê, hoa sen... Trong các sách viết về mỹ thuật cổ thời Hậu Lê - Nguyễn thì việc nói đến bát bửu đã phổ biến. Đến thời Nguyễn thì bát bửu đã thành bộ đề tài và không còn trang trí lẻ tẻ như các thời kỳ trước.”&amp;lt;ref name=&amp;quot;Nguyễn Hữu Thông 2001&amp;quot;&amp;gt;Nguyễn Hữu Thông (2001), ''Mỹ thuật Huế nhìn từ góc độ ý nghĩa và biểu tượng'', Nxb Thuận Hóa, Huế, tr.124&amp;lt;/ref&amp;gt; Trong Lược sử Mỹ thuật Việt Nam, tác giả Nguyễn Phi Hoanh viết về đặc điểm của bát bửu trong mỹ thuật cổ dân tộc là: “Người xưa không nhất trí về tám vật này; trong những tác phẩm trang trí thường có khác nhau về một vài chi tiết.”&amp;lt;ref&amp;gt;Nguyễn Phi Hoanh (1970), ''Lược sử mỹ thuật Việt Nam'', Nxb KHXH, Hà Nội, tr.231&amp;lt;/ref&amp;gt;&lt;/div&gt;&lt;/td&gt;&lt;/tr&gt;
&lt;tr&gt;&lt;td class='diff-marker'&gt; &lt;/td&gt;&lt;td style=&quot;background-color: #f8f9fa; color: #202122; font-size: 88%; border-style: solid; border-width: 1px 1px 1px 4px; border-radius: 0.33em; border-color: #eaecf0; vertical-align: top; white-space: pre-wrap;&quot;&gt;&lt;/td&gt;&lt;td class='diff-marker'&gt; &lt;/td&gt;&lt;td style=&quot;background-color: #f8f9fa; color: #202122; font-size: 88%; border-style: solid; border-width: 1px 1px 1px 4px; border-radius: 0.33em; border-color: #eaecf0; vertical-align: top; white-space: pre-wrap;&quot;&gt;&lt;/td&gt;&lt;/tr&gt;
&lt;tr&gt;&lt;td class='diff-marker'&gt; &lt;/td&gt;&lt;td style=&quot;background-color: #f8f9fa; color: #202122; font-size: 88%; border-style: solid; border-width: 1px 1px 1px 4px; border-radius: 0.33em; border-color: #eaecf0; vertical-align: top; white-space: pre-wrap;&quot;&gt;&lt;div&gt;Tác giả Đinh Hồng Hải trong Những biểu tượng đặc trưng trong văn hóa truyền thống Việt Nam viết: “... bát bửu là một mô-típ trang trí bắt nguồn từ Trung Hoa du nhập vào Việt Nam trong quá trình giao lưu văn hóa”.&amp;lt;ref&amp;gt;Đinh Hồng Hải (2012), Những biểu tượng đặc trưng trong văn hóa truyền thống Việt Nam, Nxb Tri Thức, Hà Nội, tr.158&amp;lt;/ref&amp;gt; Tác giả Nguyễn Hữu Thông viết: “Bát bửu hiểu nôm na là tám món quý. Trong nghệ thuật trang trí chúng thường kết thành từng bộ. Đây là một kiểu thức phổ biến, được thể hiện từ rất nhiều chất liệu khác nhau, cũng như được trình bày một cách đa dạng và phong phú trong trang trí Huế”.&amp;lt;ref name=&amp;quot;Nguyễn Hữu Thông 2001&amp;quot;/&amp;gt;&lt;/div&gt;&lt;/td&gt;&lt;td class='diff-marker'&gt; &lt;/td&gt;&lt;td style=&quot;background-color: #f8f9fa; color: #202122; font-size: 88%; border-style: solid; border-width: 1px 1px 1px 4px; border-radius: 0.33em; border-color: #eaecf0; vertical-align: top; white-space: pre-wrap;&quot;&gt;&lt;div&gt;Tác giả Đinh Hồng Hải trong Những biểu tượng đặc trưng trong văn hóa truyền thống Việt Nam viết: “... bát bửu là một mô-típ trang trí bắt nguồn từ Trung Hoa du nhập vào Việt Nam trong quá trình giao lưu văn hóa”.&amp;lt;ref&amp;gt;Đinh Hồng Hải (2012), Những biểu tượng đặc trưng trong văn hóa truyền thống Việt Nam, Nxb Tri Thức, Hà Nội, tr.158&amp;lt;/ref&amp;gt; Tác giả Nguyễn Hữu Thông viết: “Bát bửu hiểu nôm na là tám món quý. Trong nghệ thuật trang trí chúng thường kết thành từng bộ. Đây là một kiểu thức phổ biến, được thể hiện từ rất nhiều chất liệu khác nhau, cũng như được trình bày một cách đa dạng và phong phú trong trang trí Huế”.&amp;lt;ref name=&amp;quot;Nguyễn Hữu Thông 2001&amp;quot;/&amp;gt;&lt;/div&gt;&lt;/td&gt;&lt;/tr&gt;
&lt;tr&gt;&lt;td colspan=&quot;2&quot; class=&quot;diff-lineno&quot; id=&quot;mw-diff-left-l17&quot; &gt;Dòng 17:&lt;/td&gt;
&lt;td colspan=&quot;2&quot; class=&quot;diff-lineno&quot;&gt;Dòng 17:&lt;/td&gt;&lt;/tr&gt;
&lt;tr&gt;&lt;td class='diff-marker'&gt; &lt;/td&gt;&lt;td style=&quot;background-color: #f8f9fa; color: #202122; font-size: 88%; border-style: solid; border-width: 1px 1px 1px 4px; border-radius: 0.33em; border-color: #eaecf0; vertical-align: top; white-space: pre-wrap;&quot;&gt;&lt;div&gt;Nói về Đạo giáo trong đời sống xã hội Việt Nam trước đây, tác giả Nguyễn Tài Thư cho rằng Đạo giáo có ảnh hưởng đến người Việt “... vì nó phù hợp với tín ngưỡng dân gian và nó bổ sung những tín hiệu cần thiết mà tín ngưỡng dân gian không có... Tin theo Đạo giáo thần tiên vì người Việt vốn có tinh thần lãng mạn, muốn có cuộc đời dài lâu, muốn có cuộc sống tốt đẹp”.&amp;lt;ref&amp;gt;Nguyễn Tài Thư (1988), ''Lịch sử Phật giáo Việt Nam'', Nxb KHXH, Hà Nội, trang 85&amp;lt;/ref&amp;gt; Bát bửu trong Đạo giáo có rất nhiều kiểu thức, vật quý khác nhau và cũng có nhiều vật quý có trong bát bửu Nho giáo và Phật giáo. Trước hết là các vật quý gắn liền với bát tiên gồm cái quạt của Chung Ly Quyền, cái nậm thần (bầu rượu) của Lý Thiết Quài, bộ sanh tiền của Tào Quốc Cựu, cái lẵng hoa của Lam Thái Hòa, ống sáo trúc và cặp roi của Hàn Tương Tử và bông sen của tiên bà duy nhất trong bát tiên là Hà Tiên Cô. Ngoài ra còn có những thống kê khác với bát bửu Đạo giáo bao gồm thêm các vật quý như nấm linh chi, quạt ba tiêu, thanh kiếm, phất trần, gậy trúc,  bầu rượu, đàn tỳ bà, cái tiêu (sáo thổi dọc), dép cỏ, túi thiêng, trống cá (ngư cổ), cây thuốc... Có thể nhận thấy bát bửu Đạo giáo đã: “... hòa lẫn vào Phật giáo, Nho giáo và tín ngưỡng dân gian...”&amp;lt;ref&amp;gt;Đinh Hồng Hải (2012), sdd, tr.166&amp;lt;/ref&amp;gt;&lt;/div&gt;&lt;/td&gt;&lt;td class='diff-marker'&gt; &lt;/td&gt;&lt;td style=&quot;background-color: #f8f9fa; color: #202122; font-size: 88%; border-style: solid; border-width: 1px 1px 1px 4px; border-radius: 0.33em; border-color: #eaecf0; vertical-align: top; white-space: pre-wrap;&quot;&gt;&lt;div&gt;Nói về Đạo giáo trong đời sống xã hội Việt Nam trước đây, tác giả Nguyễn Tài Thư cho rằng Đạo giáo có ảnh hưởng đến người Việt “... vì nó phù hợp với tín ngưỡng dân gian và nó bổ sung những tín hiệu cần thiết mà tín ngưỡng dân gian không có... Tin theo Đạo giáo thần tiên vì người Việt vốn có tinh thần lãng mạn, muốn có cuộc đời dài lâu, muốn có cuộc sống tốt đẹp”.&amp;lt;ref&amp;gt;Nguyễn Tài Thư (1988), ''Lịch sử Phật giáo Việt Nam'', Nxb KHXH, Hà Nội, trang 85&amp;lt;/ref&amp;gt; Bát bửu trong Đạo giáo có rất nhiều kiểu thức, vật quý khác nhau và cũng có nhiều vật quý có trong bát bửu Nho giáo và Phật giáo. Trước hết là các vật quý gắn liền với bát tiên gồm cái quạt của Chung Ly Quyền, cái nậm thần (bầu rượu) của Lý Thiết Quài, bộ sanh tiền của Tào Quốc Cựu, cái lẵng hoa của Lam Thái Hòa, ống sáo trúc và cặp roi của Hàn Tương Tử và bông sen của tiên bà duy nhất trong bát tiên là Hà Tiên Cô. Ngoài ra còn có những thống kê khác với bát bửu Đạo giáo bao gồm thêm các vật quý như nấm linh chi, quạt ba tiêu, thanh kiếm, phất trần, gậy trúc,  bầu rượu, đàn tỳ bà, cái tiêu (sáo thổi dọc), dép cỏ, túi thiêng, trống cá (ngư cổ), cây thuốc... Có thể nhận thấy bát bửu Đạo giáo đã: “... hòa lẫn vào Phật giáo, Nho giáo và tín ngưỡng dân gian...”&amp;lt;ref&amp;gt;Đinh Hồng Hải (2012), sdd, tr.166&amp;lt;/ref&amp;gt;&lt;/div&gt;&lt;/td&gt;&lt;/tr&gt;
