<?xml version="1.0"?>
<feed xmlns="http://www.w3.org/2005/Atom" xml:lang="vi">
	<id>https://bktt.vn/api.php?action=feedcontributions&amp;feedformat=atom&amp;user=Tttrung</id>
	<title>Bách khoa Toàn thư Việt Nam - Đóng góp của thành viên [vi]</title>
	<link rel="self" type="application/atom+xml" href="https://bktt.vn/api.php?action=feedcontributions&amp;feedformat=atom&amp;user=Tttrung"/>
	<link rel="alternate" type="text/html" href="https://bktt.vn/%C4%90%E1%BA%B7c_bi%E1%BB%87t:%C4%90%C3%B3ng_g%C3%B3p/Tttrung"/>
	<updated>2026-04-05T14:14:53Z</updated>
	<subtitle>Đóng góp của thành viên</subtitle>
	<generator>MediaWiki 1.35.0</generator>
	<entry>
		<id>https://bktt.vn/index.php?title=R%E1%BB%91i_lo%E1%BA%A1n_th%E1%BA%A7n_kinh_ch%E1%BB%A9c_n%C4%83ng&amp;diff=22540</id>
		<title>Rối loạn thần kinh chức năng</title>
		<link rel="alternate" type="text/html" href="https://bktt.vn/index.php?title=R%E1%BB%91i_lo%E1%BA%A1n_th%E1%BA%A7n_kinh_ch%E1%BB%A9c_n%C4%83ng&amp;diff=22540"/>
		<updated>2023-01-18T04:34:27Z</updated>

		<summary type="html">&lt;p&gt;Tttrung: Đổi hướng đến Rối loạn tâm lý&lt;/p&gt;
&lt;hr /&gt;
&lt;div&gt;#đổi [[rối loạn tâm lý]]&lt;/div&gt;</summary>
		<author><name>Tttrung</name></author>
	</entry>
	<entry>
		<id>https://bktt.vn/index.php?title=%C4%90%E1%BB%8Bnh_h%C3%ACnh_t%E1%BB%B1_%C4%91%E1%BB%99ng&amp;diff=22539</id>
		<title>Định hình tự động</title>
		<link rel="alternate" type="text/html" href="https://bktt.vn/index.php?title=%C4%90%E1%BB%8Bnh_h%C3%ACnh_t%E1%BB%B1_%C4%91%E1%BB%99ng&amp;diff=22539"/>
		<updated>2023-01-18T04:32:19Z</updated>

		<summary type="html">&lt;p&gt;Tttrung: Đổi hướng đến Tự động định hình&lt;/p&gt;
&lt;hr /&gt;
&lt;div&gt;#đổi [[tự động định hình]]&lt;/div&gt;</summary>
		<author><name>Tttrung</name></author>
	</entry>
	<entry>
		<id>https://bktt.vn/index.php?title=An_Nam_T%E1%BA%A1p_Ch%C3%AD&amp;diff=22508</id>
		<title>An Nam Tạp Chí</title>
		<link rel="alternate" type="text/html" href="https://bktt.vn/index.php?title=An_Nam_T%E1%BA%A1p_Ch%C3%AD&amp;diff=22508"/>
		<updated>2023-01-17T04:38:45Z</updated>

		<summary type="html">&lt;p&gt;Tttrung: &lt;/p&gt;
&lt;hr /&gt;
&lt;div&gt;&amp;lt;indicator name=&amp;quot;mới&amp;quot;&amp;gt;[[File:UnderCon icon.svg|40px|link={{TALKPAGENAME}}#Bình duyệt|alt=Mục từ này cần được bình duyệt|Mục từ này cần được bình duyệt]]&amp;lt;/indicator&amp;gt;&lt;br /&gt;
[[File:Antc1926pic.jpg|thumb|Bìa một tập An-Nam tạp-chí]]&lt;br /&gt;
'''An-nam tạp chí'''  là tạp chí về văn hóa, xã hội của nhà thơ Tản Đà. Ngày 09.12.1925, Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu đệ đơn xin phép ra báo. Đến ngày 11.02.1926 ông chính thức nhận giấy phép xuất bản ''An Nam tạp chí (ANTC)''. Vì lí do tài chính, tới ngày 01.7.1926, tạp chí mới ra số đầu tiên. ''ANTC'' được trình bày đơn giản, trên tờ bìa chỉ có chữ, sau này báo thêm hình vẽ bản đồ Việt Nam. Trên cùng phía trái in số báo, giữa in năm, bên phải là ngày, tháng, phát hành bằng tiếng Pháp. Tên báo được in bằng ba ngôn ngữ Hán, Pháp và Quốc ngữ, chính giữa trang ghi ''Mỗi tháng ra hai kì'', phía dưới ghi ''Chủ nhân Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu'' kèm con dấu cá nhân hình vuông, dưới cùng ghi địa chỉ tòa soạn đặt tại 50 phố Hàng Lọng, in tại nhà in Kim Đức Giang.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Trong số đầu tiên, Tản Đà viết lời phi lộ và những bài về văn học, xã hội, Ngô Tất Tố chịu trách nhiệm dịch thuật và viết về nông nghiệp. Các tác giả Nguyễn Công Hoan, Lê Khắc Hoa, Lưu Văn Thọ, Nguyễn Ngọc Liên… cũng tham gia viết những bài khác. Bên cạnh những nội dung chính, ''ANTC'' đăng khá nhiều quảng cáo hiệu sách, hiệu thuốc, thư điếm, nhà máy, giới thiệu các sách đã hoặc sẽ xuất bản của Tản Đà thư quán, Tản Đà thư cục…&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Trong suốt quá trình tồn tại của mình, ''ANTC'' luôn cố gắng thay đổi lối trình bày, phát huy thế mạnh văn chương, thơ phú của Tản Đà thể hiện qua các mục ''Văn đàn (du ký), Thi đàn,  Đoản thiên tiểu thuyết giảng tập, Xã hội ba đào ký…''  Trong bài [[Kính cáo quốc dân An Nam ta]] do Tản Đà chấp bút trên số 1, chủ nhân ''ANTC'' nhấn mạnh không chỉ đăng tải đơn thuần những tác phẩm văn học, mà thông qua các bài viết nhằm giáo hóa, dẫn dắt dân chúng đi theo con đường chính, diệt trừ tà tâm: “Ai là người có công về thế đạo nhân tâm, Bản chí phải tinh biểu bằng ngòi bút để làm khuyên cho kẻ khác, xin ai đừng có bận lòng ơn. Ai là người có tội với xã hội nhân quần, bản chí phải trừng trị bằng câu văn để làm dăn (răn) cho kẻ khác, xin ai đừng có đem lòng oán”. Ngoài ra, báo còn cổ động tinh thần thực nghiệp, kêu gọi chí tiến thủ và nghĩa đồng bào.&lt;br /&gt;
''ANTC'' lần đầu xuất bản duy trì được mười tháng, in được mười số. Tản Đà vào Sài Gòn định in ở trong đó, nhưng thất bại bởi: “Mỗi kỳ Tạp chí ở trong Nam mà phải gửi ra Bắc kiểm duyệt, kiểm duyệt ở Bắc được thời mới gửi vào Nam để in, in xong ở Nam thời lại phải gửi Tạp chí ra Bắc phát hành như thế thật mất thì giờ và phiền phí quá lắm. Dẫu Tạp chí có xuất bản được nữa cũng là sự gắng gượng mà thôi. Vậy nay tôi đành chịu bất tài mà để cho An Nam Tạp Chí đình bản”. (Đông Pháp thời báo, số 654 năm 1927). &lt;br /&gt;
Trong lần tái sinh thứ nhất, ''ANTC'' đặt dưới sự bảo trợ của một cậu ấm nhà giàu. Tòa soạn đặt tại số 1 phố Francis Garnier (nay là Đinh Tiên Hoàng). Lần này ''ANTC'' chỉ ra được ba số (từ số 11 đến số 13). Trong lần tái sinh thứ hai, Tản Đà hợp tác với Nguyễn Xuân Dương chủ hiệu thuốc Dương Nguyên ở Nam Định. Tòa soạn đặt ở số nhà 126 phố Maréchal Foch (phố Khách), bắt đầu từ số 14 (tháng 12.1930) đến số 24 (tháng 5.1931) thì đình bản. Sau một thời gian,'' ANTC'' tái sinh lần thứ ba và chuyển về số 68 Hàng Khoai - Hà Nội. Lần này cũng do nợ nần quá nhiều nên báo lại đình bản. Sau hơn một tháng, báo tiếp tục ra tại số 145 phố Hàng Bông. ''ANTC'' lúc này in khổ nhỏ, đánh số lại từ đầu, số 1 ra ngày 01.09.1932. Tòa soạn đặt ở Hà Nội nhưng in ở Vinh. Ngày 01.03.1933, ANTC ra số cuối cùng.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
=='''Tài liệu tham khảo:'''==&lt;br /&gt;
* An Nam tạp chí, Thư viện Quốc gia Hà Nội, mã CO119M&lt;br /&gt;
* [[Nguyễn Khắc Hiếu]]: [[''Giấc mộng lớn'']], Nxb Tản Đà Thư cục, Hà Nội, 1923&lt;br /&gt;
* Hoài Nam: Buổi đầu của Báo chí Việt Nam: Trường hợp Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu,  báo Đại Đoàn kết, số ra ngày 05.4.2019&lt;/div&gt;</summary>
		<author><name>Tttrung</name></author>
	</entry>
	<entry>
		<id>https://bktt.vn/index.php?title=An-Nam_t%E1%BA%A1p-ch%C3%AD&amp;diff=22507</id>
		<title>An-Nam tạp-chí</title>
		<link rel="alternate" type="text/html" href="https://bktt.vn/index.php?title=An-Nam_t%E1%BA%A1p-ch%C3%AD&amp;diff=22507"/>
		<updated>2023-01-17T04:37:47Z</updated>

		<summary type="html">&lt;p&gt;Tttrung: Đổi hướng đến An Nam Tạp Chí&lt;/p&gt;
&lt;hr /&gt;
&lt;div&gt;#đổi [[An Nam Tạp Chí]]&lt;/div&gt;</summary>
		<author><name>Tttrung</name></author>
	</entry>
	<entry>
		<id>https://bktt.vn/index.php?title=An_Nam_T%E1%BA%A1p_Ch%C3%AD&amp;diff=22506</id>
		<title>An Nam Tạp Chí</title>
		<link rel="alternate" type="text/html" href="https://bktt.vn/index.php?title=An_Nam_T%E1%BA%A1p_Ch%C3%AD&amp;diff=22506"/>
		<updated>2023-01-17T04:37:09Z</updated>

		<summary type="html">&lt;p&gt;Tttrung: &lt;/p&gt;
&lt;hr /&gt;
&lt;div&gt;&amp;lt;indicator name=&amp;quot;mới&amp;quot;&amp;gt;[[File:UnderCon icon.svg|40px|link={{TALKPAGENAME}}#Bình duyệt|alt=Mục từ này cần được bình duyệt|Mục từ này cần được bình duyệt]]&amp;lt;/indicator&amp;gt;&lt;br /&gt;
[[File:Antc1926pic.jpg|thumb|abcdefgh]]&lt;br /&gt;
'''An-nam tạp chí'''  là tạp chí về văn hóa, xã hội của nhà thơ Tản Đà. Ngày 09.12.1925, Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu đệ đơn xin phép ra báo. Đến ngày 11.02.1926 ông chính thức nhận giấy phép xuất bản ''An Nam tạp chí (ANTC)''. Vì lí do tài chính, tới ngày 01.7.1926, tạp chí mới ra số đầu tiên. ''ANTC'' được trình bày đơn giản, trên tờ bìa chỉ có chữ, sau này báo thêm hình vẽ bản đồ Việt Nam. Trên cùng phía trái in số báo, giữa in năm, bên phải là ngày, tháng, phát hành bằng tiếng Pháp. Tên báo được in bằng ba ngôn ngữ Hán, Pháp và Quốc ngữ, chính giữa trang ghi ''Mỗi tháng ra hai kì'', phía dưới ghi ''Chủ nhân Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu'' kèm con dấu cá nhân hình vuông, dưới cùng ghi địa chỉ tòa soạn đặt tại 50 phố Hàng Lọng, in tại nhà in Kim Đức Giang.&lt;br /&gt;
Trong số đầu tiên, Tản Đà viết lời phi lộ và những bài về văn học, xã hội, Ngô Tất Tố chịu trách nhiệm dịch thuật và viết về nông nghiệp. Các tác giả Nguyễn Công Hoan, Lê Khắc Hoa, Lưu Văn Thọ, Nguyễn Ngọc Liên… cũng tham gia viết những bài khác. Bên cạnh những nội dung chính, ''ANTC'' đăng khá nhiều quảng cáo hiệu sách, hiệu thuốc, thư điếm, nhà máy, giới thiệu các sách đã hoặc sẽ xuất bản của Tản Đà thư quán, Tản Đà thư cục…&lt;br /&gt;
Trong suốt quá trình tồn tại của mình, ''ANTC'' luôn cố gắng thay đổi lối trình bày, phát huy thế mạnh văn chương, thơ phú của Tản Đà thể hiện qua các mục ''Văn đàn (du ký), Thi đàn,  Đoản thiên tiểu thuyết giảng tập, Xã hội ba đào ký…''  Trong bài [[''''“Kính cáo quốc dân An Nam ta”'''']] do Tản Đà chấp bút trên số 1, chủ nhân ''ANTC'' nhấn mạnh không chỉ đăng tải đơn thuần những tác phẩm văn học, mà thông qua các bài viết nhằm giáo hóa, dẫn dắt dân chúng đi theo con đường chính, diệt trừ tà tâm: “Ai là người có công về thế đạo nhân tâm, Bản chí phải tinh biểu bằng ngòi bút để làm khuyên cho kẻ khác, xin ai đừng có bận lòng ơn. Ai là người có tội với xã hội nhân quần, bản chí phải trừng trị bằng câu văn để làm dăn (răn) cho kẻ khác, xin ai đừng có đem lòng oán”. Ngoài ra, báo còn cổ động tinh thần thực nghiệp, kêu gọi chí tiến thủ và nghĩa đồng bào.&lt;br /&gt;
''ANTC'' lần đầu xuất bản duy trì được mười tháng, in được mười số. Tản Đà vào Sài Gòn định in ở trong đó, nhưng thất bại bởi: “Mỗi kỳ Tạp chí ở trong Nam mà phải gửi ra Bắc kiểm duyệt, kiểm duyệt ở Bắc được thời mới gửi vào Nam để in, in xong ở Nam thời lại phải gửi Tạp chí ra Bắc phát hành như thế thật mất thì giờ và phiền phí quá lắm. Dẫu Tạp chí có xuất bản được nữa cũng là sự gắng gượng mà thôi. Vậy nay tôi đành chịu bất tài mà để cho An Nam Tạp Chí đình bản”. (Đông Pháp thời báo, số 654 năm 1927). &lt;br /&gt;
Trong lần tái sinh thứ nhất, ''ANTC'' đặt dưới sự bảo trợ của một cậu ấm nhà giàu. Tòa soạn đặt tại số 1 phố Francis Garnier (nay là Đinh Tiên Hoàng). Lần này ''ANTC'' chỉ ra được ba số (từ số 11 đến số 13). Trong lần tái sinh thứ hai, Tản Đà hợp tác với Nguyễn Xuân Dương chủ hiệu thuốc Dương Nguyên ở Nam Định. Tòa soạn đặt ở số nhà 126 phố Maréchal Foch (phố Khách), bắt đầu từ số 14 (tháng 12.1930) đến số 24 (tháng 5.1931) thì đình bản. Sau một thời gian,'' ANTC'' tái sinh lần thứ ba và chuyển về số 68 Hàng Khoai - Hà Nội. Lần này cũng do nợ nần quá nhiều nên báo lại đình bản. Sau hơn một tháng, báo tiếp tục ra tại số 145 phố Hàng Bông. ''ANTC'' lúc này in khổ nhỏ, đánh số lại từ đầu, số 1 ra ngày 01.09.1932. Tòa soạn đặt ở Hà Nội nhưng in ở Vinh. Ngày 01.03.1933, ANTC ra số cuối cùng.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
=='''Tài liệu tham khảo:'''==&lt;br /&gt;
* An Nam tạp chí, Thư viện Quốc gia Hà Nội, mã CO119M&lt;br /&gt;
* [[Nguyễn Khắc Hiếu]]: [[''Giấc mộng lớn'']], Nxb Tản Đà Thư cục, Hà Nội, 1923&lt;br /&gt;
* Hoài Nam: Buổi đầu của Báo chí Việt Nam: Trường hợp Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu,  báo Đại Đoàn kết, số ra ngày 05.4.2019&lt;/div&gt;</summary>
		<author><name>Tttrung</name></author>
	</entry>
	<entry>
		<id>https://bktt.vn/index.php?title=An-nam_t%E1%BA%A1p_ch%C3%AD&amp;diff=22505</id>
		<title>An-nam tạp chí</title>
		<link rel="alternate" type="text/html" href="https://bktt.vn/index.php?title=An-nam_t%E1%BA%A1p_ch%C3%AD&amp;diff=22505"/>
		<updated>2023-01-17T04:36:56Z</updated>

		<summary type="html">&lt;p&gt;Tttrung: Đổi hướng đến An Nam Tạp Chí&lt;/p&gt;
&lt;hr /&gt;
&lt;div&gt;#đổi [[An Nam Tạp Chí]]&lt;/div&gt;</summary>
		<author><name>Tttrung</name></author>
	</entry>
	<entry>
		<id>https://bktt.vn/index.php?title=AN_NAM_T%E1%BA%A0P_CH%C3%8D&amp;diff=22504</id>
		<title>AN NAM TẠP CHÍ</title>
		<link rel="alternate" type="text/html" href="https://bktt.vn/index.php?title=AN_NAM_T%E1%BA%A0P_CH%C3%8D&amp;diff=22504"/>
		<updated>2023-01-17T04:36:13Z</updated>

		<summary type="html">&lt;p&gt;Tttrung: Tttrung đã đổi AN NAM TẠP CHÍ thành An Nam Tạp Chí: viết thường&lt;/p&gt;
&lt;hr /&gt;
&lt;div&gt;#đổi [[An Nam Tạp Chí]]&lt;/div&gt;</summary>
		<author><name>Tttrung</name></author>
	</entry>
	<entry>
		<id>https://bktt.vn/index.php?title=An_Nam_T%E1%BA%A1p_Ch%C3%AD&amp;diff=22503</id>
		<title>An Nam Tạp Chí</title>
		<link rel="alternate" type="text/html" href="https://bktt.vn/index.php?title=An_Nam_T%E1%BA%A1p_Ch%C3%AD&amp;diff=22503"/>
		<updated>2023-01-17T04:36:13Z</updated>

		<summary type="html">&lt;p&gt;Tttrung: Tttrung đã đổi AN NAM TẠP CHÍ thành An Nam Tạp Chí: viết thường&lt;/p&gt;
&lt;hr /&gt;
&lt;div&gt;&amp;lt;indicator name=&amp;quot;mới&amp;quot;&amp;gt;[[File:UnderCon icon.svg|40px|link={{TALKPAGENAME}}#Bình duyệt|alt=Mục từ này cần được bình duyệt|Mục từ này cần được bình duyệt]]&amp;lt;/indicator&amp;gt;&lt;br /&gt;
[[File:Antc1926pic.jpg|thumb|abcdefgh]]&lt;br /&gt;
[[An-nam tạp chí]]  là tạp chí về văn hóa, xã hội của nhà thơ Tản Đà. Ngày 09.12.1925, Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu đệ đơn xin phép ra báo. Đến ngày 11.02.1926 ông chính thức nhận giấy phép xuất bản ''An Nam tạp chí (ANTC)''. Vì lí do tài chính, tới ngày 01.7.1926, tạp chí mới ra số đầu tiên. ''ANTC'' được trình bày đơn giản, trên tờ bìa chỉ có chữ, sau này báo thêm hình vẽ bản đồ Việt Nam. Trên cùng phía trái in số báo, giữa in năm, bên phải là ngày, tháng, phát hành bằng tiếng Pháp. Tên báo được in bằng ba ngôn ngữ Hán, Pháp và Quốc ngữ, chính giữa trang ghi ''Mỗi tháng ra hai kì'', phía dưới ghi ''Chủ nhân Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu'' kèm con dấu cá nhân hình vuông, dưới cùng ghi địa chỉ tòa soạn đặt tại 50 phố Hàng Lọng, in tại nhà in Kim Đức Giang.&lt;br /&gt;
Trong số đầu tiên, Tản Đà viết lời phi lộ và những bài về văn học, xã hội, Ngô Tất Tố chịu trách nhiệm dịch thuật và viết về nông nghiệp. Các tác giả Nguyễn Công Hoan, Lê Khắc Hoa, Lưu Văn Thọ, Nguyễn Ngọc Liên… cũng tham gia viết những bài khác. Bên cạnh những nội dung chính, ''ANTC'' đăng khá nhiều quảng cáo hiệu sách, hiệu thuốc, thư điếm, nhà máy, giới thiệu các sách đã hoặc sẽ xuất bản của Tản Đà thư quán, Tản Đà thư cục…&lt;br /&gt;
Trong suốt quá trình tồn tại của mình, ''ANTC'' luôn cố gắng thay đổi lối trình bày, phát huy thế mạnh văn chương, thơ phú của Tản Đà thể hiện qua các mục ''Văn đàn (du ký), Thi đàn,  Đoản thiên tiểu thuyết giảng tập, Xã hội ba đào ký…''  Trong bài [[''''“Kính cáo quốc dân An Nam ta”'''']] do Tản Đà chấp bút trên số 1, chủ nhân ''ANTC'' nhấn mạnh không chỉ đăng tải đơn thuần những tác phẩm văn học, mà thông qua các bài viết nhằm giáo hóa, dẫn dắt dân chúng đi theo con đường chính, diệt trừ tà tâm: “Ai là người có công về thế đạo nhân tâm, Bản chí phải tinh biểu bằng ngòi bút để làm khuyên cho kẻ khác, xin ai đừng có bận lòng ơn. Ai là người có tội với xã hội nhân quần, bản chí phải trừng trị bằng câu văn để làm dăn (răn) cho kẻ khác, xin ai đừng có đem lòng oán”. Ngoài ra, báo còn cổ động tinh thần thực nghiệp, kêu gọi chí tiến thủ và nghĩa đồng bào.&lt;br /&gt;
''ANTC'' lần đầu xuất bản duy trì được mười tháng, in được mười số. Tản Đà vào Sài Gòn định in ở trong đó, nhưng thất bại bởi: “Mỗi kỳ Tạp chí ở trong Nam mà phải gửi ra Bắc kiểm duyệt, kiểm duyệt ở Bắc được thời mới gửi vào Nam để in, in xong ở Nam thời lại phải gửi Tạp chí ra Bắc phát hành như thế thật mất thì giờ và phiền phí quá lắm. Dẫu Tạp chí có xuất bản được nữa cũng là sự gắng gượng mà thôi. Vậy nay tôi đành chịu bất tài mà để cho An Nam Tạp Chí đình bản”. (Đông Pháp thời báo, số 654 năm 1927). &lt;br /&gt;
Trong lần tái sinh thứ nhất, ''ANTC'' đặt dưới sự bảo trợ của một cậu ấm nhà giàu. Tòa soạn đặt tại số 1 phố Francis Garnier (nay là Đinh Tiên Hoàng). Lần này ''ANTC'' chỉ ra được ba số (từ số 11 đến số 13). Trong lần tái sinh thứ hai, Tản Đà hợp tác với Nguyễn Xuân Dương chủ hiệu thuốc Dương Nguyên ở Nam Định. Tòa soạn đặt ở số nhà 126 phố Maréchal Foch (phố Khách), bắt đầu từ số 14 (tháng 12.1930) đến số 24 (tháng 5.1931) thì đình bản. Sau một thời gian,'' ANTC'' tái sinh lần thứ ba và chuyển về số 68 Hàng Khoai - Hà Nội. Lần này cũng do nợ nần quá nhiều nên báo lại đình bản. Sau hơn một tháng, báo tiếp tục ra tại số 145 phố Hàng Bông. ''ANTC'' lúc này in khổ nhỏ, đánh số lại từ đầu, số 1 ra ngày 01.09.1932. Tòa soạn đặt ở Hà Nội nhưng in ở Vinh. Ngày 01.03.1933, ANTC ra số cuối cùng.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
=='''Tài liệu tham khảo:'''==&lt;br /&gt;
* An Nam tạp chí, Thư viện Quốc gia Hà Nội, mã CO119M&lt;br /&gt;
* [[Nguyễn Khắc Hiếu]]: [[''Giấc mộng lớn'']], Nxb Tản Đà Thư cục, Hà Nội, 1923&lt;br /&gt;
* Hoài Nam: Buổi đầu của Báo chí Việt Nam: Trường hợp Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu,  báo Đại Đoàn kết, số ra ngày 05.4.2019&lt;/div&gt;</summary>
		<author><name>Tttrung</name></author>
	</entry>
	<entry>
		<id>https://bktt.vn/index.php?title=L%E1%BB%9Di_k%C3%AAu_g%E1%BB%8Di_to%C3%A0n_qu%E1%BB%91c_kh%C3%A1ng_chi%E1%BA%BFn&amp;diff=22502</id>
		<title>Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến</title>
		<link rel="alternate" type="text/html" href="https://bktt.vn/index.php?title=L%E1%BB%9Di_k%C3%AAu_g%E1%BB%8Di_to%C3%A0n_qu%E1%BB%91c_kh%C3%A1ng_chi%E1%BA%BFn&amp;diff=22502"/>
		<updated>2023-01-17T04:34:57Z</updated>