&lt;tr&gt;&lt;td class='diff-marker'&gt; &lt;/td&gt;&lt;td style=&quot;background-color: #f8f9fa; color: #202122; font-size: 88%; border-style: solid; border-width: 1px 1px 1px 4px; border-radius: 0.33em; border-color: #eaecf0; vertical-align: top; white-space: pre-wrap;&quot;&gt;&lt;/td&gt;&lt;td class='diff-marker'&gt; &lt;/td&gt;&lt;td style=&quot;background-color: #f8f9fa; color: #202122; font-size: 88%; border-style: solid; border-width: 1px 1px 1px 4px; border-radius: 0.33em; border-color: #eaecf0; vertical-align: top; white-space: pre-wrap;&quot;&gt;&lt;/td&gt;&lt;/tr&gt;
&lt;tr&gt;&lt;td class='diff-marker'&gt;−&lt;/td&gt;&lt;td style=&quot;color: #202122; font-size: 88%; border-style: solid; border-width: 1px 1px 1px 4px; border-radius: 0.33em; border-color: #ffe49c; vertical-align: top; white-space: pre-wrap;&quot;&gt;&lt;div&gt;Hình tượng các vật quý luôn được trang trí kết hợp với dải lụa thanh nhã, mềm mại hay với các biến thể hoa lá cách điệu hoá, hoa dây... Sự uốn lượn của các dải băng làm cho cái động và tĩnh trong trang trí thêm sinh động: “Hình tượng tám vật quý thường được trình bày kết hợp với những dãi băng điều, hoặc hoa lá hay cụm mây. Kiểu phối trí tạo nên sự liên kết mềm mại nhưng chặt chẽ cho bố cục tạo hình” . Người xưa gọi kiểu thức bát bửu gắn kết dãi băng cách điệu là “bàn triền”, Theo từ điển Hán - Việt chữ “bàn” có nhiều nghĩa nhưng nghĩa được sử dụng là “vui vẻ”, còn “triền” có nghĩa là toàn vẹn, đầy đủ (vì vậy có khi đọc là “tuyền” hay “toàn”). “Mẫu thức hoa, dây, lá, kết hợp với bát bửu được gọi là “triền chi” mang biểu tượng cho sự phát triển thường xuyên, lâu &lt;del class=&quot;diffchange diffchange-inline&quot;&gt;dài”&lt;/del&gt;&lt;/div&gt;&lt;/td&gt;&lt;td class='diff-marker'&gt;+&lt;/td&gt;&lt;td style=&quot;color: #202122; font-size: 88%; border-style: solid; border-width: 1px 1px 1px 4px; border-radius: 0.33em; border-color: #a3d3ff; vertical-align: top; white-space: pre-wrap;&quot;&gt;&lt;div&gt;Hình tượng các vật quý luôn được trang trí kết hợp với dải lụa thanh nhã, mềm mại hay với các biến thể hoa lá cách điệu hoá, hoa dây... Sự uốn lượn của các dải băng làm cho cái động và tĩnh trong trang trí thêm sinh động: “Hình tượng tám vật quý thường được trình bày kết hợp với những dãi băng điều, hoặc hoa lá hay cụm mây. Kiểu phối trí tạo nên sự liên kết mềm mại nhưng chặt chẽ cho bố cục tạo hình”.&lt;ins class=&quot;diffchange diffchange-inline&quot;&gt;&amp;lt;ref name=&amp;quot;Nguyễn Hữu Thông 2001&amp;quot;/&amp;gt; &lt;/ins&gt;Người xưa gọi kiểu thức bát bửu gắn kết dãi băng cách điệu là “bàn triền”, Theo từ điển Hán - Việt chữ “bàn” có nhiều nghĩa nhưng nghĩa được sử dụng là “vui vẻ”, còn “triền” có nghĩa là toàn vẹn, đầy đủ (vì vậy có khi đọc là “tuyền” hay “toàn”). “Mẫu thức hoa, dây, lá, kết hợp với bát bửu được gọi là “triền chi” mang biểu tượng cho sự phát triển thường xuyên, lâu &lt;ins class=&quot;diffchange diffchange-inline&quot;&gt;dài.”&amp;lt;ref name=&amp;quot;Nguyễn Hữu Thông 2001&amp;quot;/&amp;gt;&lt;/ins&gt;&lt;/div&gt;&lt;/td&gt;&lt;/tr&gt;
&lt;tr&gt;&lt;td class='diff-marker'&gt; &lt;/td&gt;&lt;td style=&quot;background-color: #f8f9fa; color: #202122; font-size: 88%; border-style: solid; border-width: 1px 1px 1px 4px; border-radius: 0.33em; border-color: #eaecf0; vertical-align: top; white-space: pre-wrap;&quot;&gt;&lt;/td&gt;&lt;td class='diff-marker'&gt; &lt;/td&gt;&lt;td style=&quot;background-color: #f8f9fa; color: #202122; font-size: 88%; border-style: solid; border-width: 1px 1px 1px 4px; border-radius: 0.33em; border-color: #eaecf0; vertical-align: top; white-space: pre-wrap;&quot;&gt;&lt;/td&gt;&lt;/tr&gt;
&lt;tr&gt;&lt;td class='diff-marker'&gt; &lt;/td&gt;&lt;td style=&quot;background-color: #f8f9fa; color: #202122; font-size: 88%; border-style: solid; border-width: 1px 1px 1px 4px; border-radius: 0.33em; border-color: #eaecf0; vertical-align: top; white-space: pre-wrap;&quot;&gt;&lt;div&gt;Các bộ Bát bửu tam giáo đã tạo nên những hòa điệu tâm linh, triết lý, phản ánh tư tưởng nghệ thuật của thời đại. Tác giả Trần Đại Vinh khẳng định: “Phật, Đạo, Nho đã chi phối tín ngưỡng dân gian Huế từ căn đế, lan tỏa vào mọi ngóc ngách trong tâm thức người dân Huế...”  .&lt;/div&gt;&lt;/td&gt;&lt;td class='diff-marker'&gt; &lt;/td&gt;&lt;td style=&quot;background-color: #f8f9fa; color: #202122; font-size: 88%; border-style: solid; border-width: 1px 1px 1px 4px; border-radius: 0.33em; border-color: #eaecf0; vertical-align: top; white-space: pre-wrap;&quot;&gt;&lt;div&gt;Các bộ Bát bửu tam giáo đã tạo nên những hòa điệu tâm linh, triết lý, phản ánh tư tưởng nghệ thuật của thời đại. Tác giả Trần Đại Vinh khẳng định: “Phật, Đạo, Nho đã chi phối tín ngưỡng dân gian Huế từ căn đế, lan tỏa vào mọi ngóc ngách trong tâm thức người dân Huế...”  .&lt;/div&gt;&lt;/td&gt;&lt;/tr&gt;

&lt;!-- diff cache key bktt:diff::1.12:old-13301:rev-13302 --&gt;
&lt;/table&gt;</summary>
		<author><name>Tttrung</name></author>
	</entry>
	<entry>
		<id>https://bktt.vn/index.php?title=B%C3%A1t_b%E1%BB%ADu&amp;diff=13301&amp;oldid=prev</id>
		<title>Tttrung vào lúc 13:45, ngày 12 tháng 4 năm 2021</title>
		<link rel="alternate" type="text/html" href="https://bktt.vn/index.php?title=B%C3%A1t_b%E1%BB%ADu&amp;diff=13301&amp;oldid=prev"/>
		<updated>2021-04-12T13:45:35Z</updated>

		<summary type="html">&lt;p&gt;&lt;/p&gt;
&lt;table class=&quot;diff diff-contentalign-left diff-editfont-monospace&quot; data-mw=&quot;interface&quot;&gt;
				&lt;col class=&quot;diff-marker&quot; /&gt;
				&lt;col class=&quot;diff-content&quot; /&gt;
				&lt;col class=&quot;diff-marker&quot; /&gt;
				&lt;col class=&quot;diff-content&quot; /&gt;
				&lt;tr class=&quot;diff-title&quot; lang=&quot;vi&quot;&gt;
				&lt;td colspan=&quot;2&quot; style=&quot;background-color: #fff; color: #202122; text-align: center;&quot;&gt;← Phiên bản cũ&lt;/td&gt;
				&lt;td colspan=&quot;2&quot; style=&quot;background-color: #fff; color: #202122; text-align: center;&quot;&gt;Phiên bản lúc 13:45, ngày 12 tháng 4 năm 2021&lt;/td&gt;
				&lt;/tr&gt;&lt;tr&gt;&lt;td colspan=&quot;2&quot; class=&quot;diff-lineno&quot; id=&quot;mw-diff-left-l3&quot; &gt;Dòng 3:&lt;/td&gt;
&lt;td colspan=&quot;2&quot; class=&quot;diff-lineno&quot;&gt;Dòng 3:&lt;/td&gt;&lt;/tr&gt;
&lt;tr&gt;&lt;td class='diff-marker'&gt; &lt;/td&gt;&lt;td style=&quot;background-color: #f8f9fa; color: #202122; font-size: 88%; border-style: solid; border-width: 1px 1px 1px 4px; border-radius: 0.33em; border-color: #eaecf0; vertical-align: top; white-space: pre-wrap;&quot;&gt;&lt;div&gt;'''Bát bửu''' là đề tài xuất hiện từ lâu trong mỹ thuật cổ của dân tộc [[Việt Nam]], trong đó người xưa “xã hội hóa”, “âm linh hóa” những đồ vật được coi là vật báu và tạo cho chúng những ngữ nghĩa, nội dung tinh thần biểu tượng khác nhau. Đồ vật quý được gọi với những cái tên mang nội hàm biểu hiện khác nhau và rất đa nghĩa mà trước hết chúng là tạp bảo (nhiều vật quý các loại), rồi khi điển hóa gọi là bách cổ một cách ước lệ của số đếm không tuyệt đối. Khi dùng trang trí, tạo hình và chuẩn hóa kiểu thức thì gọi là cổ đồ với sự trang trí từng bộ hay độc lập. Cuối cùng  khi sắp xếp, chọn lọc và dùng trong những điều kiện và hoàn cảnh, yêu cầu cụ thể mới gọi là bát bửu (bát bảo). Bát bửu cổ đồ cũng hình thành từ nhiều hình thái tồn tại của vật quý trong đời sống như loại vật quý từ: “... đời sống của tầng lớp phong lưu, nhàn hạ và nghệ sĩ như: cầm - kỳ - thi - họa; hoặc có thể là các loại đồ minh khí, vật dụng được gia công tỉ mỉ, khảm hay đính những thứ đá quý. Có thể đó là bức trướng liễn, hoành phí, câu đối có nội dung thâm thúy, thư pháp tài tình của những tác giả nổi tiếng. Hoặc những bộ văn phòng tứ bửu từ nguyên liệu quý hiếm được làm thành tác phẩm mỹ thuật có giá trị. Tựu trung, đó là những món đồ sử dụng hoặc trang trí có một giá trị đặc biệt, mang tính biểu tượng cao có tính thẩm mỹ và vai trò trong đời sống văn hóa”.&amp;lt;ref&amp;gt;Nguyễn Hữu Thông (2001), ''Mỹ thuật Huế nhìn từ góc độ ý nghĩa và biểu tượng trang trí'', Nxb Thuận Hóa, Huế, tr.124&amp;lt;/ref&amp;gt; Theo Tầm nguyên từ điển của Bửu Kế thì bát bửu là của các vị tiên: “Bát: tám; bửu: quý. Tám thứ quý của tiên”.&amp;lt;ref&amp;gt;Bửu Kế (1993), ''Tầm nguyên từ điển'', Nxb TP HCM, tr.52&amp;lt;/ref&amp;gt; Nói về ý nghĩa bát bửu khá nhiều,tuy nhiên các nhà nghiên cứu chưa thống nhất về việc xuất hiện bát bửu từ thời nào. Trong một số tài liệu có nói chung chung là trang trí thời Lý-Trần đã có một vài hình ảnh của bát bửu như đôi sừng tê, hoa sen... Trong các sách viết về mỹ thuật cổ thời Hậu Lê - Nguyễn thì việc nói đến bát bửu đã phổ biến. Đến thời Nguyễn thì bát bửu đã thành bộ đề tài và không còn trang trí lẻ tẻ như các thời kỳ trước.”&amp;lt;ref name=&amp;quot;Nguyễn Hữu Thông 2001&amp;quot;&amp;gt;Nguyễn Hữu Thông (2001), ''Mỹ thuật Huế nhìn từ góc độ ý nghĩa và biểu tượng'', Nxb Thuận Hóa, Huế, tr.124&amp;lt;/ref&amp;gt; Trong Lược sử Mỹ thuật Việt Nam, tác giả Nguyễn Phi Hoanh viết về đặc điểm của bát bửu trong mỹ thuật cổ dân tộc là: “Người xưa không nhất trí về tám vật này; trong những tác phẩm trang trí thường có khác nhau về một vài chi tiết.”&amp;lt;ref&amp;gt;Nguyễn Phi Hoanh (1970), ''Lược sử mỹ thuật Việt Nam'', Nxb KHXH, Hà Nội, tr.231&amp;lt;/ref&amp;gt;&lt;/div&gt;&lt;/td&gt;&lt;td class='diff-marker'&gt; &lt;/td&gt;&lt;td style=&quot;background-color: #f8f9fa; color: #202122; font-size: 88%; border-style: solid; border-width: 1px 1px 1px 4px; border-radius: 0.33em; border-color: #eaecf0; vertical-align: top; white-space: pre-wrap;&quot;&gt;&lt;div&gt;'''Bát bửu''' là đề tài xuất hiện từ lâu trong mỹ thuật cổ của dân tộc [[Việt Nam]], trong đó người xưa “xã hội hóa”, “âm linh hóa” những đồ vật được coi là vật báu và tạo cho chúng những ngữ nghĩa, nội dung tinh thần biểu tượng khác nhau. Đồ vật quý được gọi với những cái tên mang nội hàm biểu hiện khác nhau và rất đa nghĩa mà trước hết chúng là tạp bảo (nhiều vật quý các loại), rồi khi điển hóa gọi là bách cổ một cách ước lệ của số đếm không tuyệt đối. Khi dùng trang trí, tạo hình và chuẩn hóa kiểu thức thì gọi là cổ đồ với sự trang trí từng bộ hay độc lập. Cuối cùng  khi sắp xếp, chọn lọc và dùng trong những điều kiện và hoàn cảnh, yêu cầu cụ thể mới gọi là bát bửu (bát bảo). Bát bửu cổ đồ cũng hình thành từ nhiều hình thái tồn tại của vật quý trong đời sống như loại vật quý từ: “... đời sống của tầng lớp phong lưu, nhàn hạ và nghệ sĩ như: cầm - kỳ - thi - họa; hoặc có thể là các loại đồ minh khí, vật dụng được gia công tỉ mỉ, khảm hay đính những thứ đá quý. Có thể đó là bức trướng liễn, hoành phí, câu đối có nội dung thâm thúy, thư pháp tài tình của những tác giả nổi tiếng. Hoặc những bộ văn phòng tứ bửu từ nguyên liệu quý hiếm được làm thành tác phẩm mỹ thuật có giá trị. Tựu trung, đó là những món đồ sử dụng hoặc trang trí có một giá trị đặc biệt, mang tính biểu tượng cao có tính thẩm mỹ và vai trò trong đời sống văn hóa”.&amp;lt;ref&amp;gt;Nguyễn Hữu Thông (2001), ''Mỹ thuật Huế nhìn từ góc độ ý nghĩa và biểu tượng trang trí'', Nxb Thuận Hóa, Huế, tr.124&amp;lt;/ref&amp;gt; Theo Tầm nguyên từ điển của Bửu Kế thì bát bửu là của các vị tiên: “Bát: tám; bửu: quý. Tám thứ quý của tiên”.&amp;lt;ref&amp;gt;Bửu Kế (1993), ''Tầm nguyên từ điển'', Nxb TP HCM, tr.52&amp;lt;/ref&amp;gt; Nói về ý nghĩa bát bửu khá nhiều,tuy nhiên các nhà nghiên cứu chưa thống nhất về việc xuất hiện bát bửu từ thời nào. Trong một số tài liệu có nói chung chung là trang trí thời Lý-Trần đã có một vài hình ảnh của bát bửu như đôi sừng tê, hoa sen... Trong các sách viết về mỹ thuật cổ thời Hậu Lê - Nguyễn thì việc nói đến bát bửu đã phổ biến. Đến thời Nguyễn thì bát bửu đã thành bộ đề tài và không còn trang trí lẻ tẻ như các thời kỳ trước.”&amp;lt;ref name=&amp;quot;Nguyễn Hữu Thông 2001&amp;quot;&amp;gt;Nguyễn Hữu Thông (2001), ''Mỹ thuật Huế nhìn từ góc độ ý nghĩa và biểu tượng'', Nxb Thuận Hóa, Huế, tr.124&amp;lt;/ref&amp;gt; Trong Lược sử Mỹ thuật Việt Nam, tác giả Nguyễn Phi Hoanh viết về đặc điểm của bát bửu trong mỹ thuật cổ dân tộc là: “Người xưa không nhất trí về tám vật này; trong những tác phẩm trang trí thường có khác nhau về một vài chi tiết.”&amp;lt;ref&amp;gt;Nguyễn Phi Hoanh (1970), ''Lược sử mỹ thuật Việt Nam'', Nxb KHXH, Hà Nội, tr.231&amp;lt;/ref&amp;gt;&lt;/div&gt;&lt;/td&gt;&lt;/tr&gt;
&lt;tr&gt;&lt;td class='diff-marker'&gt; &lt;/td&gt;&lt;td style=&quot;background-color: #f8f9fa; color: #202122; font-size: 88%; border-style: solid; border-width: 1px 1px 1px 4px; border-radius: 0.33em; border-color: #eaecf0; vertical-align: top; white-space: pre-wrap;&quot;&gt;&lt;/td&gt;&lt;td class='diff-marker'&gt; &lt;/td&gt;&lt;td style=&quot;background-color: #f8f9fa; color: #202122; font-size: 88%; border-style: solid; border-width: 1px 1px 1px 4px; border-radius: 0.33em; border-color: #eaecf0; vertical-align: top; white-space: pre-wrap;&quot;&gt;&lt;/td&gt;&lt;/tr&gt;