		<summary type="html">&lt;p&gt;Tttrung: Tạo trang mới với nội dung “&amp;lt;indicator name=&amp;quot;mới&amp;quot;&amp;gt;File:UnderCon icon.svg|40px|link={{TALKPAGENAME}}#Bình duyệt|alt=Mục từ này cần được bình duyệt|Mục từ này…”&lt;/p&gt;
&lt;hr /&gt;
&lt;div&gt;&amp;lt;indicator name=&amp;quot;mới&amp;quot;&amp;gt;[[File:UnderCon icon.svg|40px|link={{TALKPAGENAME}}#Bình duyệt|alt=Mục từ này cần được bình duyệt|Mục từ này cần được bình duyệt]]&amp;lt;/indicator&amp;gt;&lt;br /&gt;
	&lt;br /&gt;
'''Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến''' là một văn bản được soạn bởi [[Hồ Chí Minh]], [[Trường Chinh]] vào năm 1946, thể hiện cương lĩnh kháng chiến mang tính khái quát, vạch trần âm xâm lược của thực dân Pháp, thể hiện khát vọng hòa bình và thái độ nhân nhượng của Việt Nam, nêu lên ý chí quyết tâm kháng chiến đến cùng và chỉ ra những đường lối cơ bản của cuộc kháng chiến tự lực, toàn dân Việt Nam, toàn diện và lâu dài.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến gồm hai tờ giấy rời nhau (kích thước 20cm x 13.5cm và 20cm x 13.6cm), màu trắng ngà, viết mực màu nâu đen trên một mặt giấy. Ngoài bút tích của [[Hồ Chí Minh]], bản thảo còn có bút tích bổ sung của [[Trường Chinh]]. Dòng chữ Hà Nội ngày 19-12-1946 - Hồ Chí Minh do [[Lê Văn Nam]], cán bộ của Văn phòng Ủy ban Quân sự viết thêm vào phía cuối. Bản thảo có nếp gấp và có hai lỗ thủng nhỏ ở góc trên bên trái. &lt;br /&gt;
==Bối cảnh==	&lt;br /&gt;
Cuối năm 1946, trước âm mưu và hành động xâm lược của thực dân Pháp, Hội nghị Thường vụ Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam diễn ra trong hai ngày 18 và 19 tháng 12 tại làng Vạn Phúc đã quyết định phát động cuộc kháng chiến chống Pháp trên phạm vi toàn quốc, mở đầu bằng cuộc chiến đấu của quân và dân Hà Nội vào 20 giờ ngày 19 tháng 12 năm 1946, đồng thời gửi đi lời kêu gọi kháng chiến tới đồng bào và chiến sĩ cả nước, thông qua “''Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến''” của [[Chủ tịch Hồ Chí Minh]]. &lt;br /&gt;
	&lt;br /&gt;
Để chuyển Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến sang các cơ quan báo chí, phát thanh và điện đi các địa phương, [[Lê Văn Nam]] đã đánh máy Bản thảo ra làm nhiều bản sao, lưu lại bản gốc. Từ năm 1952 đến 1956, Bản thảo do một gia đình người Tày ở An toàn khu Định Hóa, [[Thái Nguyên]] cất giữ. Ngày 04 tháng 6 năm 1970, Lê Văn Nam chuyển giao hiện vật cho [[Bảo tàng Cách mạng Việt Nam]] (nay là [[Bảo tàng Lịch sử quốc gia]]).&lt;br /&gt;
	&lt;br /&gt;
Với lời lẽ đanh thép - “''Chúng ta muốn hòa bình, chúng ta phải nhân nhượng. Nhưng chúng ta càng nhân nhượng, thực dân Pháp càng lấn tới vì chúng quyết tâm cướp nước ta lần nữa. Không! Chúng ta thà hi sinh tất cả chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ!''”, Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã có tác dụng khích lệ, động viên tinh thần mạnh mẽ đối với đồng bào và chiến sĩ cả nước trong những ngày tháng khó khăn gian khổ đầu tiên của  cuộc kháng chiến chống Pháp, giúp toàn Đảng, toàn dân vững tin đi đến thắng lợi cuối cùng của dân tộc.&lt;br /&gt;
 &lt;br /&gt;
==Tài liệu tham khảo==&lt;br /&gt;
# Bảo tàng Cách mạng Việt Nam, Hồ sơ hiện vật Bản thảo “''Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến''” của Chủ tịch Hồ Chí Minh đề nghị công nhận bảo vật quốc gia, Hà Nội, 2011.&lt;br /&gt;
# Hội đồng biên soạn cấp nhà nước, Hồ Chí Minh toàn tập, tập 4, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, 2011.&lt;br /&gt;
# Sở Văn hóa Thông tin Hà Tây, ''60 năm ngày Bác Hồ ra lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến'', Hà Tây, 2006.&lt;/div&gt;</summary>
		<author><name>Tttrung</name></author>
	</entry>
	<entry>
		<id>https://bktt.vn/index.php?title=B%C3%A1o_%E1%BA%A3nh_Vi%E1%BB%87t_Nam&amp;diff=22274</id>
		<title>Báo ảnh Việt Nam</title>
		<link rel="alternate" type="text/html" href="https://bktt.vn/index.php?title=B%C3%A1o_%E1%BA%A3nh_Vi%E1%BB%87t_Nam&amp;diff=22274"/>
		<updated>2023-01-09T06:27:33Z</updated>

		<summary type="html">&lt;p&gt;Tttrung: &lt;/p&gt;
&lt;hr /&gt;
&lt;div&gt;&amp;lt;indicator name=&amp;quot;mới&amp;quot;&amp;gt;[[File:UnderCon icon.svg|40px|link={{TALKPAGENAME}}#Bình duyệt|alt=Mục từ này cần được bình duyệt|Mục từ này cần được bình duyệt]]&amp;lt;/indicator&amp;gt;&lt;br /&gt;
'''Báo ảnh Việt Nam ''' là báo đối ngoại chính thức bằng ảnh của  Việt Nam. Số  đầu tiên ra mắt bạn đọc ngày 15 tháng 10 năm 1954 với tên gọi ''Hình ảnh Việt Nam'' đưa tin và hình ảnh về chiến thắng lịch sử Điện biên phủ (7.5.1954) và chào mừng ngày giải phóng Thủ đô Hà Nội (10 tháng 10 năm 1954).&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Thời gian đầu báo do ông Đào Duy Kỳ phụ trách (từ năm 1954 đến tháng 10.1955) và thuộc Bộ Văn hóa Thông tin, sau thuộc Ủy ban Liên lạc Văn hóa với nước ngoài, sau nữa về Ban Tuyên huấn Trung ương, và từ năm 1977 đến nay trực thuộc Thông tấn xã Việt Nam với tên chính thức là ''Báo Ảnh Việt Nam (BAVN)''.&lt;br /&gt;
Chủ nhiệm kiêm Tổng biên tập đầu tiên của ''BAVN'' là nhà báo Ngô Đức Mậu (1955 - 1966). Bốn năm đầu báo ra được mười số và in tại Trung Quốc, đến năm 1958 được đưa về in tại nhà máy in Tiến Bộ ở Hà Nội. Từ năm 1959, báo xuất bản hằng tháng, mỗi tháng một số. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Ngay từ số đầu tiên, BAVN đã đem đến cho bạn đọc những hình ảnh đẹp về một dân tộc vừa giành được thắng lợi lừng lẫy trong (Bìa 1 số đầu tiên báo  Hình ảnh Việt Nam) cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc chống chủ nghĩa thực dân, đó là những hình ảnh về chiến thắng Điện Biên Phủ. Tiếp đó, báo đã liên tục giới thiệu công cuộc khôi phục, phát triển kinh tế ở miền Bắc và cuộc đấu tranh của đồng bào miền Nam. Thời kỳ này, ''BAVN'' được in bằng các thứ tiếng Việt, Anh, Pháp, Nga và Trung Quốc; phát hành ra nhiều nước và đưa cả vào miền Nam bằng những con đường khác nhau. Từ năm 1964, khi Mỹ mở rộng chiến tranh phá hoại ra miền Bắc, phóng viên của báo đã có mặt ở những nơi ác liệt, phản ánh kịp thời chiến thắng của nhân dân cả nước. Nhiều hình ảnh và tấm gương vừa chiến đấu vừa sản xuất cũng như hình ảnh về sự tàn phá của giặc Mỹ ở miền Bắc và những tội ác của Mỹ ngụy ở miền Nam đăng trên ''BAVN'' đã gây xúc động bạn bè khắp năm châu và thu hút sự ủng hộ của nhân dân thế giới đối với cuộc kháng chiến của nhân Việt Nam. Để phản ánh đầy đủ hơn cuộc chiến đấu của đồng bào miền Nam, BAVN đã cử nhiều phóng viên vào chiến trường và vùng giải phóng. Trong lúc làm nhiệm vụ ở chiến trường có người đã hy sinh, có người bị thương. Trong [[chiến dịch Hồ Chí Minh]], phóng viên của ''BAVN'' đã bám theo nhiều mũi tiến công, ghi lại những hình ảnh về  chiến thắng lịch sử giải phóng hoàn toàn miền Nam để gửi đến nhân dân toàn thế giới.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Là tờ báo bằng ảnh, một loại hình rất mới ở Việt Nam nên khi mới ra đời, ''BAVN'' gặp không ít khó khăn về kỹ năng nghiệp vụ, về đội ngũ phóng viên. Từ năm 1965, nhiều vấn đề nghiệp vụ của tờ báo đã được định hình. Năm 1967, khi nhà báo Lê Bá Thuyên, phó Tổng viên tập Việt Nam Thông tấn xã được cử sang làm Chủ nhiệm kiêm Tổng biên tập báo thay ông Ngô Đức Mậu nhận nhiệm vụ khác, ông đã cùng tập thể cán bộ, phóng viên đổi mới tờ báo và tăng cường đội ngũ phóng viên cho báo. Nhiều sinh viên tốt nghiệp đại học được báo tuyển dụng gửi sang [[Liên Xô]] và [[Công hòa dân chủ Đức]] học báo chí, đặc biệt là nhiếp ảnh. Cũng từ 1965, khi báo ''Hình ảnh quân đội'' ngừng xuất bản, [[Tổng cục chính trị Quân đội Nhân dân Việt Nam]] đã đề nghị Báo Ảnh Việt Nam đảm nhiệm thêm phần tuyên truyền về lực lượng vũ trang và biệt phái một số phóng viên, biên tập viên về BAVN để triển khai nhiệm vụ này. Thời gian này phóng sự ảnh dần dần chiếm ưu thế trên mặt báo, nhất là khi đội ngũ phóng viên ảnh mới được tăng cường. Năm 1967, ''BAVN'' ra thêm bản tiếng Tây ban nha phát hành tại [[Cuba]] và [[các nước Mỹ Latinh khác]].&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Từ 1973 đến 1975 do nhu cầu tuyên truyền của [[Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam]] (CPCMLT), một bộ phận của ''BAVN'' được tách ra để thành lập Báo ''Ảnh Giải phóng'', trực thuộc CP.72 (Bộ Ngoại giao của CPCMLT). Tờ báo này ra được tám số cho đến khi thống nhất đất nước lại sát nhập về ''BAVN''.&lt;br /&gt;
Trong suốt những năm kháng chiến chống Mỹ, mặc dù có lúc tòa soạn và cả nhà in phải đi sơ tán nhưng ''BAVN'' vẫn được in tới 80.000 bản/kỳ và có lúc đã phát hành tới 125 nước và khu vực thông qua Công ty phát hành sách báo SUNHASABA và nhiều con đường khác. Trong thời gian này, ''BAVN'' là tờ báo đối ngoại duy nhất bằng hình ảnh và là tài liệu tuyên truyền hiệu quả. Báo đã được nhiều bạn bè và các tổ chức ủng hộ Việt Nam ở nước ngoài sử dụng lại hoặc cắt ra làm triển lãm để tuyên truyền về cuộc đấu tranh của nhân dân Việt Nam.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Từ sau năm 1975, BAVN đã liên tục cải tiến cả về hình thức và nội dung, cả về chất lượng bài ảnh và chất lượng in. Báo tiếp tục phản ánh toàn diện công cuộc xây dựng đất nước, đặc biệt là từ khi Đảng chủ trương tiến hành công cuộc đổi mới. ''BAVN'' đã cung cấp cho bạn đọc nước ngoài những thông tin về chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước trong đổi mới nền kinh tế đất nước cũng như chính sách đối ngoại rộng mở , chính sách thu hút đầu tư nước ngoài… của [[Việt Nam]]. &lt;br /&gt;
Năm 1977, khi ''BAVN'' chuyển từ Ban Tuyên huấn Trung ương về TTXVN, nhà báo Đỗ Phượng, Phó Tổng Giám đốc TTXVN được giao trực tiếp làm Chủ nhiệm kiêm Tổng biên tập. Từ cuối những năm 70 đến đầu những năm 90 là thời kỳ phát triển mạnh mẽ của báo. Với sự hỗ trợ của TTXVN, ''BAVN'' đã mở rộng hợp tác  quốc tế trong việc xuất bản báo và mở rộng hoạt động in ấn, phát hành. Nội dung báo ngày càng phong phú, có thời kỳ báo còn có những trang riêng cho bạn đọc các khu vực khác nhau. Cũng từ năm 1977, báo ra thêm tiếng [[Lào]], Kh’me, [[Đức]] và Quốc tế ngữ (Espranto). Trong những năm 80, báo có văn phòng thường trú tại [[Liên Xô]], [[Cuba]], sau đó ở [[Lào]], [[Campuchia]]. Thời gian này báo [[tiếng Nga]] được in tại [[Liên xô]], [[tiếng Tây ban nha]] in tại Cuba với sự hỗ trợ của Thông tấn xã Prensa Latina, sau đó in tại [[Colombia]] một thời gian rồi lại trở lại in tại Cuba. Nhờ đó, ''BAVN'' đến tay bạn đọc Liên Xô, Cuba và các nước Mỹ Latin rất kịp thời, với số lượng lớn. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Đầu những năm 90, sau khi [[Liên Xô]] và [[các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu]] tan rã, ''BAVN'' ngừng xuất bản tiếng Nga, Đức, Quốc tế ngữ, sau đó ngưng cả tiếng Kh’mer. &lt;br /&gt;
Tháng 1.1999, số báo điện tử đầu tiên của  BAVN [[tiếng Việt]], Anh, Pháp được phát lên mạng internet, sau đó là các ngôn ngữ [[Nga]], [[Trung Quốc]], [[Tây Ban Nha]], [[Nhật Bản]] lần lượt ra đời và trở thành một kênh quan trọng để mở rộng việc đưa báo ra nước ngoài.&lt;br /&gt;
Từ năm 2014 báo ngừng xuất bản báo giấy tiếng Việt, chỉ còn in bốn thứ tiếng là Anh, Trung Quốc (hàng tháng), Tây Ban Nha, Lào (hai tháng/kỳ); năm 2020 báo tiếng Tây Ban Nha và Lào trở lại xuất bản hàng tháng. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Ngày 31.10.2017, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 1669/QĐ-TTg phê duyệt “Đề án phát triển một số báo in và báo điện tử đối ngoại quốc gia của Thông tấn xã Việt Nam”, trong đó đã xác định rõ ''BAVN'' là một báo đối ngoại quốc gia.&lt;br /&gt;
Tại thời điểm năm 2020, Báo Ảnh Việt Nam xuất bản báo giấy 64 trang với bốn thứ tiếng là Anh, Trung Quốc, Tây Ban Nha và tiếng Lào với số lượng phát hành hàng tháng 21.000 bản, đến hơn 150 quốc gia và vùng lãnh thổ. Thời gian này, báo tiếng Tây Ban Nha được in tại [[Mexico]]. Cùng với báo giấy, báo điện tử phát hành bằng mười thứ tiếng (Việt, Anh, Pháp, Nga, Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, Tây Ban Nha, Lào và Kh’mer) với khoảng 15 triệu lượt bạn đọc từ khoảng 140 quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới truy cập thường xuyên.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
''BAVN'' hợp tác xuất bản hai ấn phẩm phụ là: Tạp chí Đẹp và Thời báo Việt-Hàn, trong đó, Thời báo Việt-Hàn là tờ báo chính thống bằng tiếng Hàn tại Việt Nam, phát hành hàng tuần phục vụ nhu cầu thông tin cho cộng đồng hơn 100.000 công dân Hàn Quốc đang sinh sống, làm việc tại Việt Nam.&lt;br /&gt;
''Báo Ảnh Việt Nam'' đã vinh dự được Nhà nước tặng Huân chương Độc lập hạng Ba (năm 1994), Huân chương Độc lập hạng Nhì (năm 2004) Huân chương Độc lập hạng Nhất (năm 2009) và Huân chương Lao Động hạng Ba (năm 2014).&lt;br /&gt;
							&lt;br /&gt;
=='''Tài liệu tham khảo'''==&lt;br /&gt;
# Kỷ yếu:'' 45 năm Báo Ảnh Việt Nam – Những chặng đường'', Báo Ảnh Việt Nam xuất bản, tháng 10.1999.&lt;br /&gt;
# Kỷ yếu: ''Báo Ảnh Việt Nam 60 năm đồng hành cung đất nước'', Báo Ảnh Việt Nam xuất bản , tháng 10.2014.&lt;br /&gt;
# ''70 năm Thông tấn xã Việt Nam- 1945-2015'', Nxb Thông tấn, tháng 9.2015.&lt;br /&gt;
# Phương Lan: ''Báo Ảnh Việt Nam kỷ niệm 60 năm ngày ra số báo đầu tiên'', báo điện tử Vietnam+, ngày15.10.2019. Truy cập ngày 3.11.2020.&lt;br /&gt;
# Quyết định số 1669/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ Phê duyệt “ Đề án phát triển một số báo in và báo điện tử đối ngoại quốc gia của Thông tấn xã Việt Nam,  ''thuvienphapluat.vn'' . Truy cập ngày 3.11.2020.&lt;/div&gt;</summary>
		<author><name>Tttrung</name></author>
	</entry>
	<entry>
		<id>https://bktt.vn/index.php?title=B%C3%81O_%E1%BA%A2NH_VI%E1%BB%86T_NAM&amp;diff=22273</id>
		<title>BÁO ẢNH VIỆT NAM</title>
		<link rel="alternate" type="text/html" href="https://bktt.vn/index.php?title=B%C3%81O_%E1%BA%A2NH_VI%E1%BB%86T_NAM&amp;diff=22273"/>
		<updated>2023-01-09T06:26:35Z</updated>

		<summary type="html">&lt;p&gt;Tttrung: Tttrung đã đổi BÁO ẢNH VIỆT NAM thành Báo ảnh Việt Nam: Viết thường&lt;/p&gt;
&lt;hr /&gt;
&lt;div&gt;#đổi [[Báo ảnh Việt Nam]]&lt;/div&gt;</summary>
		<author><name>Tttrung</name></author>
	</entry>
	<entry>
		<id>https://bktt.vn/index.php?title=B%C3%A1o_%E1%BA%A3nh_Vi%E1%BB%87t_Nam&amp;diff=22272</id>
		<title>Báo ảnh Việt Nam</title>
		<link rel="alternate" type="text/html" href="https://bktt.vn/index.php?title=B%C3%A1o_%E1%BA%A3nh_Vi%E1%BB%87t_Nam&amp;diff=22272"/>
		<updated>2023-01-09T06:26:35Z</updated>