&lt;tr&gt;&lt;td class='diff-marker'&gt;−&lt;/td&gt;&lt;td style=&quot;color: #202122; font-size: 88%; border-style: solid; border-width: 1px 1px 1px 4px; border-radius: 0.33em; border-color: #ffe49c; vertical-align: top; white-space: pre-wrap;&quot;&gt;&lt;div&gt;Tác giả Đinh Hồng Hải trong Những biểu tượng đặc trưng trong văn hóa truyền thống Việt Nam viết: “... bát bửu là một mô-típ trang trí bắt nguồn từ Trung Hoa du nhập vào Việt Nam trong quá trình giao lưu văn hóa”.&amp;lt;ref&amp;gt;Đinh Hồng Hải(2012), Những biểu tượng đặc trưng trong văn hóa truyền thống Việt Nam, Nxb Tri Thức, Hà Nội, tr.158&amp;lt;/ref&amp;gt; Tác giả Nguyễn Hữu Thông viết: “Bát bửu hiểu nôm na là tám món quý. Trong nghệ thuật trang trí chúng thường kết thành từng bộ. Đây là một kiểu thức phổ biến, được thể hiện từ rất nhiều chất liệu khác nhau, cũng như được trình bày một cách đa dạng và phong phú trong trang trí Huế”.&amp;lt;ref name=&amp;quot;Nguyễn Hữu Thông 2001&amp;quot;/&amp;gt;&lt;/div&gt;&lt;/td&gt;&lt;td class='diff-marker'&gt;+&lt;/td&gt;&lt;td style=&quot;color: #202122; font-size: 88%; border-style: solid; border-width: 1px 1px 1px 4px; border-radius: 0.33em; border-color: #a3d3ff; vertical-align: top; white-space: pre-wrap;&quot;&gt;&lt;div&gt;Tác giả Đinh Hồng Hải trong Những biểu tượng đặc trưng trong văn hóa truyền thống Việt Nam viết: “... bát bửu là một mô-típ trang trí bắt nguồn từ Trung Hoa du nhập vào Việt Nam trong quá trình giao lưu văn hóa”.&amp;lt;ref&amp;gt;Đinh Hồng Hải (2012), Những biểu tượng đặc trưng trong văn hóa truyền thống Việt Nam, Nxb Tri Thức, Hà Nội, tr.158&amp;lt;/ref&amp;gt; Tác giả Nguyễn Hữu Thông viết: “Bát bửu hiểu nôm na là tám món quý. Trong nghệ thuật trang trí chúng thường kết thành từng bộ. Đây là một kiểu thức phổ biến, được thể hiện từ rất nhiều chất liệu khác nhau, cũng như được trình bày một cách đa dạng và phong phú trong trang trí Huế”.&amp;lt;ref name=&amp;quot;Nguyễn Hữu Thông 2001&amp;quot;/&amp;gt;&lt;/div&gt;&lt;/td&gt;&lt;/tr&gt;
&lt;tr&gt;&lt;td class='diff-marker'&gt; &lt;/td&gt;&lt;td style=&quot;background-color: #f8f9fa; color: #202122; font-size: 88%; border-style: solid; border-width: 1px 1px 1px 4px; border-radius: 0.33em; border-color: #eaecf0; vertical-align: top; white-space: pre-wrap;&quot;&gt;&lt;/td&gt;&lt;td class='diff-marker'&gt; &lt;/td&gt;&lt;td style=&quot;background-color: #f8f9fa; color: #202122; font-size: 88%; border-style: solid; border-width: 1px 1px 1px 4px; border-radius: 0.33em; border-color: #eaecf0; vertical-align: top; white-space: pre-wrap;&quot;&gt;&lt;/td&gt;&lt;/tr&gt;
&lt;tr&gt;&lt;td class='diff-marker'&gt; &lt;/td&gt;&lt;td style=&quot;background-color: #f8f9fa; color: #202122; font-size: 88%; border-style: solid; border-width: 1px 1px 1px 4px; border-radius: 0.33em; border-color: #eaecf0; vertical-align: top; white-space: pre-wrap;&quot;&gt;&lt;div&gt;==Bát bửu Nho giáo==&lt;/div&gt;&lt;/td&gt;&lt;td class='diff-marker'&gt; &lt;/td&gt;&lt;td style=&quot;background-color: #f8f9fa; color: #202122; font-size: 88%; border-style: solid; border-width: 1px 1px 1px 4px; border-radius: 0.33em; border-color: #eaecf0; vertical-align: top; white-space: pre-wrap;&quot;&gt;&lt;div&gt;==Bát bửu Nho giáo==&lt;/div&gt;&lt;/td&gt;&lt;/tr&gt;

&lt;!-- diff cache key bktt:diff::1.12:old-13300:rev-13301 --&gt;
&lt;/table&gt;</summary>
		<author><name>Tttrung</name></author>
	</entry>
	<entry>
		<id>https://bktt.vn/index.php?title=B%C3%A1t_b%E1%BB%ADu&amp;diff=13300&amp;oldid=prev</id>
		<title>Tttrung: /* Bát bửu Đạo giáo */</title>
		<link rel="alternate" type="text/html" href="https://bktt.vn/index.php?title=B%C3%A1t_b%E1%BB%ADu&amp;diff=13300&amp;oldid=prev"/>
		<updated>2021-04-12T13:45:11Z</updated>

		<summary type="html">&lt;p&gt;&lt;span dir=&quot;auto&quot;&gt;&lt;span class=&quot;autocomment&quot;&gt;Bát bửu Đạo giáo&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/p&gt;
&lt;table class=&quot;diff diff-contentalign-left diff-editfont-monospace&quot; data-mw=&quot;interface&quot;&gt;
				&lt;col class=&quot;diff-marker&quot; /&gt;
				&lt;col class=&quot;diff-content&quot; /&gt;
				&lt;col class=&quot;diff-marker&quot; /&gt;
				&lt;col class=&quot;diff-content&quot; /&gt;
				&lt;tr class=&quot;diff-title&quot; lang=&quot;vi&quot;&gt;
				&lt;td colspan=&quot;2&quot; style=&quot;background-color: #fff; color: #202122; text-align: center;&quot;&gt;← Phiên bản cũ&lt;/td&gt;
				&lt;td colspan=&quot;2&quot; style=&quot;background-color: #fff; color: #202122; text-align: center;&quot;&gt;Phiên bản lúc 13:45, ngày 12 tháng 4 năm 2021&lt;/td&gt;
				&lt;/tr&gt;&lt;tr&gt;&lt;td colspan=&quot;2&quot; class=&quot;diff-lineno&quot; id=&quot;mw-diff-left-l15&quot; &gt;Dòng 15:&lt;/td&gt;
&lt;td colspan=&quot;2&quot; class=&quot;diff-lineno&quot;&gt;Dòng 15:&lt;/td&gt;&lt;/tr&gt;
&lt;tr&gt;&lt;td class='diff-marker'&gt; &lt;/td&gt;&lt;td style=&quot;background-color: #f8f9fa; color: #202122; font-size: 88%; border-style: solid; border-width: 1px 1px 1px 4px; border-radius: 0.33em; border-color: #eaecf0; vertical-align: top; white-space: pre-wrap;&quot;&gt;&lt;div&gt;==Bát bửu Đạo giáo==&lt;/div&gt;&lt;/td&gt;&lt;td class='diff-marker'&gt; &lt;/td&gt;&lt;td style=&quot;background-color: #f8f9fa; color: #202122; font-size: 88%; border-style: solid; border-width: 1px 1px 1px 4px; border-radius: 0.33em; border-color: #eaecf0; vertical-align: top; white-space: pre-wrap;&quot;&gt;&lt;div&gt;==Bát bửu Đạo giáo==&lt;/div&gt;&lt;/td&gt;&lt;/tr&gt;
&lt;tr&gt;&lt;td class='diff-marker'&gt; &lt;/td&gt;&lt;td style=&quot;background-color: #f8f9fa; color: #202122; font-size: 88%; border-style: solid; border-width: 1px 1px 1px 4px; border-radius: 0.33em; border-color: #eaecf0; vertical-align: top; white-space: pre-wrap;&quot;&gt;&lt;/td&gt;&lt;td class='diff-marker'&gt; &lt;/td&gt;&lt;td style=&quot;background-color: #f8f9fa; color: #202122; font-size: 88%; border-style: solid; border-width: 1px 1px 1px 4px; border-radius: 0.33em; border-color: #eaecf0; vertical-align: top; white-space: pre-wrap;&quot;&gt;&lt;/td&gt;&lt;/tr&gt;
&lt;tr&gt;&lt;td class='diff-marker'&gt;−&lt;/td&gt;&lt;td style=&quot;color: #202122; font-size: 88%; border-style: solid; border-width: 1px 1px 1px 4px; border-radius: 0.33em; border-color: #ffe49c; vertical-align: top; white-space: pre-wrap;&quot;&gt;&lt;div&gt;Nói về Đạo giáo trong đời sống xã hội Việt Nam trước đây, tác giả Nguyễn Tài Thư cho rằng Đạo giáo có ảnh hưởng đến người Việt “... vì nó phù hợp với tín ngưỡng dân gian và nó bổ sung những tín hiệu cần thiết mà tín ngưỡng dân gian không có... Tin theo Đạo giáo thần tiên vì người Việt vốn có tinh thần lãng mạn, muốn có cuộc đời dài lâu, muốn có cuộc sống tốt đẹp”.&amp;lt;ref&amp;gt;Nguyễn Tài Thư (1988), ''Lịch sử Phật giáo Việt Nam'', Nxb KHXH, Hà Nội, trang 85&amp;lt;/ref&amp;gt; Bát bửu trong Đạo giáo có rất nhiều kiểu thức, vật quý khác nhau và cũng có nhiều vật quý có trong bát bửu Nho giáo và Phật giáo. Trước hết là các vật quý gắn liền với bát tiên gồm cái quạt của Chung Ly Quyền, cái nậm thần (bầu rượu) của Lý Thiết Quài, bộ sanh tiền của Tào Quốc Cựu, cái lẵng hoa của Lam Thái Hòa, ống sáo trúc và cặp roi của Hàn Tương Tử và bông sen của tiên bà duy nhất trong bát tiên là Hà Tiên Cô. Ngoài ra còn có những thống kê khác với bát bửu Đạo giáo bao gồm thêm các vật quý như nấm linh chi, quạt ba tiêu, thanh kiếm, phất trần, gậy trúc,  bầu rượu, đàn tỳ bà, cái tiêu (sáo thổi dọc), dép cỏ, túi thiêng, trống cá (ngư cổ), cây thuốc... Có thể nhận thấy bát bửu Đạo giáo đã: “... hòa lẫn vào Phật giáo, Nho giáo và tín ngưỡng dân gian..”&lt;/div&gt;&lt;/td&gt;&lt;td class='diff-marker'&gt;+&lt;/td&gt;&lt;td style=&quot;color: #202122; font-size: 88%; border-style: solid; border-width: 1px 1px 1px 4px; border-radius: 0.33em; border-color: #a3d3ff; vertical-align: top; white-space: pre-wrap;&quot;&gt;&lt;div&gt;Nói về Đạo giáo trong đời sống xã hội Việt Nam trước đây, tác giả Nguyễn Tài Thư cho rằng Đạo giáo có ảnh hưởng đến người Việt “... vì nó phù hợp với tín ngưỡng dân gian và nó bổ sung những tín hiệu cần thiết mà tín ngưỡng dân gian không có... Tin theo Đạo giáo thần tiên vì người Việt vốn có tinh thần lãng mạn, muốn có cuộc đời dài lâu, muốn có cuộc sống tốt đẹp”.&amp;lt;ref&amp;gt;Nguyễn Tài Thư (1988), ''Lịch sử Phật giáo Việt Nam'', Nxb KHXH, Hà Nội, trang 85&amp;lt;/ref&amp;gt; Bát bửu trong Đạo giáo có rất nhiều kiểu thức, vật quý khác nhau và cũng có nhiều vật quý có trong bát bửu Nho giáo và Phật giáo. Trước hết là các vật quý gắn liền với bát tiên gồm cái quạt của Chung Ly Quyền, cái nậm thần (bầu rượu) của Lý Thiết Quài, bộ sanh tiền của Tào Quốc Cựu, cái lẵng hoa của Lam Thái Hòa, ống sáo trúc và cặp roi của Hàn Tương Tử và bông sen của tiên bà duy nhất trong bát tiên là Hà Tiên Cô. Ngoài ra còn có những thống kê khác với bát bửu Đạo giáo bao gồm thêm các vật quý như nấm linh chi, quạt ba tiêu, thanh kiếm, phất trần, gậy trúc,  bầu rượu, đàn tỳ bà, cái tiêu (sáo thổi dọc), dép cỏ, túi thiêng, trống cá (ngư cổ), cây thuốc... Có thể nhận thấy bát bửu Đạo giáo đã: “... hòa lẫn vào Phật giáo, Nho giáo và tín ngưỡng dân gian&lt;ins class=&quot;diffchange diffchange-inline&quot;&gt;.&lt;/ins&gt;..”&lt;ins class=&quot;diffchange diffchange-inline&quot;&gt;&amp;lt;ref&amp;gt;Đinh Hồng Hải (2012), sdd, tr.166&amp;lt;/ref&amp;gt;&lt;/ins&gt;&lt;/div&gt;&lt;/td&gt;&lt;/tr&gt;
&lt;tr&gt;&lt;td class='diff-marker'&gt; &lt;/td&gt;&lt;td style=&quot;background-color: #f8f9fa; color: #202122; font-size: 88%; border-style: solid; border-width: 1px 1px 1px 4px; border-radius: 0.33em; border-color: #eaecf0; vertical-align: top; white-space: pre-wrap;&quot;&gt;&lt;/td&gt;&lt;td class='diff-marker'&gt; &lt;/td&gt;&lt;td style=&quot;background-color: #f8f9fa; color: #202122; font-size: 88%; border-style: solid; border-width: 1px 1px 1px 4px; border-radius: 0.33em; border-color: #eaecf0; vertical-align: top; white-space: pre-wrap;&quot;&gt;&lt;/td&gt;&lt;/tr&gt;
&lt;tr&gt;&lt;td class='diff-marker'&gt; &lt;/td&gt;&lt;td style=&quot;background-color: #f8f9fa; color: #202122; font-size: 88%; border-style: solid; border-width: 1px 1px 1px 4px; border-radius: 0.33em; border-color: #eaecf0; vertical-align: top; white-space: pre-wrap;&quot;&gt;&lt;div&gt;Hình tượng các vật quý luôn được trang trí kết hợp với dải lụa thanh nhã, mềm mại hay với các biến thể hoa lá cách điệu hoá, hoa dây... Sự uốn lượn của các dải băng làm cho cái động và tĩnh trong trang trí thêm sinh động: “Hình tượng tám vật quý thường được trình bày kết hợp với những dãi băng điều, hoặc hoa lá hay cụm mây. Kiểu phối trí tạo nên sự liên kết mềm mại nhưng chặt chẽ cho bố cục tạo hình” . Người xưa gọi kiểu thức bát bửu gắn kết dãi băng cách điệu là “bàn triền”, Theo từ điển Hán - Việt chữ “bàn” có nhiều nghĩa nhưng nghĩa được sử dụng là “vui vẻ”, còn “triền” có nghĩa là toàn vẹn, đầy đủ (vì vậy có khi đọc là “tuyền” hay “toàn”). “Mẫu thức hoa, dây, lá, kết hợp với bát bửu được gọi là “triền chi” mang biểu tượng cho sự phát triển thường xuyên, lâu dài”&lt;/div&gt;&lt;/td&gt;&lt;td class='diff-marker'&gt; &lt;/td&gt;&lt;td style=&quot;background-color: #f8f9fa; color: #202122; font-size: 88%; border-style: solid; border-width: 1px 1px 1px 4px; border-radius: 0.33em; border-color: #eaecf0; vertical-align: top; white-space: pre-wrap;&quot;&gt;&lt;div&gt;Hình tượng các vật quý luôn được trang trí kết hợp với dải lụa thanh nhã, mềm mại hay với các biến thể hoa lá cách điệu hoá, hoa dây... Sự uốn lượn của các dải băng làm cho cái động và tĩnh trong trang trí thêm sinh động: “Hình tượng tám vật quý thường được trình bày kết hợp với những dãi băng điều, hoặc hoa lá hay cụm mây. Kiểu phối trí tạo nên sự liên kết mềm mại nhưng chặt chẽ cho bố cục tạo hình” . Người xưa gọi kiểu thức bát bửu gắn kết dãi băng cách điệu là “bàn triền”, Theo từ điển Hán - Việt chữ “bàn” có nhiều nghĩa nhưng nghĩa được sử dụng là “vui vẻ”, còn “triền” có nghĩa là toàn vẹn, đầy đủ (vì vậy có khi đọc là “tuyền” hay “toàn”). “Mẫu thức hoa, dây, lá, kết hợp với bát bửu được gọi là “triền chi” mang biểu tượng cho sự phát triển thường xuyên, lâu dài”&lt;/div&gt;&lt;/td&gt;&lt;/tr&gt;

&lt;!-- diff cache key bktt:diff::1.12:old-13299:rev-13300 --&gt;
&lt;/table&gt;</summary>
		<author><name>Tttrung</name></author>
	</entry>
	<entry>
		<id>https://bktt.vn/index.php?title=B%C3%A1t_b%E1%BB%ADu&amp;diff=13299&amp;oldid=prev</id>
		<title>Tttrung: /* Bát bửu Đạo giáo */</title>
		<link rel="alternate" type="text/html" href="https://bktt.vn/index.php?title=B%C3%A1t_b%E1%BB%ADu&amp;diff=13299&amp;oldid=prev"/>
		<updated>2021-04-12T11:31:45Z</updated>

		<summary type="html">&lt;p&gt;&lt;span dir=&quot;auto&quot;&gt;&lt;span class=&quot;autocomment&quot;&gt;Bát bửu Đạo giáo&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/p&gt;
&lt;table class=&quot;diff diff-contentalign-left diff-editfont-monospace&quot; data-mw=&quot;interface&quot;&gt;
				&lt;col class=&quot;diff-marker&quot; /&gt;
				&lt;col class=&quot;diff-content&quot; /&gt;
				&lt;col class=&quot;diff-marker&quot; /&gt;
				&lt;col class=&quot;diff-content&quot; /&gt;
				&lt;tr class=&quot;diff-title&quot; lang=&quot;vi&quot;&gt;
				&lt;td colspan=&quot;2&quot; style=&quot;background-color: #fff; color: #202122; text-align: center;&quot;&gt;← Phiên bản cũ&lt;/td&gt;
				&lt;td colspan=&quot;2&quot; style=&quot;background-color: #fff; color: #202122; text-align: center;&quot;&gt;Phiên bản lúc 11:31, ngày 12 tháng 4 năm 2021&lt;/td&gt;
				&lt;/tr&gt;&lt;tr&gt;&lt;td colspan=&quot;2&quot; class=&quot;diff-lineno&quot; id=&quot;mw-diff-left-l15&quot; &gt;Dòng 15:&lt;/td&gt;
&lt;td colspan=&quot;2&quot; class=&quot;diff-lineno&quot;&gt;Dòng 15:&lt;/td&gt;&lt;/tr&gt;