		<summary type="html">&lt;p&gt;Tttrung: Tttrung đã đổi BÁO ẢNH VIỆT NAM thành Báo ảnh Việt Nam: Viết thường&lt;/p&gt;
&lt;hr /&gt;
&lt;div&gt;&amp;lt;indicator name=&amp;quot;mới&amp;quot;&amp;gt;[[File:UnderCon icon.svg|40px|link={{TALKPAGENAME}}#Bình duyệt|alt=Mục từ này cần được bình duyệt|Mục từ này cần được bình duyệt]]&amp;lt;/indicator&amp;gt;&lt;br /&gt;
'''BÁO ẢNH VIỆT NAM ''' là báo đối ngoại chính thức bằng ảnh của  Việt Nam. Số  đầu tiên ra mắt bạn đọc ngày 15 tháng 10 năm 1954 với tên gọi ''Hình ảnh Việt Nam'' đưa tin và hình ảnh về chiến thắng lịch sử Điện biên phủ (7.5.1954) và chào mừng ngày giải phóng Thủ đô (10.10.1954).&lt;br /&gt;
Thời gian đầu báo do ông Đào Duy Kỳ phụ trách (từ năm 1954 đến tháng 10.1955) và thuộc Bộ Văn hóa Thông tin, sau thuộc Ủy ban Liên lạc Văn hóa với nước ngoài, sau nữa về Ban Tuyên huấn Trung ương, và từ năm 1977 đến nay trực thuộc Thông tấn xã Việt Nam với tên chính thức là ''Báo Ảnh Việt Nam (BAVN)''.&lt;br /&gt;
Chủ nhiệm kiêm Tổng biên tập đầu tiên của ''BAVN'' là nhà báo Ngô Đức Mậu (1955 - 1966). Bốn năm đầu báo ra được mười số và in tại Trung Quốc, đến năm 1958 được đưa về in tại nhà máy in Tiến Bộ ở Hà Nội. Từ năm 1959, báo xuất bản hằng tháng, mỗi tháng một số. &lt;br /&gt;
Ngay từ số đầu tiên, BAVN đã đem đến cho bạn đọc những hình ảnh đẹp về một dân tộc vừa giành được thắng lợi lừng lẫy trong (Bìa 1 số đầu tiên báo  Hình ảnh Việt Nam) cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc chống chủ nghĩa thực dân, đó là những hình ảnh về chiến thắng Điện Biên Phủ. Tiếp đó, báo đã liên tục giới thiệu công cuộc khôi phục, phát triển kinh tế ở miền Bắc và cuộc đấu tranh của đồng bào miền Nam. Thời kỳ này, ''BAVN'' được in bằng các thứ tiếng Việt, Anh, Pháp, Nga và Trung Quốc; phát hành ra nhiều nước và đưa cả vào miền Nam bằng những con đường khác nhau. Từ năm 1964, khi Mỹ mở rộng chiến tranh phá hoại ra miền Bắc, phóng viên của báo đã có mặt ở những nơi ác liệt, phản ánh kịp thời chiến thắng của nhân dân cả nước. Nhiều hình ảnh và tấm gương vừa chiến đấu vừa sản xuất cũng như hình ảnh về sự tàn phá của giặc Mỹ ở miền Bắc và những tội ác của Mỹ ngụy ở miền Nam đăng trên ''BAVN'' đã gây xúc động bạn bè khắp năm châu và thu hút sự ủng hộ của nhân dân thế giới đối với cuộc kháng chiến của nhân Việt Nam. Để phản ánh đầy đủ hơn cuộc chiến đấu của đồng bào miền Nam, BAVN đã cử nhiều phóng viên vào chiến trường và vùng giải phóng. Trong lúc làm nhiệm vụ ở chiến trường có người đã hy sinh, có người bị thương. Trong [[chiến dịch Hồ Chí Minh]], phóng viên của ''BAVN'' đã bám theo nhiều mũi tiến công, ghi lại những hình ảnh về  chiến thắng lịch sử giải phóng hoàn toàn miền Nam để gửi đến nhân dân toàn thế giới.&lt;br /&gt;
Là tờ báo bằng ảnh, một loại hình rất mới ở Việt Nam nên khi mới ra đời, ''BAVN'' gặp không ít khó khăn về kỹ năng nghiệp vụ, về đội ngũ phóng viên. Từ năm 1965, nhiều vấn đề nghiệp vụ của tờ báo đã được định hình. Năm 1967, khi nhà báo Lê Bá Thuyên, phó Tổng viên tập Việt Nam Thông tấn xã được cử sang làm Chủ nhiệm kiêm Tổng biên tập báo thay ông Ngô Đức Mậu nhận nhiệm vụ khác, ông đã cùng tập thể cán bộ, phóng viên đổi mới tờ báo và tăng cường đội ngũ phóng viên cho báo. Nhiều sinh viên tốt nghiệp đại học được báo tuyển dụng gửi sang [[Liên Xô]] và [[Công hòa dân chủ Đức]] học báo chí, đặc biệt là nhiếp ảnh. Cũng từ 1965, khi báo ''Hình ảnh quân đội'' ngừng xuất bản, [[Tổng cục chính trị Quân đội Nhân dân Việt Nam]] đã đề nghị Báo Ảnh Việt Nam đảm nhiệm thêm phần tuyên truyền về lực lượng vũ trang và biệt phái một số phóng viên, biên tập viên về BAVN để triển khai nhiệm vụ này. Thời gian này phóng sự ảnh dần dần chiếm ưu thế trên mặt báo, nhất là khi đội ngũ phóng viên ảnh mới được tăng cường. Năm 1967, ''BAVN'' ra thêm bản tiếng Tây ban nha phát hành tại [[Cuba]] và [[các nước Mỹ Latinh khác]].&lt;br /&gt;
Từ 1973 đến 1975 do nhu cầu tuyên truyền của [[Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam]] (CPCMLT), một bộ phận của ''BAVN'' được tách ra để thành lập Báo ''Ảnh Giải phóng'', trực thuộc CP.72 (Bộ Ngoại giao của CPCMLT). Tờ báo này ra được tám số cho đến khi thống nhất đất nước lại sát nhập về ''BAVN''.&lt;br /&gt;
Trong suốt những năm kháng chiến chống Mỹ, mặc dù có lúc tòa soạn và cả nhà in phải đi sơ tán nhưng ''BAVN'' vẫn được in tới 80.000 bản/kỳ và có lúc đã phát hành tới 125 nước và khu vực thông qua Công ty phát hành sách báo SUNHASABA và nhiều con đường khác. Trong thời gian này, ''BAVN'' là tờ báo đối ngoại duy nhất bằng hình ảnh và là tài liệu tuyên truyền hiệu quả. Báo đã được nhiều bạn bè và các tổ chức ủng hộ Việt Nam ở nước ngoài sử dụng lại hoặc cắt ra làm triển lãm để tuyên truyền về cuộc đấu tranh của nhân dân Việt Nam.&lt;br /&gt;
Từ sau năm 1975, BAVN đã liên tục cải tiến cả về hình thức và nội dung, cả về chất lượng bài ảnh và chất lượng in. Báo tiếp tục phản ánh toàn diện công cuộc xây dựng đất nước, đặc biệt là từ khi Đảng chủ trương tiến hành công cuộc đổi mới. ''BAVN'' đã cung cấp cho bạn đọc nước ngoài những thông tin về chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước trong đổi mới nền kinh tế đất nước cũng như chính sách đối ngoại rộng mở , chính sách thu hút đầu tư nước ngoài… của [[Việt Nam]]. &lt;br /&gt;
Năm 1977, khi ''BAVN'' chuyển từ Ban Tuyên huấn Trung ương về TTXVN, nhà báo Đỗ Phượng, Phó Tổng Giám đốc TTXVN được giao trực tiếp làm Chủ nhiệm kiêm Tổng biên tập. Từ cuối những năm 70 đến đầu những năm 90 là thời kỳ phát triển mạnh mẽ của báo. Với sự hỗ trợ của TTXVN, ''BAVN'' đã mở rộng hợp tác  quốc tế trong việc xuất bản báo và mở rộng hoạt động in ấn, phát hành. Nội dung báo ngày càng phong phú, có thời kỳ báo còn có những trang riêng cho bạn đọc các khu vực khác nhau. Cũng từ năm 1977, báo ra thêm tiếng [[Lào]], Kh’me, [[Đức]] và Quốc tế ngữ (Espranto). Trong những năm 80, báo có văn phòng thường trú tại [[Liên Xô]], [[Cuba]], sau đó ở [[Lào]], [[Campuchia]]. Thời gian này báo [[tiếng Nga]] được in tại [[Liên xô]], [[tiếng Tây ban nha]] in tại Cuba với sự hỗ trợ của Thông tấn xã Prensa Latina, sau đó in tại [[Colombia]] một thời gian rồi lại trở lại in tại Cuba. Nhờ đó, ''BAVN'' đến tay bạn đọc Liên Xô, Cuba và các nước Mỹ Latin rất kịp thời, với số lượng lớn. &lt;br /&gt;
Đầu những năm 90, sau khi [[Liên Xô]] và [[các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu]] tan rã, ''BAVN'' ngừng xuất bản tiếng Nga, Đức, Quốc tế ngữ, sau đó ngưng cả tiếng Kh’mer. &lt;br /&gt;
Tháng 1.1999, số báo điện tử đầu tiên của  BAVN [[tiếng Việt]], Anh, Pháp được phát lên mạng internet, sau đó là các ngôn ngữ [[Nga]], [[Trung Quốc]], [[Tây Ban Nha]], [[Nhật Bản]] lần lượt ra đời và trở thành một kênh quan trọng để mở rộng việc đưa báo ra nước ngoài.&lt;br /&gt;
Từ năm 2014 báo ngừng xuất bản báo giấy tiếng Việt, chỉ còn in bốn thứ tiếng là Anh, Trung Quốc (hàng tháng), Tây Ban Nha, Lào (hai tháng/kỳ); năm 2020 báo tiếng Tây Ban Nha và Lào trở lại xuất bản hàng tháng. &lt;br /&gt;
Ngày 31.10.2017, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 1669/QĐ-TTg phê duyệt “Đề án phát triển một số báo in và báo điện tử đối ngoại quốc gia của Thông tấn xã Việt Nam”, trong đó đã xác định rõ ''BAVN'' là một báo đối ngoại quốc gia.&lt;br /&gt;
Tại thời điểm năm 2020, Báo Ảnh Việt Nam xuất bản báo giấy 64 trang với bốn thứ tiếng là Anh, Trung Quốc, Tây Ban Nha và tiếng Lào với số lượng phát hành hàng tháng 21.000 bản, đến hơn 150 quốc gia và vùng lãnh thổ. Thời gian này, báo tiếng Tây Ban Nha được in tại [[Mexico]]. Cùng với báo giấy, báo điện tử phát hành bằng mười thứ tiếng (Việt, Anh, Pháp, Nga, Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, Tây Ban Nha, Lào và Kh’mer) với khoảng 15 triệu lượt bạn đọc từ khoảng 140 quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới truy cập thường xuyên.&lt;br /&gt;
''BAVN'' hợp tác xuất bản hai ấn phẩm phụ là: Tạp chí Đẹp và Thời báo Việt-Hàn, trong đó, Thời báo Việt-Hàn là tờ báo chính thống bằng tiếng Hàn tại Việt Nam, phát hành hàng tuần phục vụ nhu cầu thông tin cho cộng đồng hơn 100.000 công dân Hàn Quốc đang sinh sống, làm việc tại Việt Nam.&lt;br /&gt;
''Báo Ảnh Việt Nam'' đã vinh dự được Nhà nước tặng Huân chương Độc lập hạng Ba (năm 1994), Huân chương Độc lập hạng Nhì (năm 2004) Huân chương Độc lập hạng Nhất (năm 2009) và Huân chương Lao Động hạng Ba (năm 2014).&lt;br /&gt;
							&lt;br /&gt;
=='''Tài liệu tham khảo'''==&lt;br /&gt;
# Kỷ yếu:'' 45 năm Báo Ảnh Việt Nam – Những chặng đường'', Báo Ảnh Việt Nam xuất bản, tháng 10.1999.&lt;br /&gt;
# Kỷ yếu: ''Báo Ảnh Việt Nam 60 năm đồng hành cung đất nước'', Báo Ảnh Việt Nam xuất bản , tháng 10.2014.&lt;br /&gt;
# ''70 năm Thông tấn xã Việt Nam- 1945-2015'', Nxb Thông tấn, tháng 9.2015.&lt;br /&gt;
# Phương Lan: ''Báo Ảnh Việt Nam kỷ niệm 60 năm ngày ra số báo đầu tiên'', báo điện tử Vietnam+, ngày15.10.2019. Truy cập ngày 3.11.2020.&lt;br /&gt;
# Quyết định số 1669/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ Phê duyệt “ Đề án phát triển một số báo in và báo điện tử đối ngoại quốc gia của Thông tấn xã Việt Nam,  ''thuvienphapluat.vn'' . Truy cập ngày 3.11.2020.&lt;/div&gt;</summary>
		<author><name>Tttrung</name></author>
	</entry>
	<entry>
		<id>https://bktt.vn/index.php?title=Th%E1%BA%A3o_lu%E1%BA%ADn_Th%C3%A0nh_vi%C3%AAn:Tttrung&amp;diff=21261</id>
		<title>Thảo luận Thành viên:Tttrung</title>
		<link rel="alternate" type="text/html" href="https://bktt.vn/index.php?title=Th%E1%BA%A3o_lu%E1%BA%ADn_Th%C3%A0nh_vi%C3%AAn:Tttrung&amp;diff=21261"/>
		<updated>2022-10-24T06:19:59Z</updated>

		<summary type="html">&lt;p&gt;Tttrung: /* Nhờ anh kiểm tra lại tính năng đăng ký và đăng nhập bằng Post ID */&lt;/p&gt;
&lt;hr /&gt;
&lt;div&gt;:'''Thảo luận cũ'''&lt;br /&gt;
:*''[[Thảo luận Thành viên:Tttrung/lưu001]]''&lt;br /&gt;
== [[Bản mẫu:val]] ==&lt;br /&gt;
Nhờ bạn sửa dấu thập thân từ dấu chấm thành dấu phẩy ở bản mẫu này. [[Thành viên:Marrella|Marrella]] ([[Thảo luận Thành viên:Marrella|thảo luận]]) 15:30, ngày 6 tháng 1 năm 2021 (+07)&lt;br /&gt;
:Ok bạn, mai mình sửa nha. Bạn có thể cho ví dụ mà hiện nay bản mẫu này đang không cho ra kết quả mong muốn ? [[Thành viên:Tttrung|Tttrung]] ([[Thảo luận Thành viên:Tttrung|thảo luận]]) 10:47, ngày 8 tháng 1 năm 2021 (+07)&lt;br /&gt;
::Đây bạn, ví dụ nếu để như này &amp;lt;nowiki&amp;gt;{{val|1.1|e=1}}&amp;lt;/nowiki&amp;gt; thì nó sẽ ra {{val|1.1|e=1}}, tôi muốn kết quả là 1,1×10&amp;lt;sup&amp;gt;1&amp;lt;/sup&amp;gt;. [[Thành viên:Marrella|Marrella]] ([[Thảo luận Thành viên:Marrella|thảo luận]]) 19:36, ngày 8 tháng 1 năm 2021 (+07)&lt;br /&gt;
:Đã xong. Bạn thấy còn lỗi gì thì báo nha. [[Thành viên:Tttrung|Tttrung]] ([[Thảo luận Thành viên:Tttrung|thảo luận]]) 15:59, ngày 9 tháng 1 năm 2021 (+07)&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
== [[Bản mẫu:CathEncy]] ==&lt;br /&gt;
Nhờ bạn xem giúp lỗi ở bản mẫu này. [[Thành viên:Marrella|Marrella]] ([[Thảo luận Thành viên:Marrella|thảo luận]]) 16:05, ngày 27 tháng 1 năm 2021 (+07)&lt;br /&gt;
:OK bạn hy vọng tuần sau mình có thời gian xem cái này. Tuần này đã kín lịch. [[Thành viên:Tttrung|Tttrung]] ([[Thảo luận Thành viên:Tttrung|thảo luận]]) 16:26, ngày 28 tháng 1 năm 2021 (+07)&lt;br /&gt;
:Tôi đã fix, bạn xem còn lỗi gì không nhé. [[Thành viên:Tttrung|Tttrung]] ([[Thảo luận Thành viên:Tttrung|thảo luận]]) 16:40, ngày 1 tháng 2 năm 2021 (+07)&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
== Bản quyền Wikipedia ==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Chào anh, em là Thiện Hậu tại Wikipedia tiếng Việt, có thể xác minh qua [https://vi.wikipedia.org/wiki/Th%C3%A0nh_vi%C3%AAn:Thienhau2003 User:Thienhau2003], em có vấn đề muốn nói với anh, cụ thể là:&lt;br /&gt;
* Wikipedia tiếng Việt cấp phép nội dung theo [https://vi.wikipedia.org/wiki/Wikipedia:Nguy%C3%AAn_v%C4%83n_Gi%E1%BA%A5y_ph%C3%A9p_Creative_Commons_Ghi_c%C3%B4ng%E2%80%93Chia_s%E1%BA%BB_t%C6%B0%C6%A1ng_t%E1%BB%B1_phi%C3%AAn_b%E1%BA%A3n_3.0_Ch%C6%B0a_chuy%E1%BB%83n_%C4%91%E1%BB%95i Giấy phép Creative Commons Ghi công–Chia sẻ tương tự phiên bản 3.0 Chưa chuyển đổi], được ghi rõ tại [https://vi.wikipedia.org/wiki/Wikipedia:D%C3%B9ng_l%E1%BA%A1i_n%E1%BB%99i_dung_c%E1%BB%A7a_Wikipedia#Th%C3%B4ng_b%C3%A1o_m%E1%BA%ABu Wikipedia:Dùng lại nội dung của Wikipedia]. Tức là nếu lấy nội dung Wikipedia thì phải ghi nguồn gốc theo quy định Wikipedia.&lt;br /&gt;
* Em thấy Bách khoa Toàn thư Việt Nam có nhiều nội dung được chép lại từ Wikipedia như cái bản mẫu bên trái bài [[Brom]] chẳng hạn nhưng không ghi nguồn, việc này vi phạm chính sách Wikipedia với xem xét quy phạm pháp luật.&lt;br /&gt;
Vì các anh chị ở đây đã chép từ một thời gian dài nên em không làm gì cả, vì nếu vậy sẽ không tốt đến các anh chị, đặc biệt là khi Trang này thuộc sở hữu của Chính phủ Việt Nam. Vì thế em chỉ yêu cầu các anh ghi công Wikipedia ngay bên dưới trang [[BKTT:Bản quyền]] thông tin sau.&lt;br /&gt;
&amp;lt;pre&amp;gt;&lt;br /&gt;
{| cellpadding=&amp;quot;4&amp;quot; cellspacing=&amp;quot;4&amp;quot; align=&amp;quot;center&amp;quot; style=&amp;quot;width:70%; background: #ADD8E6; &amp;lt;!-- border:3px groove #80d080 --&amp;gt;; padding:5px;&amp;quot;&lt;br /&gt;
| rowspan=&amp;quot;2&amp;quot; style=&amp;quot;padding:3px&amp;quot; | [[File:Wikipedia-logo-v2.svg|60px|Biểu trưng Wikipedia]]&amp;lt;br/&amp;gt;&amp;lt;br/&amp;gt;[[File:Wikimedia-logo black.svg|60px|Biểu trưng Wikimedia Foundation]]&lt;br /&gt;
|&amp;lt;center&amp;gt;&amp;lt;p style=&amp;quot;font-size:25px;&amp;quot;&amp;gt;'''Thông tin bản quyền liên quan khác'''&amp;lt;/p&amp;gt;&amp;lt;/center&amp;gt;&lt;br /&gt;
|-&lt;br /&gt;
|Một số nội dung tại Bách khoa Toàn thư Việt Nam có sử dụng nội dung từ [//wikipedia.org Wikipedia] (bao gồm [//wikipedia.org Wikipedia tiếng Việt])  và một số [//meta.wikimedia.org/wiki/Wikimedia_projects dự án khác trực thuộc Wikimedia Foundation]. Xem nội dung gốc và tác giả đóng góp liên quan tại các địa chỉ bên trên. Cả nội dung gốc và nội dung văn bản này đều được phát hành theo [//creativecommons.org/licenses/by-sa/3.0/ Giấy phép Creative Commons Ghi công–Chia sẻ tương tự phiên bản 3.0 Chưa chuyển đổi].&lt;br /&gt;
|}&lt;br /&gt;
&amp;lt;/pre&amp;gt;&lt;br /&gt;
sẽ ra&lt;br /&gt;
{| cellpadding=&amp;quot;4&amp;quot; cellspacing=&amp;quot;4&amp;quot; align=&amp;quot;center&amp;quot; style=&amp;quot;width:70%; background: #ADD8E6; &amp;lt;!-- border:3px groove #80d080 --&amp;gt;; padding:5px;&amp;quot;&lt;br /&gt;
| rowspan=&amp;quot;2&amp;quot; style=&amp;quot;padding:3px&amp;quot; | [[File:Wikipedia-logo-v2.svg|60px|Biểu trưng Wikipedia]]&amp;lt;br/&amp;gt;&amp;lt;br/&amp;gt;[[File:Wikimedia-logo black.svg|60px|Biểu trưng Wikimedia Foundation]]&lt;br /&gt;
|&amp;lt;center&amp;gt;&amp;lt;p style=&amp;quot;font-size:25px;&amp;quot;&amp;gt;'''Thông tin bản quyền liên quan khác'''&amp;lt;/p&amp;gt;&amp;lt;/center&amp;gt;&lt;br /&gt;
|-&lt;br /&gt;
|Một số nội dung tại Bách khoa Toàn thư Việt Nam có sử dụng nội dung từ [//wikipedia.org Wikipedia] (bao gồm [//wikipedia.org Wikipedia tiếng Việt])  và một số [//meta.wikimedia.org/wiki/Wikimedia_projects dự án khác trực thuộc Wikimedia Foundation]. Xem nội dung gốc và tác giả đóng góp liên quan tại các địa chỉ bên trên. Cả nội dung gốc và nội dung văn bản này đều được phát hành theo [//creativecommons.org/licenses/by-sa/3.0/ Giấy phép Creative Commons Ghi công–Chia sẻ tương tự phiên bản 3.0 Chưa chuyển đổi].&lt;br /&gt;
|}&lt;br /&gt;
Xin hãy thực hiện yêu cầu này vì sự tôn trọng bản quyền và công sức của những người đóng góp tại Wikipedia trong suốt 17 năm qua để có 1 triệu bài viết, cảm ơn.--[[Đặc biệt:Đóng góp/171.255.124.55|171.255.124.55]] 22:28, ngày 2 tháng 4 năm 2021 (+07)&lt;br /&gt;
:Cám ơn đóng góp của bạn, đồng ý với ý kiến này. [[Thành viên:Tttrung|Tttrung]] ([[Thảo luận Thành viên:Tttrung|thảo luận]]) 08:46, ngày 3 tháng 4 năm 2021 (+07)&lt;br /&gt;
:Bài Brom đã có ghi công từ lúc được tạo ra ở đây [[Thảo_luận:Brom]]. Bạn thấy còn cần bổ sung gì không ? [[Thành viên:Tttrung|Tttrung]] ([[Thảo luận Thành viên:Tttrung|thảo luận]]) 08:47, ngày 3 tháng 4 năm 2021 (+07)&lt;br /&gt;
:Mình đã thêm nội dung [https://bktt.vn/index.php?title=BKTT%3ABản_quyền&amp;amp;type=revision&amp;amp;diff=12772&amp;amp;oldid=3258]. Bạn xem còn cần cải tiến gì nữa không nhé. [[Thành viên:Tttrung|Tttrung]] ([[Thảo luận Thành viên:Tttrung|thảo luận]]) 08:57, ngày 3 tháng 4 năm 2021 (+07)&lt;br /&gt;
::Được rồi anh ạ, em thấy vậy là tốt rồi, cảm ơn anh. Không biết anh có thể tạo tài khoản cho em được không nhỉ?--[[Đặc biệt:Đóng góp/123.21.84.26|123.21.84.26]] 12:41, ngày 3 tháng 4 năm 2021 (+07)&lt;br /&gt;
:Hi em, welcome em tham gia đóng góp lâu dài ở Bách khoa Toàn thư Việt Nam :) ! Nếu em có số điện thoại chính chủ ở Việt Nam thì em có thể đăng ký tài khoản PostID ([https://idm.vnpost.vn/dangky]) và có tài khoản PostId thì đăng nhập vào và sử dụng Bách khoa Toàn thư Việt Nam được (postid cho phép dùng các dịch vụ công khác ở việt nam [https://dichvucong.gov.vn/p/home/dvc-trang-chu.html]). Sử dụng postID vẫn đảm bảo quyền riêng tư tại đây [[BKTT:Quyền_riêng_tư]], ngắn gọn là mọi người chỉ nhìn thấy mỗi nickname của em thôi. Nếu em gặp khó khăn khi đăng ký postID thì em cứ nhắn ở đây. Trường hợp em không có số điện thoại chính chủ ở Việt Nam, hoặc ngại dùng PostID vì lý do nào đó, anh có thể tạo tài khoản độc lập, giống như các [https://bktt.vn/index.php/Đặc_biệt:Nhật_trình?type=newusers&amp;amp;user=&amp;amp;page=&amp;amp;wpdate=&amp;amp;tagfilter=&amp;amp;subtype=create2 tài khoản này] - đây là các trường hợp có sự tin tưởng nhất định :D . Em lựa chọn như nào thì báo lại anh nhé. [[Thành viên:Tttrung|Tttrung]] ([[Thảo luận Thành viên:Tttrung|thảo luận]]) 13:33, ngày 3 tháng 4 năm 2021 (+07)&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
== Bản mẫu Convert ==&lt;br /&gt;
Ở [[bản mẫu:Convert]], ví dụ &amp;lt;nowiki&amp;gt;{{Convert|2.0|C-change}}&amp;lt;/nowiki&amp;gt; nó sẽ ra {{Convert|2.0|C-change}}. Nhờ bạn chuyển dấu chấm thành dấu phẩy. [[Thành viên:Marrella|Marrella]] ([[Thảo luận Thành viên:Marrella|thảo luận]]) 09:36, ngày 22 tháng 4 năm 2021 (+07)&lt;br /&gt;
: OK cuối tuần mình sẽ xử lý. [[Thành viên:Tttrung|Tttrung]] ([[Thảo luận Thành viên:Tttrung|thảo luận]]) 15:26, ngày 22 tháng 4 năm 2021 (+07)&lt;br /&gt;
:: Và nhờ bạn tạo mô đun cho [[bản mẫu:Chem2]] nhé. [[Thành viên:Marrella|Marrella]] ([[Thảo luận Thành viên:Marrella|thảo luận]]) 15:57, ngày 22 tháng 4 năm 2021 (+07)&lt;br /&gt;
:Cơ bản là OK rồi bạn nhé. Bạn dùng xem có vấn đề gì thì báo. [[Thành viên:Tttrung|Tttrung]] ([[Thảo luận Thành viên:Tttrung|thảo luận]]) 12:30, ngày 24 tháng 4 năm 2021 (+07)&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
== Lỗi ==&lt;br /&gt;
Nhờ bạn sửa giúp những lỗi về nguồn ở phần tham khảo của [[biến đổi khí hậu|bài]]. [[Thành viên:Marrella|Marrella]] ([[Thảo luận Thành viên:Marrella|thảo luận]]) 17:01, ngày 15 tháng 5 năm 2021 (+07)&lt;br /&gt;
:Mình sẽ chuyển các chú thích tham khảo về văn bản thuần, không dùng bản mẫu cite (bản mẫu đó hiện đang giới hạn một bài chỉ được chừng 200 lần cite), giống như đang làm với bài [[Mặt trăng]], trong quá trình tham gia bình duyệt cho bài [[biến đổi khí hậu]]. Bài Mặt trăng sắp xong, xong bài đó mình sẽ qua bài Biến đổi khí hậu. [[Thành viên:Tttrung|Tttrung]] ([[Thảo luận Thành viên:Tttrung|thảo luận]]) 17:35, ngày 15 tháng 5 năm 2021 (+07)&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Tham số pmc và pmid có lúc được lúc lỗi, ví dụ {{citation|title='abc'|pmc=7682372|pmid=33139543|doi=10.1038/s41561-019-0398-3}}, nhờ bạn xem giúp. [[Thành viên:Marrella|Marrella]] ([[Thảo luận Thành viên:Marrella|thảo luận]]) 11:02, ngày 25 tháng 1 năm 2022 (+07)&lt;br /&gt;
:OK để cuối tuần này tôi xem. [[Thành viên:Tttrung|Tttrung]] ([[Thảo luận Thành viên:Tttrung|thảo luận]]) 16:13, ngày 25 tháng 1 năm 2022 (+07)&lt;br /&gt;
Đã sửa:&lt;br /&gt;
*PMC trước đây giới hạn giá trị phải không quá 7500000, nay đã tăng lên 8900000. Nếu sau này bạn thấy có ID lớn hơn nữa thì báo để tôi cập nhật tăng thêm.&lt;br /&gt;
*PMID trước đây giới hạn giá trị phải không quá 33000000, nay đã tăng lên 35400000. Nếu sau này bạn thấy có ID lớn hơn nữa thì báo để tôi cập nhật tăng thêm.&lt;br /&gt;
[[Thành viên:Tttrung|Tttrung]] ([[Thảo luận Thành viên:Tttrung|thảo luận]]) 14:32, ngày 30 tháng 1 năm 2022 (+07)&lt;br /&gt;
: OK, cảm ơn bạn. [[Thành viên:Marrella|Marrella]] ([[Thảo luận Thành viên:Marrella|thảo luận]]) 16:07, ngày 30 tháng 1 năm 2022 (+07)&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Tương tự như trên, nhờ bạn cập nhật tiếp giá trị S2CID. [[Thành viên:Marrella|Marrella]] ([[Thảo luận Thành viên:Marrella|thảo luận]]) 23:27, ngày 4 tháng 5 năm 2022 (+07)&lt;br /&gt;
:OK bạn &amp;lt;del&amp;gt;mai mình fix nhé&amp;lt;/del&amp;gt;. Tôi thấy bạn đã nâng id_limit, tôi nâng tiếp lên đến 250000000. Nếu bạn vẫn còn thấy lỗi hoặc thấy có ID lớn hơn nữa thì báo tôi hoặc chủ động cập nhật tăng thêm nhé. Cám ơn bạn. [[Thành viên:Tttrung|Tttrung]] ([[Thảo luận Thành viên:Tttrung|thảo luận]]) 11:11, ngày 13 tháng 5 năm 2022 (+07)&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
== Đề án giai đoạn 1 ==&lt;br /&gt;
Theo như thông tin ở phần thảo luận các mục từ mới đây, số lượng mục từ mà bạn còn phải cập nhật, là tầm 2.000? [[Thành viên:Marrella|Marrella]] ([[Thảo luận Thành viên:Marrella|thảo luận]]) 19:52, ngày 10 tháng 7 năm 2022 (+07)&lt;br /&gt;
:Đúng rùi. Có thể cần công cụ :) [[Thành viên:Tttrung|Tttrung]] ([[Thảo luận Thành viên:Tttrung|thảo luận]]) 20:08, ngày 10 tháng 7 năm 2022 (+07)&lt;br /&gt;
::Giai đoạn 1, có phải là từ 2014 đến 2019? [[Thành viên:Marrella|Marrella]] ([[Thảo luận Thành viên:Marrella|thảo luận]]) 20:38, ngày 10 tháng 7 năm 2022 (+07)&lt;br /&gt;
:Tôi không nắm rõ về thông tin này. Bạn có thể tìm hiểu thêm ở trang web deanbktt.vn [[Thành viên:Tttrung|Tttrung]] ([[Thảo luận Thành viên:Tttrung|thảo luận]]) 20:47, ngày 10 tháng 7 năm 2022 (+07)&lt;br /&gt;
::Tôi xem ở đó thì là 2014 đến 2019. Tôi nhớ thời gian đầu bạn và thành viên Minhpc có đăng những mục từ tương tự thuộc nhóm này, sau đó thì dừng và bây giờ tái khởi động? [[Thành viên:Marrella|Marrella]] ([[Thảo luận Thành viên:Marrella|thảo luận]]) 20:53, ngày 10 tháng 7 năm 2022 (+07)&lt;br /&gt;
:Trước bên đề án có gửi 1 vài mục từ mà có thể là họ đang làm dở để đưa thử lên đây. Còn bây giờ thì họ gửi toàn bộ mục từ đã qua Giai đoạn 1 để đưa lên.[[Thành viên:Tttrung|Tttrung]] ([[Thảo luận Thành viên:Tttrung|thảo luận]]) 20:56, ngày 10 tháng 7 năm 2022 (+07)&lt;br /&gt;
::Vậy những mục từ này là đã đạt chất lượng theo như họ đánh giá, và được dùng chính thức cho giáo dục Việt Nam như đã giới thiệu? [[Thành viên:Marrella|Marrella]] ([[Thảo luận Thành viên:Marrella|thảo luận]]) 21:08, ngày 10 tháng 7 năm 2022 (+07)&lt;br /&gt;
:Khả năng là vẫn còn có Giai đoạn 2 và các Giai đoạn sau, cho đến khi nội dung họ in ra giấy rồi, thì các nội dung giống vậy tại đây cũng sẽ được dùng chính thức như bản giấy. [[Thành viên:Tttrung|Tttrung]] ([[Thảo luận Thành viên:Tttrung|thảo luận]]) 21:10, ngày 10 tháng 7 năm 2022 (+07)&lt;br /&gt;
::Vậy thì tôi hiểu giai đoạn 1 là biên soạn, đã qua giai đoạn 1 tức là mới chỉ biên soạn xong, chưa đánh giá chất lượng. [[Thành viên:Marrella|Marrella]] ([[Thảo luận Thành viên:Marrella|thảo luận]]) 21:36, ngày 10 tháng 7 năm 2022 (+07)&lt;br /&gt;
:Có vẻ họ muốn đưa lên để được 'tạo môi trường trao đổi học thuật được khách quan và cởi mở' (trích công văn của Đề án Biên soạn Bách khoa toàn thư Việt Nam gửi khi đưa các mục từ) tiếp tục đánh giá và cải tiến chất lượng. [[Thành viên:Tttrung|Tttrung]] ([[Thảo luận Thành viên:Tttrung|thảo luận]]) 21:40, ngày 10 tháng 7 năm 2022 (+07)&lt;br /&gt;
::Họ còn có thông điệp gì đáng chú ý khác trong công văn mà bạn nêu không? [[Thành viên:Marrella|Marrella]] ([[Thảo luận Thành viên:Marrella|thảo luận]]) 21:46, ngày 10 tháng 7 năm 2022 (+07)&lt;br /&gt;
:Tất cả thông điệp đáng chú ý ở công văn này tôi tóm tắt ở [[:Bản_mẫu:Mục từ giai đoạn 1]] rồi. [[Thành viên:Tttrung|Tttrung]] ([[Thảo luận Thành viên:Tttrung|thảo luận]]) 21:52, ngày 10 tháng 7 năm 2022 (+07)&lt;br /&gt;
::Không có chú thích trong hàng cụ thể, thực sự là một vấn đề lớn, thông tin gần như không thể kiểm chứng được. [[Thành viên:Marrella|Marrella]] ([[Thảo luận Thành viên:Marrella|thảo luận]]) 22:28, ngày 10 tháng 7 năm 2022 (+07)&lt;br /&gt;
:Đúng rùi, đây là vấn đề đã được tranh luận (không công khai) với bên Đề án, có lãnh đạo bên Đề án cho rằng:&lt;br /&gt;
:*[với các mục từ Đề án tạo ra ở giai đoạn 1] đây là &amp;quot;tác phẩm&amp;quot; của người tạo ra bài [được Đề án chọn và trả tiền để viết ra mục từ] và người tạo ra bài được &amp;quot;tin cậy&amp;quot; như một nguồn; &lt;br /&gt;
:*và rằng chú thích bên trong tốn sức đến nỗi, nếu thực sự cần kiểm tra lại, thì không có người tin cậy nào đi kiểm tra hết được; &lt;br /&gt;
:*và chú thích bên trong biến nó thành bài báo khoa học chứ không phải bài &amp;quot;bách khoa toàn thư&amp;quot;;&lt;br /&gt;
:tuy nhiên thực tế một số nội dung vẫn có người soạn chú thích bên trong. Vẫn cần tiếp tục &amp;quot;đấu tranh&amp;quot; (có thể là công khai ở đây) về vấn đề này với bên Đề án.[[Thành viên:Tttrung|Tttrung]] ([[Thảo luận Thành viên:Tttrung|thảo luận]]) 22:34, ngày 10 tháng 7 năm 2022 (+07)&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
::Nói thật với bạn là nếu cái ý kiến trên mà được áp dụng thì tôi nghỉ ngay và luôn, và tôi đi viết blog còn hơn. Nghe thật buồn. [[Thành viên:Marrella|Marrella]] ([[Thảo luận Thành viên:Marrella|thảo luận]]) 22:40, ngày 10 tháng 7 năm 2022 (+07)&lt;br /&gt;
:Cần phải đưa ra lý lẽ thuyết phục, không thể chối từ, bẻ gãy các ý kiến trên :) [[Thành viên:Tttrung|Tttrung]] ([[Thảo luận Thành viên:Tttrung|thảo luận]]) 22:47, ngày 10 tháng 7 năm 2022 (+07)&lt;br /&gt;
::Ví dụ như ý đầu tiên: tin vào người tạo bài, tin làm sao được? Anh ta cố tình hay vô tình viết ra những nội dung không theo nguồn, thậm chí bịa đặt ra, cũng chẳng ai biết. [[Thành viên:Marrella|Marrella]] ([[Thảo luận Thành viên:Marrella|thảo luận]]) 22:59, ngày 10 tháng 7 năm 2022 (+07)&lt;br /&gt;
:À, ý của người đưa ra ý kiến này không nói về &amp;quot;người tạo bài&amp;quot; bất kỳ ở dự án mở, mà chỉ các tác giả được Đề án chọn và trả tiền để viết ra mục từ. Dù sao chăng nữa, mình cũng cho rằng việc Đề án chọn &amp;quot;người tạo bài&amp;quot; &amp;quot;tin cậy&amp;quot; để tạo ra các nội dung không có chú thích trong bài chỉ phù hợp với kiểu bách khoa toàn thư cổ xưa, không còn phù hợp trong bối cảnh hiện tại. Ngay cả những người mà Đề án chọn ra là &amp;quot;tin cậy&amp;quot; thì theo tôi thông tin vẫn cần phải có bằng chứng được bình duyệt một cách khoa học, hoặc dẫn chứng từ các nguồn uy tín như các bài báo khoa học. [[Thành viên:Tttrung|Tttrung]] ([[Thảo luận Thành viên:Tttrung|thảo luận]]) 23:04, ngày 10 tháng 7 năm 2022 (+07)&lt;br /&gt;
::Theo tôi nguyên tắc là không nhìn người mà nhìn vào nội dung. Không có gì đảm bảo một người tin cậy sẽ tạo ra được nội dung tin cậy (ví dụ người đó không thích viết chẳng hạn, viết qua loa cẩu thả cho xong, không có nhiệt huyết), ấy là còn chưa kể mức độ tin cậy của người đó ra sao. Một mặt quan trọng khác của chú thích là để cho độc giả tự kiểm chứng. [[Thành viên:Marrella|Marrella]] ([[Thảo luận Thành viên:Marrella|thảo luận]]) 23:22, ngày 10 tháng 7 năm 2022 (+07)&lt;br /&gt;
:Thực ra tôi nghĩ cơ bản có lãnh đạo Đề án hiểu và không phản đối những điều chúng ta cùng nêu ở trên, về mặt lý thuyết. Họ đang đối mặt một trở ngại trên thực tiễn: nếu đồng ý theo phương án như chúng ta vẫn áp dụng, họ cần có nhân lực và chi phí nhiều hơn, trong khi thời hạn đã cạn. Họ cần hoàn thành trước deadline chứ không giống như với dự án mà không bao giờ có deadline thời gian để đạt chất lượng. Như 1 bài kiểu [[mặt trăng]], 1 người soạn cần nửa năm để làm (vẫn chưa xong) :D Câu hỏi của họ bây giờ mang tính thực tiễn hơn &amp;quot;cách làm nào vẫn đảm bảo chất lượng cao nhất mà trong giới hạn thời gian và nguồn lực &amp;quot;hạn hẹp&amp;quot; của họ&amp;quot;. Tôi cũng không nghĩ hết hộ Đề án được, nhưng tôi nghĩ kiểu gì rồi cũng phải theo chuẩn mực như chúng ta vẫn nói ở trên, khó có con đường nào khác, dù có mất thời gian, và kéo dài rất lâu. Đã là quy luật thì không cần tranh luận, rồi sẽ phải theo :) [[Thành viên:Tttrung|Tttrung]] ([[Thảo luận Thành viên:Tttrung|thảo luận]]) 23:32, ngày 10 tháng 7 năm 2022 (+07)&lt;br /&gt;
::Vậy thì khó rồi, và chất lượng như tôi và bạn mong muốn, sẽ không đạt được. Nhưng có một gợi ý là như tôi đã làm lâu nay, đó là chỉ biên soạn phần tổng hợp. [[Thành viên:Marrella|Marrella]] ([[Thảo luận Thành viên:Marrella|thảo luận]]) 23:47, ngày 10 tháng 7 năm 2022 (+07)&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
== Tạo mục từ ==&lt;br /&gt;
Bạn cứ sao chép nguyên trạng một số lượng mục từ lên một không gian nháp trên đây. Có thời gian tôi sẽ giúp bạn tạo và sửa. [[Thành viên:Marrella|Marrella]] ([[Thảo luận Thành viên:Marrella|thảo luận]]) 01:03, ngày 9 tháng 8 năm 2022 (+07)&lt;br /&gt;
:Cám ơn bạn nhiều! Mình có đưa 1 quyển lên trong link ở trang [[BKTT:Thảo luận]] [[Thành viên:Tttrung|Tttrung]] ([[Thảo luận Thành viên:Tttrung|thảo luận]]) 11:29, ngày 10 tháng 8 năm 2022 (+07)&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
== Nhờ anh kiểm tra lại tính năng đăng ký và đăng nhập bằng Post ID ==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Chào anh, tính năng đăng nhập bằng Post ID hiện đang hiện lỗi &amp;quot;Fatal error authenticating user.&amp;quot;. Nhờ anh kiểm tra và sửa lại. Tôi đang có dự định đóng góp cho dự án nhưng không thể đăng ký hoặc đăng nhập được. [[Đặc biệt:Đóng góp/172.70.214.3|172.70.214.3]] 10:48, ngày 16 tháng 10 năm 2022 (+07)&lt;br /&gt;
:Hiện tại bạn đang còn có vấn đề đăng nhập không? Thấy có người thử tự xử lý vấn đề bằng cách bấm nút &amp;quot;Quên mật khẩu&amp;quot; là xử lý được. Nếu bạn còn gặp vấn đề thì báo lại mình nhé. [[Thành viên:Tttrung|Tttrung]] ([[Thảo luận Thành viên:Tttrung|thảo luận]]) 13:19, ngày 24 tháng 10 năm 2022 (+07)&lt;/div&gt;</summary>
		<author><name>Tttrung</name></author>
	</entry>
	<entry>
		<id>https://bktt.vn/index.php?title=L%C3%BD_thuy%E1%BA%BFt_l%E1%BB%B1c_h%E1%BA%A5p_d%E1%BA%ABn_trong_kinh_t%E1%BA%BF_qu%E1%BB%91c_t%E1%BA%BF&amp;diff=21023</id>
		<title>Lý thuyết lực hấp dẫn trong kinh tế quốc tế</title>
		<link rel="alternate" type="text/html" href="https://bktt.vn/index.php?title=L%C3%BD_thuy%E1%BA%BFt_l%E1%BB%B1c_h%E1%BA%A5p_d%E1%BA%ABn_trong_kinh_t%E1%BA%BF_qu%E1%BB%91c_t%E1%BA%BF&amp;diff=21023"/>
		<updated>2022-10-17T08:54:16Z</updated>