&lt;tr&gt;&lt;td class='diff-marker'&gt; &lt;/td&gt;&lt;td style=&quot;background-color: #f8f9fa; color: #202122; font-size: 88%; border-style: solid; border-width: 1px 1px 1px 4px; border-radius: 0.33em; border-color: #eaecf0; vertical-align: top; white-space: pre-wrap;&quot;&gt;&lt;div&gt;==Bát bửu Đạo giáo==&lt;/div&gt;&lt;/td&gt;&lt;td class='diff-marker'&gt; &lt;/td&gt;&lt;td style=&quot;background-color: #f8f9fa; color: #202122; font-size: 88%; border-style: solid; border-width: 1px 1px 1px 4px; border-radius: 0.33em; border-color: #eaecf0; vertical-align: top; white-space: pre-wrap;&quot;&gt;&lt;div&gt;==Bát bửu Đạo giáo==&lt;/div&gt;&lt;/td&gt;&lt;/tr&gt;
&lt;tr&gt;&lt;td class='diff-marker'&gt; &lt;/td&gt;&lt;td style=&quot;background-color: #f8f9fa; color: #202122; font-size: 88%; border-style: solid; border-width: 1px 1px 1px 4px; border-radius: 0.33em; border-color: #eaecf0; vertical-align: top; white-space: pre-wrap;&quot;&gt;&lt;/td&gt;&lt;td class='diff-marker'&gt; &lt;/td&gt;&lt;td style=&quot;background-color: #f8f9fa; color: #202122; font-size: 88%; border-style: solid; border-width: 1px 1px 1px 4px; border-radius: 0.33em; border-color: #eaecf0; vertical-align: top; white-space: pre-wrap;&quot;&gt;&lt;/td&gt;&lt;/tr&gt;
&lt;tr&gt;&lt;td class='diff-marker'&gt;−&lt;/td&gt;&lt;td style=&quot;color: #202122; font-size: 88%; border-style: solid; border-width: 1px 1px 1px 4px; border-radius: 0.33em; border-color: #ffe49c; vertical-align: top; white-space: pre-wrap;&quot;&gt;&lt;div&gt;Nói về Đạo giáo trong đời sống xã hội Việt Nam trước đây, tác giả Nguyễn Tài Thư cho rằng Đạo giáo có ảnh hưởng đến người Việt “... vì nó phù hợp với tín ngưỡng dân gian và nó bổ sung những tín hiệu cần thiết mà tín ngưỡng dân gian không có... Tin theo Đạo giáo thần tiên vì người Việt vốn có tinh thần lãng mạn, muốn có cuộc đời dài lâu, muốn có cuộc sống tốt đẹp” . Bát bửu trong Đạo giáo có rất nhiều kiểu thức, vật quý khác nhau và cũng có nhiều vật quý có trong bát bửu Nho giáo và Phật giáo. Trước hết là các vật quý gắn liền với bát tiên gồm cái quạt của Chung Ly Quyền, cái nậm thần (bầu rượu) của Lý Thiết Quài, bộ sanh tiền của Tào Quốc Cựu, cái lẵng hoa của Lam Thái Hòa, ống sáo trúc và cặp roi của Hàn Tương Tử và bông sen của tiên bà duy nhất trong bát tiên là Hà Tiên Cô. Ngoài ra còn có những thống kê khác với bát bửu Đạo giáo bao gồm thêm các vật quý như nấm linh chi, quạt ba tiêu, thanh kiếm, phất trần, gậy trúc,  bầu rượu, đàn tỳ bà, cái tiêu (sáo thổi dọc), dép cỏ, túi thiêng, trống cá (ngư cổ), cây thuốc... Có thể nhận thấy bát bửu Đạo giáo đã: “... hòa lẫn vào Phật giáo, Nho giáo và tín ngưỡng dân gian..”&lt;/div&gt;&lt;/td&gt;&lt;td class='diff-marker'&gt;+&lt;/td&gt;&lt;td style=&quot;color: #202122; font-size: 88%; border-style: solid; border-width: 1px 1px 1px 4px; border-radius: 0.33em; border-color: #a3d3ff; vertical-align: top; white-space: pre-wrap;&quot;&gt;&lt;div&gt;Nói về Đạo giáo trong đời sống xã hội Việt Nam trước đây, tác giả Nguyễn Tài Thư cho rằng Đạo giáo có ảnh hưởng đến người Việt “... vì nó phù hợp với tín ngưỡng dân gian và nó bổ sung những tín hiệu cần thiết mà tín ngưỡng dân gian không có... Tin theo Đạo giáo thần tiên vì người Việt vốn có tinh thần lãng mạn, muốn có cuộc đời dài lâu, muốn có cuộc sống tốt đẹp”.&lt;ins class=&quot;diffchange diffchange-inline&quot;&gt;&amp;lt;ref&amp;gt;Nguyễn Tài Thư (1988), ''Lịch sử Phật giáo Việt Nam'', Nxb KHXH, Hà Nội, trang 85&amp;lt;/ref&amp;gt; &lt;/ins&gt;Bát bửu trong Đạo giáo có rất nhiều kiểu thức, vật quý khác nhau và cũng có nhiều vật quý có trong bát bửu Nho giáo và Phật giáo. Trước hết là các vật quý gắn liền với bát tiên gồm cái quạt của Chung Ly Quyền, cái nậm thần (bầu rượu) của Lý Thiết Quài, bộ sanh tiền của Tào Quốc Cựu, cái lẵng hoa của Lam Thái Hòa, ống sáo trúc và cặp roi của Hàn Tương Tử và bông sen của tiên bà duy nhất trong bát tiên là Hà Tiên Cô. Ngoài ra còn có những thống kê khác với bát bửu Đạo giáo bao gồm thêm các vật quý như nấm linh chi, quạt ba tiêu, thanh kiếm, phất trần, gậy trúc,  bầu rượu, đàn tỳ bà, cái tiêu (sáo thổi dọc), dép cỏ, túi thiêng, trống cá (ngư cổ), cây thuốc... Có thể nhận thấy bát bửu Đạo giáo đã: “... hòa lẫn vào Phật giáo, Nho giáo và tín ngưỡng dân gian..”&lt;/div&gt;&lt;/td&gt;&lt;/tr&gt;
&lt;tr&gt;&lt;td class='diff-marker'&gt; &lt;/td&gt;&lt;td style=&quot;background-color: #f8f9fa; color: #202122; font-size: 88%; border-style: solid; border-width: 1px 1px 1px 4px; border-radius: 0.33em; border-color: #eaecf0; vertical-align: top; white-space: pre-wrap;&quot;&gt;&lt;/td&gt;&lt;td class='diff-marker'&gt; &lt;/td&gt;&lt;td style=&quot;background-color: #f8f9fa; color: #202122; font-size: 88%; border-style: solid; border-width: 1px 1px 1px 4px; border-radius: 0.33em; border-color: #eaecf0; vertical-align: top; white-space: pre-wrap;&quot;&gt;&lt;/td&gt;&lt;/tr&gt;
&lt;tr&gt;&lt;td class='diff-marker'&gt; &lt;/td&gt;&lt;td style=&quot;background-color: #f8f9fa; color: #202122; font-size: 88%; border-style: solid; border-width: 1px 1px 1px 4px; border-radius: 0.33em; border-color: #eaecf0; vertical-align: top; white-space: pre-wrap;&quot;&gt;&lt;div&gt;Hình tượng các vật quý luôn được trang trí kết hợp với dải lụa thanh nhã, mềm mại hay với các biến thể hoa lá cách điệu hoá, hoa dây... Sự uốn lượn của các dải băng làm cho cái động và tĩnh trong trang trí thêm sinh động: “Hình tượng tám vật quý thường được trình bày kết hợp với những dãi băng điều, hoặc hoa lá hay cụm mây. Kiểu phối trí tạo nên sự liên kết mềm mại nhưng chặt chẽ cho bố cục tạo hình” . Người xưa gọi kiểu thức bát bửu gắn kết dãi băng cách điệu là “bàn triền”, Theo từ điển Hán - Việt chữ “bàn” có nhiều nghĩa nhưng nghĩa được sử dụng là “vui vẻ”, còn “triền” có nghĩa là toàn vẹn, đầy đủ (vì vậy có khi đọc là “tuyền” hay “toàn”). “Mẫu thức hoa, dây, lá, kết hợp với bát bửu được gọi là “triền chi” mang biểu tượng cho sự phát triển thường xuyên, lâu dài”&lt;/div&gt;&lt;/td&gt;&lt;td class='diff-marker'&gt; &lt;/td&gt;&lt;td style=&quot;background-color: #f8f9fa; color: #202122; font-size: 88%; border-style: solid; border-width: 1px 1px 1px 4px; border-radius: 0.33em; border-color: #eaecf0; vertical-align: top; white-space: pre-wrap;&quot;&gt;&lt;div&gt;Hình tượng các vật quý luôn được trang trí kết hợp với dải lụa thanh nhã, mềm mại hay với các biến thể hoa lá cách điệu hoá, hoa dây... Sự uốn lượn của các dải băng làm cho cái động và tĩnh trong trang trí thêm sinh động: “Hình tượng tám vật quý thường được trình bày kết hợp với những dãi băng điều, hoặc hoa lá hay cụm mây. Kiểu phối trí tạo nên sự liên kết mềm mại nhưng chặt chẽ cho bố cục tạo hình” . Người xưa gọi kiểu thức bát bửu gắn kết dãi băng cách điệu là “bàn triền”, Theo từ điển Hán - Việt chữ “bàn” có nhiều nghĩa nhưng nghĩa được sử dụng là “vui vẻ”, còn “triền” có nghĩa là toàn vẹn, đầy đủ (vì vậy có khi đọc là “tuyền” hay “toàn”). “Mẫu thức hoa, dây, lá, kết hợp với bát bửu được gọi là “triền chi” mang biểu tượng cho sự phát triển thường xuyên, lâu dài”&lt;/div&gt;&lt;/td&gt;&lt;/tr&gt;