		<summary type="html">&lt;p&gt;Tttrung: /* Mô hình đơn giản đầu tiên */&lt;/p&gt;
&lt;hr /&gt;
&lt;div&gt;{{mới}}&lt;br /&gt;
[[File:Lực hấp dẫn trong thương mại quốc tế.svg|thumb|550px|Mô hình lực hấp dẫn trong thương mại quốc tế]]&lt;br /&gt;
'''Lý thuyết lực hấp dẫn trong kinh tế quốc tế''' là một lý thuyết [[kinh tế học]] được sử dụng để dự đoán quan hệ thương mại song phương hoặc dòng chảy [[FDI]] dựa trên quy mô của nền kinh tế - thường sử dụng Tổng sản phẩm quốc nội ([[GDP]]), GDP bình quân đầu người, Tổng sản phẩm quốc dân ([[GNP]]), và GNP bình quân đầu người - và khoảng cách giữa hai đối tác thương mại/đầu tư. Mô hình trọng lực đầu tiên được áp dụng bởi Tinbergen (1962) và Linnemann (1966). Nó được đặt tên là “mô hình lực hấp dẫn” tương tự với [[định luật vạn vật hấp dẫn]] của [[Isaac Newton]] khi tính toán lực hút tương tác giữa hai vật thể ''F''&amp;lt;sub&amp;gt;''ij''&amp;lt;/sub&amp;gt;, tỷ lệ thuận với khối lượng ''M''&amp;lt;sub&amp;gt;''i''&amp;lt;/sub&amp;gt;, ''M''&amp;lt;sub&amp;gt;''j''&amp;lt;/sub&amp;gt; và tỷ lệ nghịch với khoảng cách, với công thức:&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:''F''&amp;lt;sub&amp;gt;''ij''&amp;lt;/sub&amp;gt; = ''G'' * ''M''&amp;lt;sub&amp;gt;''i''&amp;lt;/sub&amp;gt; * ''M''&amp;lt;sub&amp;gt;''j''&amp;lt;/sub&amp;gt; / ''D''&amp;lt;sub&amp;gt;''ij''&amp;lt;/sub&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Ở đây ''G'' là hệ số hấp dẫn&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Mô hình lực hấp dẫn trong thương mại quốc tế==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Trong lý thuyết lực hấp dẫn đầu tiên, lý thuyết này giả định rằng luồng thương mại giữa hai nước phụ thuộc vào quy mô của hai nền kinh tế (tính theo GDP), độ giàu có tính theo (GDP/người) và khoảng cách địa lý giữa hai quốc gia. Nói cách khác, lý thuyết trọng lực về thương mại dựa trên ba nhóm yếu tố: nhóm các nhân tố ảnh hưởng đến cung của nước xuất khẩu (thể hiện năng lực sản xuất của nước xuất khẩu) bao gồm: quy mô nền kinh tế (GDP), quy mô dân số; nhóm nhân tố ảnh hưởng đến cầu của nước nhập khẩu (thể hiện sức mua của thị trường nước nhập khẩu) bao gồm quy mô dân số, quy mô nền kinh tế (GDP); nhóm các nhân tố hấp dẫn/cản trở bao gồm các chính sách quản lý hoặc khuyến khích xuất khẩu/nhập khẩu, khoảng cách giữa hai quốc gia (thường xét trên hai khía cạnh là khoảng cách địa lý và khoảng cách trình độ phát triển kinh tế). Cả ba nhóm nhân tố trên có vai trò rất quan trọng trong hoạt động trao đổi, lưu thông hàng hóa giữa các quốc gia, chúng vừa có tác động hút (nước nhập khẩu) và cũng có tác động đẩy (nước xuất khẩu) giúp quá trình lưu thông hàng hóa diễn ra nhanh và hiệu quả hơn.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
===Mô hình đơn giản đầu tiên===&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Trong mô hình đơn giản, &lt;br /&gt;
:&amp;lt;math&amp;gt;T_{ij} = A Y_i^{\beta_1} Y_j^{\beta_2} \textbf{DIS}_{ij}^{\beta_3} e^{u_{ij}}&amp;lt;/math&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Ở đây&lt;br /&gt;
*''T''&amp;lt;sub&amp;gt;''ij''&amp;lt;/sub&amp;gt; là kim ngạch trao đổi thương mại giữa quốc gia ''i'' và quốc gia ''j''&lt;br /&gt;
*''A'' là Hệ số hấp dẫn hay cản trở&lt;br /&gt;
*''Y''&amp;lt;sub&amp;gt;''i''&amp;lt;/sub&amp;gt; là Quy mô nền kinh tế của quốc gia ''i''&lt;br /&gt;
*''Y''&amp;lt;sub&amp;gt;''j''&amp;lt;/sub&amp;gt; là Quy mô nền kinh tế của quốc gia ''j''&lt;br /&gt;
*DIS&amp;lt;sub&amp;gt;''ij''&amp;lt;/sub&amp;gt; là Khoảng cách giữa hai quốc gia ''i'' và ''j''&lt;br /&gt;
*''β''&amp;lt;sub&amp;gt;1&amp;lt;/sub&amp;gt;; ''β''&amp;lt;sub&amp;gt;2&amp;lt;/sub&amp;gt;; ''β''&amp;lt;sub&amp;gt;3&amp;lt;/sub&amp;gt; là các Hệ số hồi quy riêng của từng nhân tố có trong mô hình&lt;br /&gt;
*''u''&amp;lt;sub&amp;gt;''ij''&amp;lt;/sub&amp;gt; là Sai số ngẫu nhiên&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Về cơ bản lý thuyết trên đã lượng hóa được ảnh hưởng của 3 nhân tố cơ bản là quy mô nền kinh tế của quốc gia xuất khẩu, quốc gia nhập khẩu và khoảng cách giữa hai quốc gia đến kim ngạch trao đổi thương mại giữa hai quốc gia.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
===Các mô hình nâng cao===&lt;br /&gt;
Các nghiên cứu sau đó trên cơ sở của mô hình này đã phát triển và bổ sung thêm các nhân tố khác vào mô hình như nghiên cứu của Gbetnkom và Khan (2002), Erdem và Nazlioglu (2008), Hatab, Romstad và Huo (2010) và một số nghiên cứu khác.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Theo đó, tác động đến kim ngạch trao đổi hàng hóa giữa hai quốc gia không chỉ có quy mô nền kinh tế (thường được thể hiện bằng GDP) của hai quốc gia, khoảng cách địa lý giữa hai quốc gia mà còn có một số nhân tố khác như: Quy mô dân số quốc gia; Sự khác biệt văn hóa: lịch sử thuộc địa, sự đa dạng ngôn ngữ (số lượng ngôn ngữ được sử dụng) và tỷ lệ biết chữ (tính bằng %); Thể chế, sự bất ổn định (cường độ xung đột, khủng bố, khủng hoảng, ổn định chính trị kinh tế vĩ mô, hiệu quả quản lý nhà nước, v.v…); Chương trình ưu đãi thuế quan phổ cập (Generalized System of Preferences [GSP], Hiệp định Thương mại ưu đãi [PTA]); Tiếp cận thị trường, độ mở cửa (% thuế suất trung bình, tỷ lệ đo bằng (xuất khẩu + nhập khẩu)/GDP), WTO, FTA.. v.v…) ; Chỉ số tương đồng về quy mô, khác biệt về nguồn lực tương đối ([ln(GDP&amp;lt;sub&amp;gt;it&amp;lt;/sub&amp;gt;/(dân số)&amp;lt;sub&amp;gt;it&amp;lt;/sub&amp;gt;) – ln(GDP&amp;lt;sub&amp;gt;jt&amp;lt;/sub&amp;gt;/(dân số)&amp;lt;sub&amp;gt;jt&amp;lt;/sub&amp;gt;)]).&lt;br /&gt;
==Ứng dụng==&lt;br /&gt;
Lý thuyết lực hấp dẫn trong kinh tế quốc tế đã được sử dụng trong kinh tế quốc tế để đánh giá tác động của điều ước quốc tế hoặc hiệp định thương mại lên ngoại thương và FDI, như Khu vực mậu dịch tự do Bắc Mỹ (NAFTA) hoặc Tổ chức Thương mại thế giới (WTO), đo lường các hiệu ứng như tạo thương mại, chệch hướng thương mại.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Ở Việt Nam có rất nhiều công trình vận dụng lý thuyết lực hấp dẫn, nghiên cứu về khả năng trao đổi thương mại hàng hóa, dịch vụ, thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài với các nước trong các quan hệ song phương cũng như hội nhập liên kết khu vực, đánh giá dự báo tác động của các FTA tới xuất khẩu sản phẩm nói chung và sản phẩm chủ lực nói riêng của Việt Nam.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Tuy nhiên để có độ chính xác cao cần kết hợp với nhiều mô hình và các chỉ số thống kê khác nhau.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Tài liệu tham khảo==&lt;br /&gt;
#Đào Ngọc Tiến, Các nhân tố ảnh hưởng đến luồng xuất khu của Việt Nam và hàm ý chính sách trong bối cảnh khủng hoảng toàn cầu, Hội thảoNghiên cứu về chính sách thương mại quốc tế, Trường Đại học Ngoại Thương, 2009.&lt;br /&gt;
#Erdem and Nazlioglu, Gravity model of Turkish Agricultural Exports to the European Union,International Trade and Finance Association, 2008.&lt;br /&gt;
#Gbetnkom D. and Khan A. S., Determinants of Agricultural exports: The case of Cameroon, African economic research consortium, Cameroon, 2002&lt;br /&gt;
#Hatab, Abu, Romstad and Huo, “Determinants of Egyptian Agricultural Exports: A Gravity Model Approach”, Modern Economy 1, 2010&lt;br /&gt;
#International Trade Central-UNCTAD/WTO, Market Analysis Section, Trade Sim (second version), a gravity model for the calculation of trade potentials for developing countries and economies in transition, Explanatory notes, 2003.&lt;br /&gt;
#Linnermann H., An Econometric Study of International Trade Flows, Amsterdam, North-Holland, 1966.&lt;br /&gt;
#Tinbergen J., Shaping the World Economy: Suggesstions for an International Economy Policy, New York: The Twentieth Century Fund, 1962.&lt;/div&gt;</summary>
		<author><name>Tttrung</name></author>
	</entry>
	<entry>
		<id>https://bktt.vn/index.php?title=L%C3%BD_thuy%E1%BA%BFt_l%E1%BB%B1c_h%E1%BA%A5p_d%E1%BA%ABn_trong_kinh_t%E1%BA%BF_qu%E1%BB%91c_t%E1%BA%BF&amp;diff=21022</id>
		<title>Lý thuyết lực hấp dẫn trong kinh tế quốc tế</title>
		<link rel="alternate" type="text/html" href="https://bktt.vn/index.php?title=L%C3%BD_thuy%E1%BA%BFt_l%E1%BB%B1c_h%E1%BA%A5p_d%E1%BA%ABn_trong_kinh_t%E1%BA%BF_qu%E1%BB%91c_t%E1%BA%BF&amp;diff=21022"/>
		<updated>2022-10-17T08:53:48Z</updated>

		<summary type="html">&lt;p&gt;Tttrung: /* Mô hình đơn giản đầu tiên */&lt;/p&gt;
&lt;hr /&gt;
&lt;div&gt;{{mới}}&lt;br /&gt;
[[File:Lực hấp dẫn trong thương mại quốc tế.svg|thumb|550px|Mô hình lực hấp dẫn trong thương mại quốc tế]]&lt;br /&gt;
'''Lý thuyết lực hấp dẫn trong kinh tế quốc tế''' là một lý thuyết [[kinh tế học]] được sử dụng để dự đoán quan hệ thương mại song phương hoặc dòng chảy [[FDI]] dựa trên quy mô của nền kinh tế - thường sử dụng Tổng sản phẩm quốc nội ([[GDP]]), GDP bình quân đầu người, Tổng sản phẩm quốc dân ([[GNP]]), và GNP bình quân đầu người - và khoảng cách giữa hai đối tác thương mại/đầu tư. Mô hình trọng lực đầu tiên được áp dụng bởi Tinbergen (1962) và Linnemann (1966). Nó được đặt tên là “mô hình lực hấp dẫn” tương tự với [[định luật vạn vật hấp dẫn]] của [[Isaac Newton]] khi tính toán lực hút tương tác giữa hai vật thể ''F''&amp;lt;sub&amp;gt;''ij''&amp;lt;/sub&amp;gt;, tỷ lệ thuận với khối lượng ''M''&amp;lt;sub&amp;gt;''i''&amp;lt;/sub&amp;gt;, ''M''&amp;lt;sub&amp;gt;''j''&amp;lt;/sub&amp;gt; và tỷ lệ nghịch với khoảng cách, với công thức:&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:''F''&amp;lt;sub&amp;gt;''ij''&amp;lt;/sub&amp;gt; = ''G'' * ''M''&amp;lt;sub&amp;gt;''i''&amp;lt;/sub&amp;gt; * ''M''&amp;lt;sub&amp;gt;''j''&amp;lt;/sub&amp;gt; / ''D''&amp;lt;sub&amp;gt;''ij''&amp;lt;/sub&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Ở đây ''G'' là hệ số hấp dẫn&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Mô hình lực hấp dẫn trong thương mại quốc tế==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Trong lý thuyết lực hấp dẫn đầu tiên, lý thuyết này giả định rằng luồng thương mại giữa hai nước phụ thuộc vào quy mô của hai nền kinh tế (tính theo GDP), độ giàu có tính theo (GDP/người) và khoảng cách địa lý giữa hai quốc gia. Nói cách khác, lý thuyết trọng lực về thương mại dựa trên ba nhóm yếu tố: nhóm các nhân tố ảnh hưởng đến cung của nước xuất khẩu (thể hiện năng lực sản xuất của nước xuất khẩu) bao gồm: quy mô nền kinh tế (GDP), quy mô dân số; nhóm nhân tố ảnh hưởng đến cầu của nước nhập khẩu (thể hiện sức mua của thị trường nước nhập khẩu) bao gồm quy mô dân số, quy mô nền kinh tế (GDP); nhóm các nhân tố hấp dẫn/cản trở bao gồm các chính sách quản lý hoặc khuyến khích xuất khẩu/nhập khẩu, khoảng cách giữa hai quốc gia (thường xét trên hai khía cạnh là khoảng cách địa lý và khoảng cách trình độ phát triển kinh tế). Cả ba nhóm nhân tố trên có vai trò rất quan trọng trong hoạt động trao đổi, lưu thông hàng hóa giữa các quốc gia, chúng vừa có tác động hút (nước nhập khẩu) và cũng có tác động đẩy (nước xuất khẩu) giúp quá trình lưu thông hàng hóa diễn ra nhanh và hiệu quả hơn.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
===Mô hình đơn giản đầu tiên===&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Trong mô hình đơn giản, &lt;br /&gt;
:&amp;lt;math&amp;gt;T_{ij} = A Y_i^{\beta_1} Y_j^{\beta_2} \textbf{DIS}_{ij}^{\beta_3} e^{u_{ij}}&amp;lt;/math&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Ở đây&lt;br /&gt;
*''T''&amp;lt;sub&amp;gt;''ij''&amp;lt;/sub&amp;gt; là kim ngạch trao đổi thương mại giữa quốc gia ''i'' và quốc gia ''j''&lt;br /&gt;
*''A'' là Hệ số hấp dẫn hay cản trở&lt;br /&gt;
*''Y''&amp;lt;sub&amp;gt;''i''&amp;lt;/sub&amp;gt; là Quy mô nền kinh tế của quốc gia i&lt;br /&gt;
*''Y''&amp;lt;sub&amp;gt;''j''&amp;lt;/sub&amp;gt; là Quy mô nền kinh tế của quốc gia j&lt;br /&gt;
*DIS&amp;lt;sub&amp;gt;''ij''&amp;lt;/sub&amp;gt; là Khoảng cách giữa hai quốc gia i và j&lt;br /&gt;
*''β''&amp;lt;sub&amp;gt;1&amp;lt;/sub&amp;gt;; ''β''&amp;lt;sub&amp;gt;2&amp;lt;/sub&amp;gt;; ''β''&amp;lt;sub&amp;gt;3&amp;lt;/sub&amp;gt; là các Hệ số hồi quy riêng của từng nhân tố có trong mô hình&lt;br /&gt;
*''u''&amp;lt;sub&amp;gt;''ij''&amp;lt;/sub&amp;gt; là Sai số ngẫu nhiên&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Về cơ bản lý thuyết trên đã lượng hóa được ảnh hưởng của 3 nhân tố cơ bản là quy mô nền kinh tế của quốc gia xuất khẩu, quốc gia nhập khẩu và khoảng cách giữa hai quốc gia đến kim ngạch trao đổi thương mại giữa hai quốc gia.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
===Các mô hình nâng cao===&lt;br /&gt;
Các nghiên cứu sau đó trên cơ sở của mô hình này đã phát triển và bổ sung thêm các nhân tố khác vào mô hình như nghiên cứu của Gbetnkom và Khan (2002), Erdem và Nazlioglu (2008), Hatab, Romstad và Huo (2010) và một số nghiên cứu khác.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Theo đó, tác động đến kim ngạch trao đổi hàng hóa giữa hai quốc gia không chỉ có quy mô nền kinh tế (thường được thể hiện bằng GDP) của hai quốc gia, khoảng cách địa lý giữa hai quốc gia mà còn có một số nhân tố khác như: Quy mô dân số quốc gia; Sự khác biệt văn hóa: lịch sử thuộc địa, sự đa dạng ngôn ngữ (số lượng ngôn ngữ được sử dụng) và tỷ lệ biết chữ (tính bằng %); Thể chế, sự bất ổn định (cường độ xung đột, khủng bố, khủng hoảng, ổn định chính trị kinh tế vĩ mô, hiệu quả quản lý nhà nước, v.v…); Chương trình ưu đãi thuế quan phổ cập (Generalized System of Preferences [GSP], Hiệp định Thương mại ưu đãi [PTA]); Tiếp cận thị trường, độ mở cửa (% thuế suất trung bình, tỷ lệ đo bằng (xuất khẩu + nhập khẩu)/GDP), WTO, FTA.. v.v…) ; Chỉ số tương đồng về quy mô, khác biệt về nguồn lực tương đối ([ln(GDP&amp;lt;sub&amp;gt;it&amp;lt;/sub&amp;gt;/(dân số)&amp;lt;sub&amp;gt;it&amp;lt;/sub&amp;gt;) – ln(GDP&amp;lt;sub&amp;gt;jt&amp;lt;/sub&amp;gt;/(dân số)&amp;lt;sub&amp;gt;jt&amp;lt;/sub&amp;gt;)]).&lt;br /&gt;
==Ứng dụng==&lt;br /&gt;
Lý thuyết lực hấp dẫn trong kinh tế quốc tế đã được sử dụng trong kinh tế quốc tế để đánh giá tác động của điều ước quốc tế hoặc hiệp định thương mại lên ngoại thương và FDI, như Khu vực mậu dịch tự do Bắc Mỹ (NAFTA) hoặc Tổ chức Thương mại thế giới (WTO), đo lường các hiệu ứng như tạo thương mại, chệch hướng thương mại.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Ở Việt Nam có rất nhiều công trình vận dụng lý thuyết lực hấp dẫn, nghiên cứu về khả năng trao đổi thương mại hàng hóa, dịch vụ, thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài với các nước trong các quan hệ song phương cũng như hội nhập liên kết khu vực, đánh giá dự báo tác động của các FTA tới xuất khẩu sản phẩm nói chung và sản phẩm chủ lực nói riêng của Việt Nam.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Tuy nhiên để có độ chính xác cao cần kết hợp với nhiều mô hình và các chỉ số thống kê khác nhau.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Tài liệu tham khảo==&lt;br /&gt;
#Đào Ngọc Tiến, Các nhân tố ảnh hưởng đến luồng xuất khu của Việt Nam và hàm ý chính sách trong bối cảnh khủng hoảng toàn cầu, Hội thảoNghiên cứu về chính sách thương mại quốc tế, Trường Đại học Ngoại Thương, 2009.&lt;br /&gt;
#Erdem and Nazlioglu, Gravity model of Turkish Agricultural Exports to the European Union,International Trade and Finance Association, 2008.&lt;br /&gt;
#Gbetnkom D. and Khan A. S., Determinants of Agricultural exports: The case of Cameroon, African economic research consortium, Cameroon, 2002&lt;br /&gt;
#Hatab, Abu, Romstad and Huo, “Determinants of Egyptian Agricultural Exports: A Gravity Model Approach”, Modern Economy 1, 2010&lt;br /&gt;
#International Trade Central-UNCTAD/WTO, Market Analysis Section, Trade Sim (second version), a gravity model for the calculation of trade potentials for developing countries and economies in transition, Explanatory notes, 2003.&lt;br /&gt;
#Linnermann H., An Econometric Study of International Trade Flows, Amsterdam, North-Holland, 1966.&lt;br /&gt;
#Tinbergen J., Shaping the World Economy: Suggesstions for an International Economy Policy, New York: The Twentieth Century Fund, 1962.&lt;/div&gt;</summary>
		<author><name>Tttrung</name></author>
	</entry>
	<entry>
		<id>https://bktt.vn/index.php?title=L%C3%BD_thuy%E1%BA%BFt_l%E1%BB%B1c_h%E1%BA%A5p_d%E1%BA%ABn_trong_kinh_t%E1%BA%BF_qu%E1%BB%91c_t%E1%BA%BF&amp;diff=21021</id>
		<title>Lý thuyết lực hấp dẫn trong kinh tế quốc tế</title>
		<link rel="alternate" type="text/html" href="https://bktt.vn/index.php?title=L%C3%BD_thuy%E1%BA%BFt_l%E1%BB%B1c_h%E1%BA%A5p_d%E1%BA%ABn_trong_kinh_t%E1%BA%BF_qu%E1%BB%91c_t%E1%BA%BF&amp;diff=21021"/>
		<updated>2022-10-17T08:51:58Z</updated>

		<summary type="html">&lt;p&gt;Tttrung: &lt;/p&gt;
&lt;hr /&gt;
&lt;div&gt;{{mới}}&lt;br /&gt;
[[File:Lực hấp dẫn trong thương mại quốc tế.svg|thumb|550px|Mô hình lực hấp dẫn trong thương mại quốc tế]]&lt;br /&gt;
'''Lý thuyết lực hấp dẫn trong kinh tế quốc tế''' là một lý thuyết [[kinh tế học]] được sử dụng để dự đoán quan hệ thương mại song phương hoặc dòng chảy [[FDI]] dựa trên quy mô của nền kinh tế - thường sử dụng Tổng sản phẩm quốc nội ([[GDP]]), GDP bình quân đầu người, Tổng sản phẩm quốc dân ([[GNP]]), và GNP bình quân đầu người - và khoảng cách giữa hai đối tác thương mại/đầu tư. Mô hình trọng lực đầu tiên được áp dụng bởi Tinbergen (1962) và Linnemann (1966). Nó được đặt tên là “mô hình lực hấp dẫn” tương tự với [[định luật vạn vật hấp dẫn]] của [[Isaac Newton]] khi tính toán lực hút tương tác giữa hai vật thể ''F''&amp;lt;sub&amp;gt;''ij''&amp;lt;/sub&amp;gt;, tỷ lệ thuận với khối lượng ''M''&amp;lt;sub&amp;gt;''i''&amp;lt;/sub&amp;gt;, ''M''&amp;lt;sub&amp;gt;''j''&amp;lt;/sub&amp;gt; và tỷ lệ nghịch với khoảng cách, với công thức:&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:''F''&amp;lt;sub&amp;gt;''ij''&amp;lt;/sub&amp;gt; = ''G'' * ''M''&amp;lt;sub&amp;gt;''i''&amp;lt;/sub&amp;gt; * ''M''&amp;lt;sub&amp;gt;''j''&amp;lt;/sub&amp;gt; / ''D''&amp;lt;sub&amp;gt;''ij''&amp;lt;/sub&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Ở đây ''G'' là hệ số hấp dẫn&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Mô hình lực hấp dẫn trong thương mại quốc tế==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Trong lý thuyết lực hấp dẫn đầu tiên, lý thuyết này giả định rằng luồng thương mại giữa hai nước phụ thuộc vào quy mô của hai nền kinh tế (tính theo GDP), độ giàu có tính theo (GDP/người) và khoảng cách địa lý giữa hai quốc gia. Nói cách khác, lý thuyết trọng lực về thương mại dựa trên ba nhóm yếu tố: nhóm các nhân tố ảnh hưởng đến cung của nước xuất khẩu (thể hiện năng lực sản xuất của nước xuất khẩu) bao gồm: quy mô nền kinh tế (GDP), quy mô dân số; nhóm nhân tố ảnh hưởng đến cầu của nước nhập khẩu (thể hiện sức mua của thị trường nước nhập khẩu) bao gồm quy mô dân số, quy mô nền kinh tế (GDP); nhóm các nhân tố hấp dẫn/cản trở bao gồm các chính sách quản lý hoặc khuyến khích xuất khẩu/nhập khẩu, khoảng cách giữa hai quốc gia (thường xét trên hai khía cạnh là khoảng cách địa lý và khoảng cách trình độ phát triển kinh tế). Cả ba nhóm nhân tố trên có vai trò rất quan trọng trong hoạt động trao đổi, lưu thông hàng hóa giữa các quốc gia, chúng vừa có tác động hút (nước nhập khẩu) và cũng có tác động đẩy (nước xuất khẩu) giúp quá trình lưu thông hàng hóa diễn ra nhanh và hiệu quả hơn.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
===Mô hình đơn giản đầu tiên===&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Trong mô hình đơn giản, &lt;br /&gt;
:&amp;lt;math&amp;gt;T_{ij} = A Y_i^{\beta_1} Y_j^{\beta_2} \textbf{DIS}_{ij}^{\beta_3} e^{u_{ij}}&amp;lt;/math&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Ở đây&lt;br /&gt;
*''T''&amp;lt;sub&amp;gt;''ij''&amp;lt;/sub&amp;gt; là kim ngạch trao đổi thương mại giữa quốc gia ''i'' và quốc gia ''j''&lt;br /&gt;
*''A'' là Hệ số hấp dẫn hay cản trở&lt;br /&gt;
*''Y''&amp;lt;sub&amp;gt;''i''&amp;lt;/sub&amp;gt; là Quy mô nền kinh tế của quốc gia i&lt;br /&gt;
*''Y''&amp;lt;sub&amp;gt;''j''&amp;lt;/sub&amp;gt; là Quy mô nền kinh tế của quốc gia j&lt;br /&gt;
*DIS&amp;lt;sub&amp;gt;''ij''&amp;lt;/sub&amp;gt; là Khoảng cách giữa hai quốc gia i và j&lt;br /&gt;
*β&amp;lt;sub&amp;gt;1&amp;lt;/sub&amp;gt;; β&amp;lt;sub&amp;gt;2&amp;lt;/sub&amp;gt;; β&amp;lt;sub&amp;gt;1&amp;lt;/sub&amp;gt; là các Hệ số hồi quy riêng của từng nhân tố có trong mô hình&lt;br /&gt;
*''u''&amp;lt;sub&amp;gt;''ij''&amp;lt;/sub&amp;gt; là Sai số ngẫu nhiên&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Về cơ bản lý thuyết trên đã lượng hóa được ảnh hưởng của 3 nhân tố cơ bản là quy mô nền kinh tế của quốc gia xuất khẩu, quốc gia nhập khẩu và khoảng cách giữa hai quốc gia đến kim ngạch trao đổi thương mại giữa hai quốc gia.&lt;br /&gt;
===Các mô hình nâng cao===&lt;br /&gt;
Các nghiên cứu sau đó trên cơ sở của mô hình này đã phát triển và bổ sung thêm các nhân tố khác vào mô hình như nghiên cứu của Gbetnkom và Khan (2002), Erdem và Nazlioglu (2008), Hatab, Romstad và Huo (2010) và một số nghiên cứu khác.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Theo đó, tác động đến kim ngạch trao đổi hàng hóa giữa hai quốc gia không chỉ có quy mô nền kinh tế (thường được thể hiện bằng GDP) của hai quốc gia, khoảng cách địa lý giữa hai quốc gia mà còn có một số nhân tố khác như: Quy mô dân số quốc gia; Sự khác biệt văn hóa: lịch sử thuộc địa, sự đa dạng ngôn ngữ (số lượng ngôn ngữ được sử dụng) và tỷ lệ biết chữ (tính bằng %); Thể chế, sự bất ổn định (cường độ xung đột, khủng bố, khủng hoảng, ổn định chính trị kinh tế vĩ mô, hiệu quả quản lý nhà nước, v.v…); Chương trình ưu đãi thuế quan phổ cập (Generalized System of Preferences [GSP], Hiệp định Thương mại ưu đãi [PTA]); Tiếp cận thị trường, độ mở cửa (% thuế suất trung bình, tỷ lệ đo bằng (xuất khẩu + nhập khẩu)/GDP), WTO, FTA.. v.v…) ; Chỉ số tương đồng về quy mô, khác biệt về nguồn lực tương đối ([ln(GDP&amp;lt;sub&amp;gt;it&amp;lt;/sub&amp;gt;/(dân số)&amp;lt;sub&amp;gt;it&amp;lt;/sub&amp;gt;) – ln(GDP&amp;lt;sub&amp;gt;jt&amp;lt;/sub&amp;gt;/(dân số)&amp;lt;sub&amp;gt;jt&amp;lt;/sub&amp;gt;)]).&lt;br /&gt;
==Ứng dụng==&lt;br /&gt;
Lý thuyết lực hấp dẫn trong kinh tế quốc tế đã được sử dụng trong kinh tế quốc tế để đánh giá tác động của điều ước quốc tế hoặc hiệp định thương mại lên ngoại thương và FDI, như Khu vực mậu dịch tự do Bắc Mỹ (NAFTA) hoặc Tổ chức Thương mại thế giới (WTO), đo lường các hiệu ứng như tạo thương mại, chệch hướng thương mại.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Ở Việt Nam có rất nhiều công trình vận dụng lý thuyết lực hấp dẫn, nghiên cứu về khả năng trao đổi thương mại hàng hóa, dịch vụ, thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài với các nước trong các quan hệ song phương cũng như hội nhập liên kết khu vực, đánh giá dự báo tác động của các FTA tới xuất khẩu sản phẩm nói chung và sản phẩm chủ lực nói riêng của Việt Nam.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Tuy nhiên để có độ chính xác cao cần kết hợp với nhiều mô hình và các chỉ số thống kê khác nhau.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Tài liệu tham khảo==&lt;br /&gt;
#Đào Ngọc Tiến, Các nhân tố ảnh hưởng đến luồng xuất khu của Việt Nam và hàm ý chính sách trong bối cảnh khủng hoảng toàn cầu, Hội thảoNghiên cứu về chính sách thương mại quốc tế, Trường Đại học Ngoại Thương, 2009.&lt;br /&gt;
#Erdem and Nazlioglu, Gravity model of Turkish Agricultural Exports to the European Union,International Trade and Finance Association, 2008.&lt;br /&gt;
#Gbetnkom D. and Khan A. S., Determinants of Agricultural exports: The case of Cameroon, African economic research consortium, Cameroon, 2002&lt;br /&gt;
#Hatab, Abu, Romstad and Huo, “Determinants of Egyptian Agricultural Exports: A Gravity Model Approach”, Modern Economy 1, 2010&lt;br /&gt;
#International Trade Central-UNCTAD/WTO, Market Analysis Section, Trade Sim (second version), a gravity model for the calculation of trade potentials for developing countries and economies in transition, Explanatory notes, 2003.&lt;br /&gt;
#Linnermann H., An Econometric Study of International Trade Flows, Amsterdam, North-Holland, 1966.&lt;br /&gt;
#Tinbergen J., Shaping the World Economy: Suggesstions for an International Economy Policy, New York: The Twentieth Century Fund, 1962.&lt;/div&gt;</summary>
		<author><name>Tttrung</name></author>
	</entry>
	<entry>
		<id>https://bktt.vn/index.php?title=L%C3%BD_thuy%E1%BA%BFt_l%E1%BB%B1c_h%E1%BA%A5p_d%E1%BA%ABn_trong_kinh_t%E1%BA%BF_qu%E1%BB%91c_t%E1%BA%BF&amp;diff=21020</id>
		<title>Lý thuyết lực hấp dẫn trong kinh tế quốc tế</title>
		<link rel="alternate" type="text/html" href="https://bktt.vn/index.php?title=L%C3%BD_thuy%E1%BA%BFt_l%E1%BB%B1c_h%E1%BA%A5p_d%E1%BA%ABn_trong_kinh_t%E1%BA%BF_qu%E1%BB%91c_t%E1%BA%BF&amp;diff=21020"/>
		<updated>2022-10-17T08:50:13Z</updated>

		<summary type="html">&lt;p&gt;Tttrung: &lt;/p&gt;
&lt;hr /&gt;
&lt;div&gt;{{mới}}&lt;br /&gt;
[[File:Lực hấp dẫn trong thương mại quốc tế.svg|thumb|550px|lực hấp dẫn trong thương mại quốc tế]]&lt;br /&gt;
'''Lý thuyết lực hấp dẫn trong kinh tế quốc tế''' là một lý thuyết [[kinh tế học]] được sử dụng để dự đoán quan hệ thương mại song phương hoặc dòng chảy [[FDI]] dựa trên quy mô của nền kinh tế - thường sử dụng Tổng sản phẩm quốc nội ([[GDP]]), GDP bình quân đầu người, Tổng sản phẩm quốc dân ([[GNP]]), và GNP bình quân đầu người - và khoảng cách giữa hai đối tác thương mại/đầu tư. Mô hình trọng lực đầu tiên được áp dụng bởi Tinbergen (1962) và Linnemann (1966). Nó được đặt tên là “mô hình lực hấp dẫn” tương tự với [[định luật vạn vật hấp dẫn]] của [[Isaac Newton]] khi tính toán lực hút tương tác giữa hai vật thể ''F''&amp;lt;sub&amp;gt;''ij''&amp;lt;/sub&amp;gt;, tỷ lệ thuận với khối lượng ''M''&amp;lt;sub&amp;gt;''i''&amp;lt;/sub&amp;gt;, ''M''&amp;lt;sub&amp;gt;''j''&amp;lt;/sub&amp;gt; và tỷ lệ nghịch với khoảng cách, với công thức:&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:''F''&amp;lt;sub&amp;gt;''ij''&amp;lt;/sub&amp;gt; = ''G'' * ''M''&amp;lt;sub&amp;gt;''i''&amp;lt;/sub&amp;gt; * ''M''&amp;lt;sub&amp;gt;''j''&amp;lt;/sub&amp;gt; / ''D''&amp;lt;sub&amp;gt;''ij''&amp;lt;/sub&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Ở đây ''G'' là hệ số hấp dẫn&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Mô hình lực hấp dẫn trong thương mại quốc tế==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Trong lý thuyết lực hấp dẫn đầu tiên, lý thuyết này giả định rằng luồng thương mại giữa hai nước phụ thuộc vào quy mô của hai nền kinh tế (tính theo GDP), độ giàu có tính theo (GDP/người) và khoảng cách địa lý giữa hai quốc gia. Nói cách khác, lý thuyết trọng lực về thương mại dựa trên ba nhóm yếu tố: nhóm các nhân tố ảnh hưởng đến cung của nước xuất khẩu (thể hiện năng lực sản xuất của nước xuất khẩu) bao gồm: quy mô nền kinh tế (GDP), quy mô dân số; nhóm nhân tố ảnh hưởng đến cầu của nước nhập khẩu (thể hiện sức mua của thị trường nước nhập khẩu) bao gồm quy mô dân số, quy mô nền kinh tế (GDP); nhóm các nhân tố hấp dẫn/cản trở bao gồm các chính sách quản lý hoặc khuyến khích xuất khẩu/nhập khẩu, khoảng cách giữa hai quốc gia (thường xét trên hai khía cạnh là khoảng cách địa lý và khoảng cách trình độ phát triển kinh tế). Cả ba nhóm nhân tố trên có vai trò rất quan trọng trong hoạt động trao đổi, lưu thông hàng hóa giữa các quốc gia, chúng vừa có tác động hút (nước nhập khẩu) và cũng có tác động đẩy (nước xuất khẩu) giúp quá trình lưu thông hàng hóa diễn ra nhanh và hiệu quả hơn.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
===Mô hình đơn giản đầu tiên===&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Trong mô hình đơn giản, &lt;br /&gt;
:&amp;lt;math&amp;gt;T_{ij} = A Y_i^{\beta_1} Y_j^{\beta_2} \textbf{DIS}_{ij}^{\beta_3} e^{u_{ij}}&amp;lt;/math&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Ở đây&lt;br /&gt;
*''T''&amp;lt;sub&amp;gt;''ij''&amp;lt;/sub&amp;gt; là kim ngạch trao đổi thương mại giữa quốc gia ''i'' và quốc gia ''j''&lt;br /&gt;
*''A'' là Hệ số hấp dẫn hay cản trở&lt;br /&gt;
*''Y''&amp;lt;sub&amp;gt;''i''&amp;lt;/sub&amp;gt; là Quy mô nền kinh tế của quốc gia i&lt;br /&gt;
*''Y''&amp;lt;sub&amp;gt;''j''&amp;lt;/sub&amp;gt; là Quy mô nền kinh tế của quốc gia j&lt;br /&gt;
*DIS&amp;lt;sub&amp;gt;''ij''&amp;lt;/sub&amp;gt; là Khoảng cách giữa hai quốc gia i và j&lt;br /&gt;
*β&amp;lt;sub&amp;gt;1&amp;lt;/sub&amp;gt;; β&amp;lt;sub&amp;gt;2&amp;lt;/sub&amp;gt;; β&amp;lt;sub&amp;gt;1&amp;lt;/sub&amp;gt; là các Hệ số hồi quy riêng của từng nhân tố có trong mô hình&lt;br /&gt;
*''u''&amp;lt;sub&amp;gt;''ij''&amp;lt;/sub&amp;gt; là Sai số ngẫu nhiên&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Về cơ bản lý thuyết trên đã lượng hóa được ảnh hưởng của 3 nhân tố cơ bản là quy mô nền kinh tế của quốc gia xuất khẩu, quốc gia nhập khẩu và khoảng cách giữa hai quốc gia đến kim ngạch trao đổi thương mại giữa hai quốc gia.&lt;br /&gt;
===Các mô hình nâng cao===&lt;br /&gt;
Các nghiên cứu sau đó trên cơ sở của mô hình này đã phát triển và bổ sung thêm các nhân tố khác vào mô hình như nghiên cứu của Gbetnkom và Khan (2002), Erdem và Nazlioglu (2008), Hatab, Romstad và Huo (2010) và một số nghiên cứu khác.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Theo đó, tác động đến kim ngạch trao đổi hàng hóa giữa hai quốc gia không chỉ có quy mô nền kinh tế (thường được thể hiện bằng GDP) của hai quốc gia, khoảng cách địa lý giữa hai quốc gia mà còn có một số nhân tố khác như: Quy mô dân số quốc gia; Sự khác biệt văn hóa: lịch sử thuộc địa, sự đa dạng ngôn ngữ (số lượng ngôn ngữ được sử dụng) và tỷ lệ biết chữ (tính bằng %); Thể chế, sự bất ổn định (cường độ xung đột, khủng bố, khủng hoảng, ổn định chính trị kinh tế vĩ mô, hiệu quả quản lý nhà nước, v.v…); Chương trình ưu đãi thuế quan phổ cập (Generalized System of Preferences [GSP], Hiệp định Thương mại ưu đãi [PTA]); Tiếp cận thị trường, độ mở cửa (% thuế suất trung bình, tỷ lệ đo bằng (xuất khẩu + nhập khẩu)/GDP), WTO, FTA.. v.v…) ; Chỉ số tương đồng về quy mô, khác biệt về nguồn lực tương đối ([ln(GDP&amp;lt;sub&amp;gt;it&amp;lt;/sub&amp;gt;/(dân số)&amp;lt;sub&amp;gt;it&amp;lt;/sub&amp;gt;) – ln(GDP&amp;lt;sub&amp;gt;jt&amp;lt;/sub&amp;gt;/(dân số)&amp;lt;sub&amp;gt;jt&amp;lt;/sub&amp;gt;)]).&lt;br /&gt;
==Ứng dụng==&lt;br /&gt;
Lý thuyết lực hấp dẫn trong kinh tế quốc tế đã được sử dụng trong kinh tế quốc tế để đánh giá tác động của điều ước quốc tế hoặc hiệp định thương mại lên ngoại thương và FDI, như Khu vực mậu dịch tự do Bắc Mỹ (NAFTA) hoặc Tổ chức Thương mại thế giới (WTO), đo lường các hiệu ứng như tạo thương mại, chệch hướng thương mại.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Ở Việt Nam có rất nhiều công trình vận dụng lý thuyết lực hấp dẫn, nghiên cứu về khả năng trao đổi thương mại hàng hóa, dịch vụ, thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài với các nước trong các quan hệ song phương cũng như hội nhập liên kết khu vực, đánh giá dự báo tác động của các FTA tới xuất khẩu sản phẩm nói chung và sản phẩm chủ lực nói riêng của Việt Nam.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Tuy nhiên để có độ chính xác cao cần kết hợp với nhiều mô hình và các chỉ số thống kê khác nhau.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Tài liệu tham khảo==&lt;br /&gt;
#Đào Ngọc Tiến, Các nhân tố ảnh hưởng đến luồng xuất khu của Việt Nam và hàm ý chính sách trong bối cảnh khủng hoảng toàn cầu, Hội thảoNghiên cứu về chính sách thương mại quốc tế, Trường Đại học Ngoại Thương, 2009.&lt;br /&gt;
#Erdem and Nazlioglu, Gravity model of Turkish Agricultural Exports to the European Union,International Trade and Finance Association, 2008.&lt;br /&gt;
#Gbetnkom D. and Khan A. S., Determinants of Agricultural exports: The case of Cameroon, African economic research consortium, Cameroon, 2002&lt;br /&gt;
#Hatab, Abu, Romstad and Huo, “Determinants of Egyptian Agricultural Exports: A Gravity Model Approach”, Modern Economy 1, 2010&lt;br /&gt;
#International Trade Central-UNCTAD/WTO, Market Analysis Section, Trade Sim (second version), a gravity model for the calculation of trade potentials for developing countries and economies in transition, Explanatory notes, 2003.&lt;br /&gt;
#Linnermann H., An Econometric Study of International Trade Flows, Amsterdam, North-Holland, 1966.&lt;br /&gt;
#Tinbergen J., Shaping the World Economy: Suggesstions for an International Economy Policy, New York: The Twentieth Century Fund, 1962.&lt;/div&gt;</summary>
		<author><name>Tttrung</name></author>
	</entry>
	<entry>
		<id>https://bktt.vn/index.php?title=L%C3%BD_thuy%E1%BA%BFt_l%E1%BB%B1c_h%E1%BA%A5p_d%E1%BA%ABn_trong_kinh_t%E1%BA%BF_qu%E1%BB%91c_t%E1%BA%BF&amp;diff=21008</id>
		<title>Lý thuyết lực hấp dẫn trong kinh tế quốc tế</title>
		<link rel="alternate" type="text/html" href="https://bktt.vn/index.php?title=L%C3%BD_thuy%E1%BA%BFt_l%E1%BB%B1c_h%E1%BA%A5p_d%E1%BA%ABn_trong_kinh_t%E1%BA%BF_qu%E1%BB%91c_t%E1%BA%BF&amp;diff=21008"/>
		<updated>2022-10-17T04:24:58Z</updated>