&lt;tr&gt;&lt;td colspan=&quot;2&quot; class=&quot;diff-lineno&quot; id=&quot;mw-diff-left-l26&quot; &gt;Dòng 26:&lt;/td&gt;
&lt;td colspan=&quot;2&quot; class=&quot;diff-lineno&quot;&gt;Dòng 26:&lt;/td&gt;&lt;/tr&gt;
&lt;tr&gt;&lt;td class='diff-marker'&gt; &lt;/td&gt;&lt;td style=&quot;background-color: #f8f9fa; color: #202122; font-size: 88%; border-style: solid; border-width: 1px 1px 1px 4px; border-radius: 0.33em; border-color: #eaecf0; vertical-align: top; white-space: pre-wrap;&quot;&gt;&lt;/td&gt;&lt;td class='diff-marker'&gt; &lt;/td&gt;&lt;td style=&quot;background-color: #f8f9fa; color: #202122; font-size: 88%; border-style: solid; border-width: 1px 1px 1px 4px; border-radius: 0.33em; border-color: #eaecf0; vertical-align: top; white-space: pre-wrap;&quot;&gt;&lt;/td&gt;&lt;/tr&gt;
&lt;tr&gt;&lt;td class='diff-marker'&gt; &lt;/td&gt;&lt;td style=&quot;background-color: #f8f9fa; color: #202122; font-size: 88%; border-style: solid; border-width: 1px 1px 1px 4px; border-radius: 0.33em; border-color: #eaecf0; vertical-align: top; white-space: pre-wrap;&quot;&gt;&lt;div&gt;Tóm lại, trang trí bát bửu có những chức năng tâm linh và thẩm mỹ gắn liền với kiến trúc, vật dụng, nhưng trong kiến trúc phong phú đa dạng hơn như trong bài “Một số đồ án trong tư tưởng nghệ thuật cổ Việt Nam”, tác giả  Nguyễn Hải Phong viết: “… trang trí kiến trúc vốn là thuộc phần phù trợ đóng vai trò tô điểm, lại trở thành nghệ thuật vừa có nội dung, vừa mang hình thức làm đẹp…” . , điều này tham chiếu ở trang trí bát bửu là rất đậm nét, thuyết phục.&lt;/div&gt;&lt;/td&gt;&lt;td class='diff-marker'&gt; &lt;/td&gt;&lt;td style=&quot;background-color: #f8f9fa; color: #202122; font-size: 88%; border-style: solid; border-width: 1px 1px 1px 4px; border-radius: 0.33em; border-color: #eaecf0; vertical-align: top; white-space: pre-wrap;&quot;&gt;&lt;div&gt;Tóm lại, trang trí bát bửu có những chức năng tâm linh và thẩm mỹ gắn liền với kiến trúc, vật dụng, nhưng trong kiến trúc phong phú đa dạng hơn như trong bài “Một số đồ án trong tư tưởng nghệ thuật cổ Việt Nam”, tác giả  Nguyễn Hải Phong viết: “… trang trí kiến trúc vốn là thuộc phần phù trợ đóng vai trò tô điểm, lại trở thành nghệ thuật vừa có nội dung, vừa mang hình thức làm đẹp…” . , điều này tham chiếu ở trang trí bát bửu là rất đậm nét, thuyết phục.&lt;/div&gt;&lt;/td&gt;&lt;/tr&gt;
&lt;tr&gt;&lt;td colspan=&quot;2&quot;&gt; &lt;/td&gt;&lt;td class='diff-marker'&gt;+&lt;/td&gt;&lt;td style=&quot;color: #202122; font-size: 88%; border-style: solid; border-width: 1px 1px 1px 4px; border-radius: 0.33em; border-color: #a3d3ff; vertical-align: top; white-space: pre-wrap;&quot;&gt;&lt;div&gt;&lt;ins style=&quot;font-weight: bold; text-decoration: none;&quot;&gt;&lt;/ins&gt;&lt;/div&gt;&lt;/td&gt;&lt;/tr&gt;
&lt;tr&gt;&lt;td class='diff-marker'&gt; &lt;/td&gt;&lt;td style=&quot;background-color: #f8f9fa; color: #202122; font-size: 88%; border-style: solid; border-width: 1px 1px 1px 4px; border-radius: 0.33em; border-color: #eaecf0; vertical-align: top; white-space: pre-wrap;&quot;&gt;&lt;div&gt;==Tham khảo==&lt;/div&gt;&lt;/td&gt;&lt;td class='diff-marker'&gt; &lt;/td&gt;&lt;td style=&quot;background-color: #f8f9fa; color: #202122; font-size: 88%; border-style: solid; border-width: 1px 1px 1px 4px; border-radius: 0.33em; border-color: #eaecf0; vertical-align: top; white-space: pre-wrap;&quot;&gt;&lt;div&gt;==Tham khảo==&lt;/div&gt;&lt;/td&gt;&lt;/tr&gt;
&lt;tr&gt;&lt;td class='diff-marker'&gt; &lt;/td&gt;&lt;td style=&quot;background-color: #f8f9fa; color: #202122; font-size: 88%; border-style: solid; border-width: 1px 1px 1px 4px; border-radius: 0.33em; border-color: #eaecf0; vertical-align: top; white-space: pre-wrap;&quot;&gt;&lt;div&gt;&amp;lt;references/&amp;gt;&lt;/div&gt;&lt;/td&gt;&lt;td class='diff-marker'&gt; &lt;/td&gt;&lt;td style=&quot;background-color: #f8f9fa; color: #202122; font-size: 88%; border-style: solid; border-width: 1px 1px 1px 4px; border-radius: 0.33em; border-color: #eaecf0; vertical-align: top; white-space: pre-wrap;&quot;&gt;&lt;div&gt;&amp;lt;references/&amp;gt;&lt;/div&gt;&lt;/td&gt;&lt;/tr&gt;

&lt;!-- diff cache key bktt:diff::1.12:old-13298:rev-13299 --&gt;
&lt;/table&gt;</summary>
		<author><name>Tttrung</name></author>
	</entry>
	<entry>
		<id>https://bktt.vn/index.php?title=B%C3%A1t_b%E1%BB%ADu&amp;diff=13298&amp;oldid=prev</id>
		<title>Tttrung: /* Bát bửu Phật giáo */</title>
		<link rel="alternate" type="text/html" href="https://bktt.vn/index.php?title=B%C3%A1t_b%E1%BB%ADu&amp;diff=13298&amp;oldid=prev"/>
		<updated>2021-04-12T11:30:54Z</updated>

		<summary type="html">&lt;p&gt;&lt;span dir=&quot;auto&quot;&gt;&lt;span class=&quot;autocomment&quot;&gt;Bát bửu Phật giáo&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/p&gt;
&lt;table class=&quot;diff diff-contentalign-left diff-editfont-monospace&quot; data-mw=&quot;interface&quot;&gt;
				&lt;col class=&quot;diff-marker&quot; /&gt;
				&lt;col class=&quot;diff-content&quot; /&gt;
				&lt;col class=&quot;diff-marker&quot; /&gt;
				&lt;col class=&quot;diff-content&quot; /&gt;
				&lt;tr class=&quot;diff-title&quot; lang=&quot;vi&quot;&gt;
				&lt;td colspan=&quot;2&quot; style=&quot;background-color: #fff; color: #202122; text-align: center;&quot;&gt;← Phiên bản cũ&lt;/td&gt;
				&lt;td colspan=&quot;2&quot; style=&quot;background-color: #fff; color: #202122; text-align: center;&quot;&gt;Phiên bản lúc 11:30, ngày 12 tháng 4 năm 2021&lt;/td&gt;
				&lt;/tr&gt;&lt;tr&gt;&lt;td colspan=&quot;2&quot; class=&quot;diff-lineno&quot; id=&quot;mw-diff-left-l11&quot; &gt;Dòng 11:&lt;/td&gt;
&lt;td colspan=&quot;2&quot; class=&quot;diff-lineno&quot;&gt;Dòng 11:&lt;/td&gt;&lt;/tr&gt;
&lt;tr&gt;&lt;td class='diff-marker'&gt; &lt;/td&gt;&lt;td style=&quot;background-color: #f8f9fa; color: #202122; font-size: 88%; border-style: solid; border-width: 1px 1px 1px 4px; border-radius: 0.33em; border-color: #eaecf0; vertical-align: top; white-space: pre-wrap;&quot;&gt;&lt;div&gt;==Bát bửu Phật giáo==&lt;/div&gt;&lt;/td&gt;&lt;td class='diff-marker'&gt; &lt;/td&gt;&lt;td style=&quot;background-color: #f8f9fa; color: #202122; font-size: 88%; border-style: solid; border-width: 1px 1px 1px 4px; border-radius: 0.33em; border-color: #eaecf0; vertical-align: top; white-space: pre-wrap;&quot;&gt;&lt;div&gt;==Bát bửu Phật giáo==&lt;/div&gt;&lt;/td&gt;&lt;/tr&gt;
&lt;tr&gt;&lt;td class='diff-marker'&gt; &lt;/td&gt;&lt;td style=&quot;background-color: #f8f9fa; color: #202122; font-size: 88%; border-style: solid; border-width: 1px 1px 1px 4px; border-radius: 0.33em; border-color: #eaecf0; vertical-align: top; white-space: pre-wrap;&quot;&gt;&lt;/td&gt;&lt;td class='diff-marker'&gt; &lt;/td&gt;&lt;td style=&quot;background-color: #f8f9fa; color: #202122; font-size: 88%; border-style: solid; border-width: 1px 1px 1px 4px; border-radius: 0.33em; border-color: #eaecf0; vertical-align: top; white-space: pre-wrap;&quot;&gt;&lt;/td&gt;&lt;/tr&gt;
&lt;tr&gt;&lt;td class='diff-marker'&gt;−&lt;/td&gt;&lt;td style=&quot;color: #202122; font-size: 88%; border-style: solid; border-width: 1px 1px 1px 4px; border-radius: 0.33em; border-color: #ffe49c; vertical-align: top; white-space: pre-wrap;&quot;&gt;&lt;div&gt;Trong Những biểu tượng đặc trưng trong văn hóa truyền thống Việt Nam, tác giả Đinh Hồng Hải có nêu ra một nhận định quan trọng: “Có thể nhận thấy ở các quốc gia láng giềng độc tôn Phật giáo như Thái Lan, Lào, Campuchia không có bát bửu trong trang trí. Do đó, chúng ta có thể coi biểu tượng này là một nét đặc trưng của nghệ thuật Phật giáo Việt Nam..”&amp;lt;ref&amp;gt;Đinh Hồng Hải (2012), ''Những biểu tượng đặc trưng trong văn hóa truyền thống Việt Nam'', Nxb Tri Thức, Hà Nội, tr.162&amp;lt;/ref&amp;gt; và vì vậy mà: ...  biểu tượng bát bửu trong nghệ thuật tạo hình có tác dụng như một trung gian chuyển tiếp các tư tưởng của Phật giáo đến với người dân”.&amp;lt;ref&amp;gt;Đinh Hồng Hải (2012), sdd, tr.163&amp;lt;/ref&amp;gt; Trên cơ sở xem xét bát bửu ở các chùa Việt, các nhà nghiên cứu nêu ra một số vật quý như sau trong bát bửu Phật giáo:  hoa văn chữ Vạn, bảo bình, hoa sen, ốc tù và, cái lọng, hồ lô, lá đề, độc lư bốn chân, bánh xe luôn hồi và một số vật khác như lá sen, nút huyền bí, cái táng, đôi cá... Tương tự như vậy tác giả Bùi Minh Đức trong Từ điển tiếng Huế cũng liệt kê như trên đồng thời có so sánh với bộ bát bửu của Đạo giáo, Nho giáo với mục từ: “bát bửu trong tam giáo” và dẫn giải :&amp;quot;... có hình ảnh biểu trưng khác nhau” . Phật giáo là tôn giáo thế giới có nhiều ảnh hưởng đến đời sống văn hoá các dân tộc ở phương Đông trong đó có Việt Nam. Nghiên cứu về bát bửu Phật giáo không chỉ làm sáng tỏ nhiều vấn đề về lịch sử hình thành, triết lý sâu xa của đạo Phật mà còn hiểu biết sâu sắc hơn về văn hoá các dân tộc trong khu vực. Đồng thời cũng có thể thông qua việc khảo sát, bát bửu truy tìm nguồn gốc, ý nghĩa của các hoa văn trang trí, các biểu tượng được sử dụng trên các công trình kiến trúc như chùa, tháp hay cách thức thiết trí thờ tự ở các điện, đường. Hệ thống biểu tượng trang trí chùa Huế mang trên mình ý nghĩa thuần thành của Phật giáo, lý giải và làm phong phú hơn cho tôn giáo đầy triết lý về thế giới và nhân sinh này. Biểu tượng trang trí chùa Huế cũng chịu sự chi phối, ảnh hưởng phong cách, nhân sinh quan của văn hóa Việt Nam nói chung và văn hóa Huế nói riêng, từ đó giúp chúng ta có cái nhìn rõ hơn về sự chi phối của ý thức hệ phong kiến đến Phật giáo.&lt;/div&gt;&lt;/td&gt;&lt;td class='diff-marker'&gt;+&lt;/td&gt;&lt;td style=&quot;color: #202122; font-size: 88%; border-style: solid; border-width: 1px 1px 1px 4px; border-radius: 0.33em; border-color: #a3d3ff; vertical-align: top; white-space: pre-wrap;&quot;&gt;&lt;div&gt;Trong Những biểu tượng đặc trưng trong văn hóa truyền thống Việt Nam, tác giả Đinh Hồng Hải có nêu ra một nhận định quan trọng: “Có thể nhận thấy ở các quốc gia láng giềng độc tôn Phật giáo như Thái Lan, Lào, Campuchia không có bát bửu trong trang trí. Do đó, chúng ta có thể coi biểu tượng này là một nét đặc trưng của nghệ thuật Phật giáo Việt Nam..”&amp;lt;ref&amp;gt;Đinh Hồng Hải (2012), ''Những biểu tượng đặc trưng trong văn hóa truyền thống Việt Nam'', Nxb Tri Thức, Hà Nội, tr.162&amp;lt;/ref&amp;gt; và vì vậy mà: ...  biểu tượng bát bửu trong nghệ thuật tạo hình có tác dụng như một trung gian chuyển tiếp các tư tưởng của Phật giáo đến với người dân”.&amp;lt;ref&amp;gt;Đinh Hồng Hải (2012), sdd, tr.163&amp;lt;/ref&amp;gt; Trên cơ sở xem xét bát bửu ở các chùa Việt, các nhà nghiên cứu nêu ra một số vật quý như sau trong bát bửu Phật giáo:  hoa văn chữ Vạn, bảo bình, hoa sen, ốc tù và, cái lọng, hồ lô, lá đề, độc lư bốn chân, bánh xe luôn hồi và một số vật khác như lá sen, nút huyền bí, cái táng, đôi cá... Tương tự như vậy tác giả Bùi Minh Đức trong Từ điển tiếng Huế cũng liệt kê như trên đồng thời có so sánh với bộ bát bửu của Đạo giáo, Nho giáo với mục từ: “bát bửu trong tam giáo” và dẫn giải :&amp;quot;... có hình ảnh biểu trưng khác nhau”.&lt;ins class=&quot;diffchange diffchange-inline&quot;&gt;&amp;lt;ref&amp;gt;Bùi Minh Đức (2001), ''Từ điển tiếng Huế'', Nxb Tầm An, Hoa Kỳ, tr.21&amp;lt;/ref&amp;gt; &lt;/ins&gt;Phật giáo là tôn giáo thế giới có nhiều ảnh hưởng đến đời sống văn hoá các dân tộc ở phương Đông trong đó có Việt Nam. Nghiên cứu về bát bửu Phật giáo không chỉ làm sáng tỏ nhiều vấn đề về lịch sử hình thành, triết lý sâu xa của đạo Phật mà còn hiểu biết sâu sắc hơn về văn hoá các dân tộc trong khu vực. Đồng thời cũng có thể thông qua việc khảo sát, bát bửu truy tìm nguồn gốc, ý nghĩa của các hoa văn trang trí, các biểu tượng được sử dụng trên các công trình kiến trúc như chùa, tháp hay cách thức thiết trí thờ tự ở các điện, đường. Hệ thống biểu tượng trang trí chùa Huế mang trên mình ý nghĩa thuần thành của Phật giáo, lý giải và làm phong phú hơn cho tôn giáo đầy triết lý về thế giới và nhân sinh này. Biểu tượng trang trí chùa Huế cũng chịu sự chi phối, ảnh hưởng phong cách, nhân sinh quan của văn hóa Việt Nam nói chung và văn hóa Huế nói riêng, từ đó giúp chúng ta có cái nhìn rõ hơn về sự chi phối của ý thức hệ phong kiến đến Phật giáo.&lt;/div&gt;&lt;/td&gt;&lt;/tr&gt;
&lt;tr&gt;&lt;td class='diff-marker'&gt; &lt;/td&gt;&lt;td style=&quot;background-color: #f8f9fa; color: #202122; font-size: 88%; border-style: solid; border-width: 1px 1px 1px 4px; border-radius: 0.33em; border-color: #eaecf0; vertical-align: top; white-space: pre-wrap;&quot;&gt;&lt;/td&gt;&lt;td class='diff-marker'&gt; &lt;/td&gt;&lt;td style=&quot;background-color: #f8f9fa; color: #202122; font-size: 88%; border-style: solid; border-width: 1px 1px 1px 4px; border-radius: 0.33em; border-color: #eaecf0; vertical-align: top; white-space: pre-wrap;&quot;&gt;&lt;/td&gt;&lt;/tr&gt;
&lt;tr&gt;&lt;td class='diff-marker'&gt; &lt;/td&gt;&lt;td style=&quot;background-color: #f8f9fa; color: #202122; font-size: 88%; border-style: solid; border-width: 1px 1px 1px 4px; border-radius: 0.33em; border-color: #eaecf0; vertical-align: top; white-space: pre-wrap;&quot;&gt;&lt;div&gt;==Bát bửu Đạo giáo==&lt;/div&gt;&lt;/td&gt;&lt;td class='diff-marker'&gt; &lt;/td&gt;&lt;td style=&quot;background-color: #f8f9fa; color: #202122; font-size: 88%; border-style: solid; border-width: 1px 1px 1px 4px; border-radius: 0.33em; border-color: #eaecf0; vertical-align: top; white-space: pre-wrap;&quot;&gt;&lt;div&gt;==Bát bửu Đạo giáo==&lt;/div&gt;&lt;/td&gt;&lt;/tr&gt;

&lt;!-- diff cache key bktt:diff::1.12:old-13297:rev-13298 --&gt;
&lt;/table&gt;</summary>
		<author><name>Tttrung</name></author>
	</entry>
</feed>