		<summary type="html">&lt;p&gt;Tttrung: &lt;/p&gt;
&lt;hr /&gt;
&lt;div&gt;{{mới}}&lt;br /&gt;
'''Lý thuyết lực hấp dẫn trong kinh tế quốc tế''' là một lý thuyết [[kinh tế học]] được sử dụng để dự đoán quan hệ thương mại song phương hoặc dòng chảy [[FDI]] dựa trên quy mô của nền kinh tế - thường sử dụng Tổng sản phẩm quốc nội ([[GDP]]), GDP bình quân đầu người, Tổng sản phẩm quốc dân ([[GNP]]), và GNP bình quân đầu người - và khoảng cách giữa hai đối tác thương mại/đầu tư. Mô hình trọng lực đầu tiên được áp dụng bởi Tinbergen (1962) và Linnemann (1966). Nó được đặt tên là “mô hình lực hấp dẫn” tương tự với [[định luật vạn vật hấp dẫn]] của [[Isaac Newton]] khi tính toán lực hút tương tác giữa hai vật thể ''F''&amp;lt;sub&amp;gt;''ij''&amp;lt;/sub&amp;gt;, tỷ lệ thuận với khối lượng ''M''&amp;lt;sub&amp;gt;''i''&amp;lt;/sub&amp;gt;, ''M''&amp;lt;sub&amp;gt;''j''&amp;lt;/sub&amp;gt; và tỷ lệ nghịch với khoảng cách, với công thức:&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:''F''&amp;lt;sub&amp;gt;''ij''&amp;lt;/sub&amp;gt; = ''G'' * ''M''&amp;lt;sub&amp;gt;''i''&amp;lt;/sub&amp;gt; * ''M''&amp;lt;sub&amp;gt;''j''&amp;lt;/sub&amp;gt; / ''D''&amp;lt;sub&amp;gt;''ij''&amp;lt;/sub&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Ở đây ''G'' là hệ số hấp dẫn&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Mô hình lực hấp dẫn trong thương mại quốc tế==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Trong lý thuyết lực hấp dẫn đầu tiên, lý thuyết này giả định rằng luồng thương mại giữa hai nước phụ thuộc vào quy mô của hai nền kinh tế (tính theo GDP), độ giàu có tính theo (GDP/người) và khoảng cách địa lý giữa hai quốc gia. Nói cách khác, lý thuyết trọng lực về thương mại dựa trên ba nhóm yếu tố: nhóm các nhân tố ảnh hưởng đến cung của nước xuất khẩu (thể hiện năng lực sản xuất của nước xuất khẩu) bao gồm: quy mô nền kinh tế (GDP), quy mô dân số; nhóm nhân tố ảnh hưởng đến cầu của nước nhập khẩu (thể hiện sức mua của thị trường nước nhập khẩu) bao gồm quy mô dân số, quy mô nền kinh tế (GDP); nhóm các nhân tố hấp dẫn/cản trở bao gồm các chính sách quản lý hoặc khuyến khích xuất khẩu/nhập khẩu, khoảng cách giữa hai quốc gia (thường xét trên hai khía cạnh là khoảng cách địa lý và khoảng cách trình độ phát triển kinh tế). Cả ba nhóm nhân tố trên có vai trò rất quan trọng trong hoạt động trao đổi, lưu thông hàng hóa giữa các quốc gia, chúng vừa có tác động hút (nước nhập khẩu) và cũng có tác động đẩy (nước xuất khẩu) giúp quá trình lưu thông hàng hóa diễn ra nhanh và hiệu quả hơn.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
===Mô hình đơn giản đầu tiên===&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Trong mô hình đơn giản, &lt;br /&gt;
:&amp;lt;math&amp;gt;T_{ij} = A Y_i^{\beta_1} Y_j^{\beta_2} \textbf{DIS}_{ij}^{\beta_3} e^{u_{ij}}&amp;lt;/math&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Ở đây&lt;br /&gt;
*''T''&amp;lt;sub&amp;gt;''ij''&amp;lt;/sub&amp;gt; là kim ngạch trao đổi thương mại giữa quốc gia ''i'' và quốc gia ''j''&lt;br /&gt;
*''A'' là Hệ số hấp dẫn hay cản trở&lt;br /&gt;
*''Y''&amp;lt;sub&amp;gt;''i''&amp;lt;/sub&amp;gt; là Quy mô nền kinh tế của quốc gia i&lt;br /&gt;
*''Y''&amp;lt;sub&amp;gt;''j''&amp;lt;/sub&amp;gt; là Quy mô nền kinh tế của quốc gia j&lt;br /&gt;
*DIS&amp;lt;sub&amp;gt;''ij''&amp;lt;/sub&amp;gt; là Khoảng cách giữa hai quốc gia i và j&lt;br /&gt;
*β&amp;lt;sub&amp;gt;1&amp;lt;/sub&amp;gt;; β&amp;lt;sub&amp;gt;2&amp;lt;/sub&amp;gt;; β&amp;lt;sub&amp;gt;1&amp;lt;/sub&amp;gt; là các Hệ số hồi quy riêng của từng nhân tố có trong mô hình&lt;br /&gt;
*''u''&amp;lt;sub&amp;gt;''ij''&amp;lt;/sub&amp;gt; là Sai số ngẫu nhiên&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Về cơ bản lý thuyết trên đã lượng hóa được ảnh hưởng của 3 nhân tố cơ bản là quy mô nền kinh tế của quốc gia xuất khẩu, quốc gia nhập khẩu và khoảng cách giữa hai quốc gia đến kim ngạch trao đổi thương mại giữa hai quốc gia.&lt;br /&gt;
===Các mô hình nâng cao===&lt;br /&gt;
Các nghiên cứu sau đó trên cơ sở của mô hình này đã phát triển và bổ sung thêm các nhân tố khác vào mô hình như nghiên cứu của Gbetnkom và Khan (2002), Erdem và Nazlioglu (2008), Hatab, Romstad và Huo (2010) và một số nghiên cứu khác.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Theo đó, tác động đến kim ngạch trao đổi hàng hóa giữa hai quốc gia không chỉ có quy mô nền kinh tế (thường được thể hiện bằng GDP) của hai quốc gia, khoảng cách địa lý giữa hai quốc gia mà còn có một số nhân tố khác như: Quy mô dân số quốc gia; Sự khác biệt văn hóa: lịch sử thuộc địa, sự đa dạng ngôn ngữ (số lượng ngôn ngữ được sử dụng) và tỷ lệ biết chữ (tính bằng %); Thể chế, sự bất ổn định (cường độ xung đột, khủng bố, khủng hoảng, ổn định chính trị kinh tế vĩ mô, hiệu quả quản lý nhà nước, v.v…); Chương trình ưu đãi thuế quan phổ cập (Generalized System of Preferences [GSP], Hiệp định Thương mại ưu đãi [PTA]); Tiếp cận thị trường, độ mở cửa (% thuế suất trung bình, tỷ lệ đo bằng (xuất khẩu + nhập khẩu)/GDP), WTO, FTA.. v.v…) ; Chỉ số tương đồng về quy mô, khác biệt về nguồn lực tương đối ([ln(GDP/Popit) – ln(GDP/Popjt)] hoặc [ln(GDPper capita it) – ln(GDPper capita jt)]).&lt;br /&gt;
==Ứng dụng==&lt;br /&gt;
Lý thuyết lực hấp dẫn trong kinh tế quốc tế đã được sử dụng trong kinh tế quốc tế để đánh giá tác động của điều ước quốc tế hoặc hiệp định thương mại lên ngoại thương và FDI, như Khu vực mậu dịch tự do Bắc Mỹ (NAFTA) hoặc Tổ chức Thương mại thế giới (WTO), đo lường các hiệu ứng như tạo thương mại, chệch hướng thương mại.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Ở Việt Nam có rất nhiều công trình vận dụng lý thuyết lực hấp dẫn, nghiên cứu về khả năng trao đổi thương mại hàng hóa, dịch vụ, thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài với các nước trong các quan hệ song phương cũng như hội nhập liên kết khu vực, đánh giá dự báo tác động của các FTA tới xuất khẩu sản phẩm nói chung và sản phẩm chủ lực nói riêng của Việt Nam.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Tuy nhiên để có độ chính xác cao cần kết hợp với nhiều mô hình và các chỉ số thống kê khác nhau.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Tài liệu tham khảo==&lt;br /&gt;
#Đào Ngọc Tiến, Các nhân tố ảnh hưởng đến luồng xuất khu của Việt Nam và hàm ý chính sách trong bối cảnh khủng hoảng toàn cầu, Hội thảoNghiên cứu về chính sách thương mại quốc tế, Trường Đại học Ngoại Thương, 2009.&lt;br /&gt;
#Erdem and Nazlioglu, Gravity model of Turkish Agricultural Exports to the European Union,International Trade and Finance Association, 2008.&lt;br /&gt;
#Gbetnkom D. and Khan A. S., Determinants of Agricultural exports: The case of Cameroon, African economic research consortium, Cameroon, 2002&lt;br /&gt;
#Hatab, Abu, Romstad and Huo, “Determinants of Egyptian Agricultural Exports: A Gravity Model Approach”, Modern Economy 1, 2010&lt;br /&gt;
#International Trade Central-UNCTAD/WTO, Market Analysis Section, Trade Sim (second version), a gravity model for the calculation of trade potentials for developing countries and economies in transition, Explanatory notes, 2003.&lt;br /&gt;
#Linnermann H., An Econometric Study of International Trade Flows, Amsterdam, North-Holland, 1966.&lt;br /&gt;
#Tinbergen J., Shaping the World Economy: Suggesstions for an International Economy Policy, New York: The Twentieth Century Fund, 1962.&lt;/div&gt;</summary>
		<author><name>Tttrung</name></author>
	</entry>
	<entry>
		<id>https://bktt.vn/index.php?title=Ch%E1%BB%A7_ngh%C4%A9a_duy_v%E1%BA%ADt_l%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD&amp;diff=20917</id>
		<title>Chủ nghĩa duy vật lịch sử</title>
		<link rel="alternate" type="text/html" href="https://bktt.vn/index.php?title=Ch%E1%BB%A7_ngh%C4%A9a_duy_v%E1%BA%ADt_l%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD&amp;diff=20917"/>
		<updated>2022-10-14T08:19:36Z</updated>

		<summary type="html">&lt;p&gt;Tttrung: &lt;/p&gt;
&lt;hr /&gt;
&lt;div&gt;{{mới}}&lt;br /&gt;
'''Chủ nghĩa duy vật lịch sử''' (tiếng Nga ''Исторический материализм'', tiếng Anh ''historical materialism'', tiếng Pháp ''matérialisme historique'') là bộ phận hợp thành của [[triết học Mác - Lênin]], là khoa học triết học về xã hội, giải quyết một cách duy vật vấn đề cơ bản của [[triết học]] khi vận dụng vào [[lịch sử]], và trên cơ sở đó, nghiên cứu những quy luật chung về sự phát triển lịch sử và hình thức thực hiện những quy luật đó trong hoạt động của con người.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Việc sáng lập chủ nghĩa duy vật lịch sử là một bước ngoặt căn bản trong sự phát triển của tư tưởng xã hội. Trước khi xuất hiện [[chủ nghĩa Mác]], quan niệm duy tâm về đời sống xã hội đã thống trị. Những thiếu sót cơ bản của xã hội học và sử học trước Mác là: thứ nhất, chỉ chú ý đến những động cơ tư tưởng của hoạt động của con người, chứ không tính đến các nguyên nhân vật chất; thứ hai, không nhìn thấy vai trò quyết định của quần chúng nhân dân, mà chỉ chý ý đến vai trò cá nhân. Sự phát hiện của Mác ra quan niệm duy vật về lịch sử đã khắc phục được các thiếu sót cơ bản đó, và đã chỉ ra những quy luật của sự phát triển xã hội.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Nhờ có chủ nghĩa duy vậy lịch sử do Mác và Ăngghen sáng tạo, việc nghiên cứu lịch sử và đời sống xã hội mới được coi là có tính chất khoa học. Công lao vĩ đại nhất của hai ông là ở chỗ đã mở rộng chủ nghĩa duy vật biện chứng vào việc nhận thức xã hội, và nhờ đó mà thế giới quan duy vật biện chứng lần đầu tiên đã trở thành toàn diện và triệt để. Việc sáng lập chủ nghĩa duy vật lịch sử, một mặt, đã hình thành nên quan điểm duy vật triệt để về thế giới và đời sống xã hội, mặt khác, cho phép phát hiện cơ sở vật chất của đời sống xã hội và những quy luật quyết định sự phát triển của nó. Mác nêu lên tư tưởng cơ bản của mình về quá trình lịch sử - tự nhiên của sự phát triển xã hội sau khi nêu bật lĩnh vực kinh tế trong các lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội, nêu bật những quan hệ sản xuất trong tất cả các quan hệ xã hội, coi đó là những quan hệ cơ bản và quyết định tất cả những quan hệ khác. Do vậy, quá trình phát triển của xã hội mặc dù có tính đặc thù của qua trình lịch sử, mọi cái đều phải thông qua hoạt động của con người, nhưng cái làm nên sự phát triển lịch sử không phải là hoạt động chủ quan, tùy tiện mà là những hoạt động bị chi phối bởi những quy luật khách quan nhất định.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Lấy việc sản xuất ra của cải vật chất làm điểm xuất phát, chủ nghĩa Mác coi những quan hệ mà con người tham gia trong quá trình sản xuất là quan hệ xã hội cơ bản của xã hội. Tuy nhiên, trong mỗi thời kỳ lịch sử không chỉ có một, mà có nhiều kiẻu quan hệ sản xuất cùng tồn tại (quan hệ sản xuất thống trị, tàn dư, mầm mống) và Mác đã nhìn thấy hệ thống những quan hệ sản xuất ấy  là cơ sở hạ tầng hiện thực của một hình thái kinh tế - xã hội nhất định – trên đó được dựng lên một kiến trúc thượng tầng chính trị - pháp luật và những hình thức khác nhau của tư tưởng xã hội. Mỗi hệ thống quan hệ sản xuất nảy sinh trên một trình độ phát triển nhất định của lực lượng sản xuất và phải phục tùng những quy luật chung về sự phát sinh, hoạt động và chuyển lên hình thức cao hơn của các hình thái kinh tế - xã hội, cũng như những quy luật có tính đặc thù, chỉ có ở một trong những hình thái ấy.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Trong khi vạch rõ quá trình lịch sử - xã hội do điều kiện vật chất chi phối, các nhà sáng lập chủ nghĩa duy vật lịch sử đã bác bỏ những lý luận chủ nghĩa duy vật tầm thường phủ nhận vai trò của tư tưởng, của những thiết chế và tổ chức chính trị, v.v…, chủ nghĩa duy vật lịch sử nhấn mạnh ảnh hưởng tích cực trở lại của tư tưởng, của những thiết chế và tổ chức chính trị, v.v. đối với cơ sở hạ tầng đã sản sinh ra chúng và nêu bật vai trò to lớn của nhân tố chủ quan - hành động của con người, của các giai cấp, của các đảng, của tính tự giác và tính tổ chức của quần chúng.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Chủ nghĩa duy vật lịch sử đối lập với cả thuyết định mệnh, lẫn thuyết duy ý chí. Bản thân con người sáng tạo ra lịch sử của mình, nhưng không thể sáng tạo ra lịch sử một cách tuỳ tiện, bởi vì mỗi thế hệ mới hoạt động trong những điều kiện khách quan nhất định đã được tạo ra trước nó. Những điều kiện ấy và những quy luật hoạt động trên cơ sở những điều kiện ấy mở ra những khả năng muôn vẻ cho hoạt động của con người. Việc thực hiện những khả năng ấy, cũng tức là tiến trình thực hiện của lịch sử, lệ thuộc vào con người, vào tính tích cực và tính chủ động của họ, vào tính tổ chức và đoàn kết của các lực lượng tiến bộ.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Chủ nghĩa duy vật lịch sử nghiên cứu xã hội với tính cách là một thể thống nhất, hoàn chỉnh, và vạch ra những quy luật chung và những động lực của sự phát triển xã hội. Các quy luật xã hội cũng tồn tại khách quan, độc lập với ý thức của con người như các quy luật tự nhiên, song những quy luật của xã hội có đặc điểm là thể hiện thông qua hoạt động của con người có ý thức. Cũng như bất cứ môn khoa học nào, để phản ánh một cách đúng đắn đối tượng mà mình nghiên cứu, chủ nghĩa duy vật lịch sử đã xây dựng nên một hệ thống các phạm trù khoa học của mình. Những phạm trù đó phản ánh những mặt cơ bản và những quá trình khác nhau của đời sống xã hội (như các phạm trù: tồn tại xã hội, ý thức xã hội, lực lượng sản xuất, quan hệ sản xuất, cơ sở hạ tầng, kiến trúc thượng tầng, hình thái kinh tế - xã hội, giai cấp và đấu tranh giai cấp, cách mạng xã hội, nhà nước , v.v.). Vì những hiện tượng của đời sống xã hội có liên hệ hữu cơ với nhau trong quá trình lịch sử nên những phạm trù phản ánh chúng cũng phải được xem xét trong mối liên hệ chặt chẽ với nhau. Những phạm trù của chủ nghĩa duy vật lịch sử là công cụ của sự nhận thức khoa học về những quy luật chung nhất và những động lực của sự phát triển xã hội .&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Chủ nghĩa duy vật lịch sử là cơ sở phương pháp luận của các khoa học cụ thể như: sử học, kinh tế học chính trị, chủ nghĩa xã hội khoa học, đạo đức học, mỹ học, v.v… Nó vạch ra những quy luật chung nhất của sự phát triển xã hội, chỉ ra vị trí và vai trò của mỗi mặt của đời sống xã hội trong hệ thống xã hội nói chung, vạch ra những nét cơ bản của các giai đoạn phát triển của xã hội loài người và chính vì vậy mà nó thực hiện vai trò phương pháp luận đối với các môn khoa học xã hội cụ thể. Chủ nghĩa duy vật lịch sử tổng kết thực tiễn lịch sử xã hội loài người, tổng kết những thành tựu của các khoa học xã hội cụ thể, khái quát thành những nguyên lý chung. Ngược lại, sự phát triển của các khoa học cụ thể và thực tiễn lịch sử chứng minh ngày càng rõ hơn tính đúng đắn của chủ nghĩa duy vật lịch sử. Nếu không nắm vững được những nguyên lý của chủ nghĩa duy vật lịch sử thì các nhà khoa học xã hội sẽ không thể nào phát triển được môn khoa học của mình một cách có cơ sở khoa học, đúng đắn và sẽ rơi vào các quan điểm duy tâm, siêu hình trong việc nghiên cứu các hiện tượng xã hội. Chủ nghĩa duy vật lịch sử là cơ sở lý luận và phương pháp luận của đường lối, chính sách của các đảng cộng sản và công nhân. Kinh nghiệm lịch sử chỉ ra rằng chủ nghĩa Mác - Lênin nói chung và chủ nghĩa duy vật lịch sử nói riêng là cơ sở lý luận chung duy nhất đúng đắn để vạch ra chiến lược và sách lược đúng đắn.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Tài liệu tham khảo==&lt;br /&gt;
#Đỗ Minh Hợp, Lê Hữu Tầng (dịch) (1998). Lịch sử phép biện chứng. Nxb Chính trị Quốc gia&lt;br /&gt;
#Từ điển Bách khoa Việt Nam ;&lt;br /&gt;
#Từ điển triết học do M.M. Rodentan chủ biên ; Философский  энциклопедический словарь;&lt;br /&gt;
#C. Mác và Ph. Ăngghen, Toàn tập, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1995.&lt;/div&gt;</summary>
		<author><name>Tttrung</name></author>
	</entry>
	<entry>
		<id>https://bktt.vn/index.php?title=Thi_ng%C3%B4n_ch%C3%AD&amp;diff=20916</id>
		<title>Thi ngôn chí</title>
		<link rel="alternate" type="text/html" href="https://bktt.vn/index.php?title=Thi_ng%C3%B4n_ch%C3%AD&amp;diff=20916"/>
		<updated>2022-10-14T08:08:54Z</updated>

		<summary type="html">&lt;p&gt;Tttrung: &lt;/p&gt;
&lt;hr /&gt;
&lt;div&gt;{{mới}}&lt;br /&gt;
'''Thi ngôn chí''' là một định nghĩa về chức năng, đặc trưng của [[thơ]] ở [[Trung Quốc]] và [[Việt Nam]] thời cổ - trung đại. Quan niệm này xuất hiện sớm ở sách [[Trang tử]] (thiên Thiên hạ), [[Tuân tử]] (thiên Nho hiệu), [[Thượng thư]] (thiên Nghiêu điển) và trong [[Lễ ký]] (thiên Nhạc ký)… Sách Trang tử viết: “thi dĩ đạo chí” (thơ dùng để nói cái chí). Sách Tuân tử cũng định nghĩa: “thi ngôn thị, kỳ chí dã” (Thơ là để bày tỏ cái chí vậy). Sách Tả truyện cũng khẳng định: “thi dĩ ngôn chí” (thơ để bày tỏ cái chí). Sách Thượng thư viết: “Thi ngôn chí, ca vĩnh ngôn, thanh y vĩnh, luật hòa thành” (Thơ để bày tỏ chí hướng/lý tưởng, được hát lên để ngâm vịnh tiếng lòng, thanh điệu nhờ vào ngâm vịnh mà bổng trầm đứt nối, vần luật khiến cho thanh điệu thống nhất hài hòa). Mao Trành, một người đời Hán, trong tựa Mao thi diễn giải: “thi giả, chí chi sở chi dã, tại tâm vi chí, phát ngôn vi thi” (thơ là cái chỗ đi tới của chí. Ở trong lòng là chí, phát ra lời là thơ). Quan niệm “thi ngôn chí” hình thành từ thời Tiên Tần, được giải thích ngắn gọn trong nhiều sách kinh điển nho gia. Chí là nội dung tư tưởng, thậm chí đến đời Hán, chí còn được coi là gốc của thơ. Mệnh đề “thi ngôn chí” đề cao nội dung tư tưởng của thơ, xem việc sáng tác thơ gắn với sự biểu đạt thế giới nội tâm của chủ thể sáng tạo. Theo đó, bài thơ, tập thơ nào cũng thường nói cái chí của người sáng tác (nhà nho).&lt;br /&gt;
==Chí==&lt;br /&gt;
Ở Trung Quốc, Trịnh Huyền khi chú thích Thượng thư khẳng định, &amp;quot;chí&amp;quot; là hoài bão, tình cảm… Ở Việt Nam, công thức “thi ngôn chí” cũng sớm được nhắc đến trong nhiều ý kiến bàn về thơ ca thời cổ - trung đại. Từ thế kỷ XV, trong tựa Việt âm thi tập tân san (thế kỷ XV), Phan Phu Tiên “trong lòng có điều gì, tất hình thành ở lời, cho nên thơ để nói chí vậy”. Nguyễn Trãi trong Thu dạ dữ Hoài Giang nhược thủy đồng phú cũng cho biết thơ dùng để nói lên cái chí của ông. Sang thế kỷ XVI, trong tựa Bạch Vân am thi tập, Nguyễn Bỉnh Khiêm giải thích: “nói tâm là nói về cái chỗ mà chí đạt tới, mà thơ lại là để nói chí. Có kẻ chí để ở đạo đức, có kẻ chí để ở công danh, có kẻ chí để ở sự nhàn dật”, trường hợp sáng tác tập thơ Bạch Vân của Nguyễn Bỉnh Khiêm là một ví dụ về thơ nói chí, và chí để ở sự nhàn dật. Thế kỷ XVII, Phùng Khắc Khoan trong tựa Ngôn chí tập, quan niệm thơ là để ngâm vịnh tính tình, “cảm động mà phát ra chí ý”, chí có khi đặt ở “sự nghiệp, rừng suối gò hang, gió mây trăng tuyết, nỗi uất ức, niềm cảm thương”, chí quy định giọng điệu, ngôn ngữ của thơ “chí mà đặt ở đạo đức tất phát ra lời lẽ hồn hậu, chí mà ở sự nghiệp thì tất nhả ra khí phách hào hùng, chí ở rừng suối gò hang thì thích giọng thơ liêu tịch, chỉ ở gió mây trăng tuyết thì thích vẻ thơ thanh cao, chí ở nỗi uất ức thì làm ra lời thơ ưu tư, chí ở niềm cảm thương thì làm ra điệu thơ ai oán”. Tới thế kỷ XVIII, Nguyễn Cư Trinh trong bài tiểu dẫn thơ Đáp Hiệp trấn Hà Tiên Tống Đức hầu cũng viết: “để trong lòng là chí, ngụ ra ý là thơ”. Lê Hữu Kiều khi viết tựa cho tập thơ Tàng thuyết cũng nhấn mạnh: “thơ để nói chí hướng của mình”, Lê Quý Đôn trong Nói về thể lệ biên soạn tập Toàn Việt thi lục, nêu yêu cầu “thơ nói chí hướng thì phải trang trọng”. Ở thế kỷ XIX Bùi Văn Dị, Phan Huy Ích, Tự Đức, Lê Đình Diên, Miên Trinh… cũng đều chủ trương “thơ để nói chí”. Như vậy có thể hiểu, chí trong “thi ngôn chí” là chí hướng, chí nguyện, lý tưởng, hoài bão, tư tưởng, tình cảm; đạo đức lễ nghĩa; là quan niệm, cách nhìn và thái độ đối với chính trị - xã hội. Chữ chí gắn với phạm trù tâm, tình, đạo… Khái niệm chí vừa có nội dung xã hội vừa có nội dung cá nhân, cá thể. Chí của mỗi người viết cần được xét trong từng hoàn cảnh cụ thể, vì nó được đặt vào những sự việc, sự vật hiện tượng khác nhau, có màu sắc khác nhau.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Về sau, chịu ảnh hưởng của quan niệm duy vật chủ nghĩa, nhiều nhà lý luận văn học hiện đại của Trung Quốc và Việt Nam, giải thích rộng hơn, họ cho rằng, hoài bão, tư tưởng tình cảm... của nhà thơ bắt nguồn từ hiện thực khách quan. Tư tưởng, tình cảm, chí hướng của nhà thơ thay đổi theo thời thế, hoàn cảnh, sự vật, sự việc… thậm chí có thể xem “chí” trong “thi ngôn chí” gắn với hệ tư tưởng, giai cấp, cái chí nào cũng có dấu ấn của giai cấp, không có cái chí ở bên ngoài giai cấp.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Tài liệu tham khảo==&lt;br /&gt;
#Nguyễn Minh Tấn (chủ biên): Từ trong di sản… (Những ý kiến về văn học từ thế kỷ X đến đầu thế kỷ XX ở nước ta), Nxb. Tác phẩm mới, Hội Nhà văn Việt Nam, 1981.&lt;br /&gt;
#Khâu Chấn Thanh (Mai Xuân Hải dịch), Lý luận văn học nghệ thuật cổ điển Trung Quốc, Nxb. Giáo dục, 1994.&lt;br /&gt;
#Trần Đình Hượu, Nho giáo và văn học Việt Nam trung cận đại, Nxb. Văn hóa thông tin, 1995.&lt;br /&gt;
#Trần Đình Sử, Mấy vấn đề thi pháp văn học trung đại Việt Nam, Nxb. Giáo dục, 1999.&lt;br /&gt;
#Phương Lựu, Góp phần xác lập hệ thống quan niệm văn học trung đại Việt Nam, Nxb. Văn hóa thông tin, 2002.&lt;br /&gt;
#Viện Nghiên cứu Hán Nôm, Ngữ văn Hán Nôm (Tập 2: Ngũ kinh), Nxb. Khoa học xã hội, 2002.&lt;br /&gt;
#Nguyễn Thanh Tùng biên soạn, Tuyển tập thi luận Việt Nam thời trung đại (thế kỷ X- XIX), Nxb. Đại học Sư phạm, Hà Nội, 2015.&lt;br /&gt;
#Chung Vinh (Nguyễn Văn Thiệu dịch và chú thích), Thi phẩm, Nxb. Hồng Đức, 2014.&lt;/div&gt;</summary>
		<author><name>Tttrung</name></author>
	</entry>
	<entry>
		<id>https://bktt.vn/index.php?title=%C3%82u_t%C3%A0u&amp;diff=20913</id>
		<title>Âu tàu</title>
		<link rel="alternate" type="text/html" href="https://bktt.vn/index.php?title=%C3%82u_t%C3%A0u&amp;diff=20913"/>
		<updated>2022-10-14T07:59:05Z</updated>

		<summary type="html">&lt;p&gt;Tttrung: /* Âu đường thủy nội địa */&lt;/p&gt;
&lt;hr /&gt;
&lt;div&gt;{{mới}}&lt;br /&gt;
'''Âu tàu''', hay '''âu thuyền''', là khu vực đóng kín hay khoang chứa, xây dựng trên một đoạn kênh (hoặc sông) có cửa van đóng mở tại hai đầu, bên trong mực nước được thay đổi lên xuống để nâng hạ tàu.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Có nhiều loại âu tàu:&lt;br /&gt;
#Âu đường thủy nội địa: Là công trình cố định có thể cô lập một vùng nước bởi các cửa ở 2 đầu, được xây dựng trong kênh hoặc sông. Được sử dụng để giúp các phương tiện giao thông đường thủy di chuyển tại các vùng có độ cao mực nước khác nhau ở khu vực có các công trình thủy điện hay thủy lợi, kênh đào dẫn nước, xưởng sửa chữa tàu thuyền v.v.&lt;br /&gt;
#Âu hàng hải: Được đặt tại ranh giới của biển và một đường thủy nội địa, hoặc tách rời một bể cảng với biển, tránh ảnh hưởng của thủy triều nâng lên hay hạ xuống trong bể cảng. Những âu này thường đặt ở trên các kênh đào nối giữa hai vùng biển có cao độ mặt nước khác nhau.&lt;br /&gt;
#Âu cho mục đích thủy lợi: Được xây trong những vùng giáp ranh nước ngọt và nước mặn, đóng vai trò âu tàu cho tàu thuyền nhỏ qua lại và ngăn xâm nhập mặn vào trong vùng nước ngọt phục vụ dân sinh.&lt;br /&gt;
#Âu cho tàu thuyền tránh trú bão hay thời tiết xấu: Loại âu này tạo ra một vùng nước được che chắn, tạo điều kiện an toàn về sóng và dòng chảy cho tàu thuyền trong điều kiện thời tiết xấu.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Ba loại 1 đến 3 nêu trên thuộc loại âu kín, loại 4 là loại âu hở.&lt;br /&gt;
==Nguyên lý==&lt;br /&gt;
Âu tàu, theo nguyên lý hoạt động chung, là một khoang chứa nước ngăn cách với phần còn lại của kênh với cặp cổng ở hai đầu. Mỗi cổng được đóng kín với một góc khoảng 18° để chống lại áp lực nước trên &amp;quot;thượng nguồn&amp;quot;.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Hoạt động của âu tàu theo chiều di chuyển của tàu được mô tả theo trình tự như trong các hình ảnh dưới đây:&lt;br /&gt;
{|  style=&amp;quot;width:1px;border:1px solid #999;margin-right:auto;margin-left:auto;&amp;quot;&lt;br /&gt;
|+ '''Nguyên lý hoạt động chung của âu kín điển hình'''&lt;br /&gt;
!colspan=&amp;quot;2&amp;quot;|Cho thuyền đi lên thượng nguồn:&lt;br /&gt;
|rowspan=&amp;quot;6&amp;quot;|[[File:Pound lock sequence.svg|280px]]&lt;br /&gt;
!colspan=&amp;quot;2&amp;quot;|Cho thuyền đi xuôi xuống hạ nguồn:&lt;br /&gt;
|-&lt;br /&gt;
|valign=&amp;quot;top&amp;quot; align=&amp;quot;right&amp;quot; nowrap|1–2.&lt;br /&gt;
|valign=&amp;quot;top&amp;quot;|Thuyền đang vào âu.&lt;br /&gt;
|valign=&amp;quot;top&amp;quot; align=&amp;quot;right&amp;quot; nowrap|8–9.&lt;br /&gt;
|valign=&amp;quot;top&amp;quot;|Thuyền đang vào âu.&lt;br /&gt;
|-&lt;br /&gt;
|valign=&amp;quot;top&amp;quot; align=&amp;quot;right&amp;quot; nowrap|3.&lt;br /&gt;
|valign=&amp;quot;top&amp;quot;|Âu được đóng lại khi thuyền đã ở bên trong.&lt;br /&gt;
|valign=&amp;quot;top&amp;quot; align=&amp;quot;right&amp;quot; nowrap|10.&lt;br /&gt;
|valign=&amp;quot;top&amp;quot;|Âu được đóng lại khi thuyền vào bên trong.&lt;br /&gt;
|-&lt;br /&gt;
|valign=&amp;quot;top&amp;quot; align=&amp;quot;right&amp;quot; nowrap|4–5.&lt;br /&gt;
|valign=&amp;quot;top&amp;quot;|Âu được đổ đầy nước bằng mực nước &amp;quot;thượng lưu&amp;quot;.&lt;br /&gt;
|valign=&amp;quot;top&amp;quot; align=&amp;quot;right&amp;quot; nowrap|11–12.&lt;br /&gt;
|valign=&amp;quot;top&amp;quot;|Âu được xả nước bằng mực nước &amp;quot;hạ lưu&amp;quot;.&lt;br /&gt;
|-&lt;br /&gt;
|valign=&amp;quot;top&amp;quot; align=&amp;quot;right&amp;quot; nowrap|6.&lt;br /&gt;
|valign=&amp;quot;top&amp;quot;|Cổng trên được mở ra.&lt;br /&gt;
|valign=&amp;quot;top&amp;quot; align=&amp;quot;right&amp;quot; nowrap|13.&lt;br /&gt;
|valign=&amp;quot;top&amp;quot;|Cổng dưới được mở ra.&lt;br /&gt;
|-&lt;br /&gt;
|valign=&amp;quot;top&amp;quot; align=&amp;quot;right&amp;quot; nowrap|7.&lt;br /&gt;
|valign=&amp;quot;top&amp;quot;|Thuyền ra khỏi âu.&lt;br /&gt;
|valign=&amp;quot;top&amp;quot; align=&amp;quot;right&amp;quot; nowrap|14.&lt;br /&gt;
|valign=&amp;quot;top&amp;quot;|Thuyền ra khỏi âu.&lt;br /&gt;
|}&lt;br /&gt;
[[Hình:Giản đồ cấu tạo âu tàu.svg|thumb|Giản đồ cấu tạo âu tàu kín: (1) đầu âu trên, (2) đầu âu dưới, (3) buồng âu, (4) cửa âu trên, (5) cửa âu dưới, (6) phai dùng khi sửa chữa, (7) cống dẫn nước, (8) tường buồng âu, (9) đáy buồng âu]]&lt;br /&gt;
Âu kín thường có ba bộ phận chính:&lt;br /&gt;
#Khoang nước riêng đủ lớn để chứa được một hoặc nhiều tàu thuyền, kết nối phía trên và dưới của kênh. Vị trí của âu là cố định, nhưng mực nước trong âu có thể thay đổi.&lt;br /&gt;
#Cánh cửa: mỗi cổng có 2 cánh, cổng được mở ra để cho phép thuyền vào hoặc ra, khi đóng phải chặn được sự thông nước.&lt;br /&gt;
#Các van để xả hoặc tháo nước vào khoang theo yêu cầu. Thông thường là một van đơn giản cho phép nước vào hoặc thoát khỏi khoang chứa. Các âu  lớn thường sử dụng máy bơm nước để hỗ trợ.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Âu tàu còn có các bộ phận khác như thể hiện trên hình vẽ bên.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Lịch sử==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Âu kín được sử dụng lần đầu tiên ở Trung Quốc thời  nhà Tống. Qiao Weiyue, một quan chức thuế, để ngăn chặn việc đánh cắp các sà lan ngũ cốc trên sông Tây ở Giang Tô nên năm 984, đã lắp đặt một cặp cửa cống cách nhau khoản gần 80 mét có lợp như một tòa nhà. Bằng cách đó đã tạo ra một đoạn kênh ngắn, hiệu quả như  một âu kín. Các cổng là &amp;quot;cổng treo&amp;quot;; khi đóng lại, nước tích tụ cho đến khi đạt đến mức yêu cầu, và khi cần nó được phép chảy ra. Mực nước có thể chênh lệch 1,2 m hoặc1,5 m ở từng âu và trong Kênh Chính, mực nước được nâng lên theo cách này thêm 42 m.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Ở châu Âu thời trung cổ, một loại âu kín được xây dựng vào năm 1373 tại Vreeswijk, Hà Lan. Âu này phục vụ nhiều tàu cùng một lúc trong một lưu vực lớn. Âu kín thực sự đầu tiên được xây dựng vào năm 1396 tại Bỉ. Công ty Italia Bertola da Novate (khoảng 1410 - 1485) đã xây dựng 18 âu kín trên Naviglio di Bereguardo (một phần của hệ thống kênh đào Milan) trong khoảng thời gian từ 1452 đến 1458.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Những âu tàu nổi tiếng==&lt;br /&gt;
[[Hình:PK At zijde.JPG|nhỏ|250px|Chuỗi các âu tàu kín liên tiếp ở kênh đào Panama, nhìn từ thượng nguồn xuôi về hạ nguồn]]&lt;br /&gt;
Một trong những âu tàu nổi tiếng thế giới là âu tàu ở Panama. Kênh đào Panama được đào xuyên lục địa châu Mỹ tại eo Trung Mỹ. Kể từ khi hoàn thành và mở cửa, mỗi năm kênh đào Panama tiếp đón hơn 14.000 tàu thuyền đi qua, mang theo trên 203 triệu tấn hàng hóa. Cùng với các ngành thương mại ngân hàng, du lịch, kênh này đã đưa Panama trở thành nền kinh tế lớn thứ hai và có tốc độ phát triển nhanh nhất tại Trung Mỹ.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Hệ thống âu nhiều bậc lớn nhất tới năm 2020 thuộc về công trình Thủy điện Đập Tam Hiệp Trung Quốc.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
===Việt Nam===&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
====Hệ thống âu trên sông Máng====&lt;br /&gt;
Sông Máng là một sông nhân tạo tại Việt Nam, được hình thành từ những năm 1920, có chiều dài 52 km. Sông Máng nối với sông Cầu tại Thái Nguyên với sông Thương tại Bắc Giang. Trên sông có hệ thống âu thuyền để đưa thuyền bè từ Bắc Giang và các tỉnh đồng bằng tới Thái Nguyên. Đến những năm kháng chiến chống thực dân Pháp hệ thống các âu này không còn nữa.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
====Âu tránh trú bão====&lt;br /&gt;
[[Hình:West Reef.png|nhỏ|250px|Âu [[đảo Đá Tây A]] ở [[Trường Sa]] nhìn từ trên cao]]&lt;br /&gt;
Tại [[Đà Nẵng]] có âu Thọ Quang chứa được trên 4000 tàu thuyền đánh cá. Tại [[Quần đảo Trường Sa]], tính tới năm 2017, có 4 âu tàu tại các đảo Sinh Tồn,  Trường Sa, Song Tử Tây và Đá Tây cho hàng nghìn tàu cá vào neo đậu, tránh trú trong mùa mưa bão. Âu [[đảo Đá Tây A]] ở Trường Sa rộng 13 ha, chứa được trên 200 tàu thuyền đánh cá.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
====Âu phục vụ thủy lợi====&lt;br /&gt;
Điển hình là âu Tắc Thủ (xã Khánh An huyện U Minh và xã Hồ Thị Kỷ huyện Thới Bình) ở tỉnh [[Cà Mau]].&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
====Âu đường thủy nội địa====&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Hiện nay có nhiều âu thuyền đang khai thác như âu sống Vân Thành phố Ninh Bình; âu Xuân Quang trên hệ thống Bắc Hưng Hải….&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Âu tàu Rạch Chanh – Tp Tân An Long An đưa vào sử dụng 2016, chiều dài 160m; Rộng 19,5 m, sử dụng cho tàu thuyền dưới 1000 tấn, khoang thông thuyền 6,5 × 30 m. Có trung tâm điều khiển hiện đại. Công dụng: rút ngắn 50 km từ Tp. HCM đi các tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long, xả lũ mùa mưa, ngăn mặn mùa khô, điều tiết nước ngọt.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Trong năm 2019 nhiều âu đang được xây dựng ở phía Nam như âu thuyền Ninh Quới được xây dựng trên tuyến kênh Quản lộ Phụng Hiệp và một số âu khác nữa, các âu này sẽ được hoàn thành đầu những năm 2020 để phục vụ cho phát triển kinh tế vùng Đông Nam Bộ.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Tài liệu tham khảo==&lt;br /&gt;
*Phạm Văn Giáp, Nguyễn Thượng Bằng, Lê Thắng Cang. Công trình Âu tàu. NXB Giao thông vận tải, Hà Nội, 2012.&lt;br /&gt;
*AIPCN-PIANC, Final report of the International Commission for the Study of Locks, Brussels, Belgium, 1986.&lt;br /&gt;
*Đề tài TCCS, Tiêu chuẩn Thiết kế Âu tàu, Viện Khoa học công nghệ giao thông vận tải, Bộ Giao thông vận tải, 2018.&lt;/div&gt;</summary>
		<author><name>Tttrung</name></author>
	</entry>
	<entry>
		<id>https://bktt.vn/index.php?title=Th%E1%BB%9Di_%C4%91%E1%BA%A1i_%C4%91%C3%A1_m%E1%BB%9Bi_Vi%E1%BB%87t_Nam&amp;diff=20912</id>
		<title>Thời đại đá mới Việt Nam</title>
		<link rel="alternate" type="text/html" href="https://bktt.vn/index.php?title=Th%E1%BB%9Di_%C4%91%E1%BA%A1i_%C4%91%C3%A1_m%E1%BB%9Bi_Vi%E1%BB%87t_Nam&amp;diff=20912"/>
		<updated>2022-10-14T07:54:49Z</updated>

		<summary type="html">&lt;p&gt;Tttrung: Đổi hướng đến Thời đại đá mới ở Việt Nam&lt;/p&gt;
&lt;hr /&gt;
&lt;div&gt;#đổi [[Thời đại đá mới ở Việt Nam]]&lt;/div&gt;</summary>
		<author><name>Tttrung</name></author>
	</entry>
	<entry>
		<id>https://bktt.vn/index.php?title=Th%E1%BB%9Di_%C4%91%E1%BA%A1i_%C4%91%C3%A1_m%E1%BB%9Bi_t%E1%BA%A1i_Vi%E1%BB%87t_Nam&amp;diff=20911</id>
		<title>Thời đại đá mới tại Việt Nam</title>
		<link rel="alternate" type="text/html" href="https://bktt.vn/index.php?title=Th%E1%BB%9Di_%C4%91%E1%BA%A1i_%C4%91%C3%A1_m%E1%BB%9Bi_t%E1%BA%A1i_Vi%E1%BB%87t_Nam&amp;diff=20911"/>
		<updated>2022-10-14T07:54:31Z</updated>

		<summary type="html">&lt;p&gt;Tttrung: Đổi hướng đến Thời đại đá mới ở Việt Nam&lt;/p&gt;
&lt;hr /&gt;
&lt;div&gt;#đổi [[Thời đại đá mới ở Việt Nam]]&lt;/div&gt;</summary>
		<author><name>Tttrung</name></author>
	</entry>
	<entry>
		<id>https://bktt.vn/index.php?title=Th%E1%BB%9Di_%C4%91%E1%BA%A1i_%C4%91%C3%A1_m%E1%BB%9Bi_%E1%BB%9F_Vi%E1%BB%87t_Nam&amp;diff=20910</id>
		<title>Thời đại đá mới ở Việt Nam</title>
		<link rel="alternate" type="text/html" href="https://bktt.vn/index.php?title=Th%E1%BB%9Di_%C4%91%E1%BA%A1i_%C4%91%C3%A1_m%E1%BB%9Bi_%E1%BB%9F_Vi%E1%BB%87t_Nam&amp;diff=20910"/>
		<updated>2022-10-14T07:53:59Z</updated>

		<summary type="html">&lt;p&gt;Tttrung: &lt;/p&gt;
&lt;hr /&gt;
&lt;div&gt;{{mới}}&lt;br /&gt;
[[File:Neolithic Sites in Vietnam (9980465495).jpg|nhỏ|phải|Bản đồ các di tích Thời đại đá mới ở Việt Nam.]]&lt;br /&gt;
[[Thời đại đá mới]] (''Neolithic'') là thuật ngữ để chỉ một giai đoạn phát triển của nhân loại với sự xuất hiện kỹ thuật mài công cụ đá, đồ gốm hoặc nông nghiệp sơ khai. '''Thời đại đá mới ở Việt Nam''' phát triển qua 3 giai đoạn: sơ, trung và hậu kỳ, mỗi giai đoạn bao hàm một hoặc nhiều văn hoá khảo cổ.&lt;br /&gt;
==Sơ kỳ==&lt;br /&gt;
Sơ kỳ thời đại Đá mới (12.000 đến 7.000 năm) gồm chủ yếu các văn hóa Hòa Bình và văn hóa Bắc Sơn. Có trên 120 địa điểm thuộc văn hóa Hòa Bình, phân bố tập trung trong các hang động đá vôi ở bắc Việt Nam, có niên đại từ 20.000 đến 7.000 năm BP. Công cụ đá nổi bật của người Hòa Bình là rìu ngắn, rìu hạnh nhân, nạo hình đĩa và rìu mài lưỡi. Người Hòa bình lấy săn bắt - hái lượm là hoạt động kiếm sống chủ yếu, nông nghiệp sơ khai có thể ra đời vào giai đoạn muộn. Cư dân văn hóa Hòa Bình có mặt ở Đông Nam Á lục địa, dấu ấn văn hóa kiểu Hòa Bình còn gặp ở Nam Trung Quốc và Đông Nam Á hải đảo. Văn hoá Bắc Sơn hiện biết có trên 50 hang động, phân bố chủ yếu trong sơn khối đá vôi Bắc Sơn, có niên đại từ 11.000 đến 7.000 năm BP. Cư dân văn hóa Bắc Sơn cư trú trong các hang động đá vôi, chế tác và sử dụng phổ biến rìu mài lưỡi và phiến thạch dài có dấu lõm đôi, săn bắt hái lượm là hoạt động chủ đạo, chưa có dấu hiệu trồng trọt và chăn nuôi.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Cư dân sơ kỳ Đá mới Việt Nam thuộc kỹ nghệ cuội ghè, sớm nảy sinh kỹ thuật mài đá, chế tạo đồ gốm và nông nghiệp sơ khai. Là tiền thân của một số văn hoá trung kỳ Đá mới như Đa Bút, Cái Bèo và Quỳnh Văn, cư dân sơ kỳ Đá mới còn đóng góp tạo dựng sắc thái văn hoá Đông Nam Á thống nhất trong đa dạng.&lt;br /&gt;
==Trung kỳ==&lt;br /&gt;
Trung kỳ thời đại Đá mới (7.000 - 4.500 năm) với các văn hóa Cái Bèo, Đa Bút và Quỳnh Văn. Văn hoá Đa Bút có 10 địa điểm, phân bố ở vùng đồng bằng ven biển Ninh Bình và Thanh Hóa, niên đại từ 7.000 đến 4.000 năm BP. Người Đa Bút chế tạo và sử dụng rìu mài toàn thân, đồ gốm văn thừng đập nan to, biết trồng trọt một số loại cây rau, củ, nuôi chó và bò; thu lượm hến cửa sông, phát triển đánh cá ven bờ biển. Văn hoá Quỳnh Văn thuộc loại hình cồn sò điệp, có 21 địa điểm phân bố tập trung ở vịnh cổ Quỳnh Lưu, niên đại 6.000 -3.500 năm BP. Người Quỳnh Văn thu lượm nhuyễn thể biển, chế tác công cụ đá ghè đẽo kém định hình, sáng tạo gốm đáy nhọn giai đoạn sớm và gốm văn chải mặt trong, văn in mặt ngoài vào giai đoạn muộn. Người Quỳnh Văn thiên về khai thác nhuyễn thể biển, đánh cá không phát triển, săn bắt ở vị trí khiêm tốn, nông nghiệp chưa ra đời, là tiền thân của văn hoá Bàu Tró. Văn hoá Cái Bèo cóơn 10 di chỉ, phân bố ở vùng duyên hải Đông Bắc, niên đại 7.000 - 4.000 năm BP, tiêu biểu là rìu tứ giác, rìu có vai mài toàn thân; đồ gốm đáy bằng, văn in dấu đan. Người Cái Bèo định cư ven bờ biển, sử dụng lưới vó, đánh bắt cá xa bờ và gần bờ, gia công thực phẩm tại nơi cư trú và là nguồn tạo dựng văn hoá Hạ Long.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Cư dân trung kỳ Đá mới Việt Nam là những người tiên phong khai phá đồng bằng ven biển, làm nảy sinh các trung tâm sản xuất đồ gốm sớm, hình thành các định hướng kinh tế khai thác cho các vùng khác nhau, là tiền thân trực tiếp của các văn hóa biển tiền sử Hạ Long và Bàu Tró.&lt;br /&gt;
==Hậu kỳ==&lt;br /&gt;
Hậu kỳ thời đại Đá mới (4.500 - 3.000 năm) gồm một số các văn hóa khảo cổ, phân bố ở mọi địa hình đất nước. Ở vùng núi phái bắc là văn hóa Mai Pha (Lạng Sơn) và Hà Giang (Hà Giang, Tuyên Quang); vùng ven biển và hải đảo là văn hóa Hạ Long và văn hóa Bàu Tró; vùng cao nguyên đất đỏ Tây Nguyên là các văn hóa Lung Leng (Kon Tum), Biển Hồ (Gia Lai) và Buôn Triết (Đắk Lắk - Đắk Nông). Cùng bình tuyến với các văn hóa kể trên, có một số nhóm cư dân hậu kỳ Đá mới phân bố ở vùng núi phía bắc, vùng núi Bắc Trung Bộ, vùng cao nguyên.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Các cộng đồng cư dân hậu kỳ Đá mới Việt Nam phát triển theo hướng hội tụ vào một trong hai nền văn hoá thời đại kim khí sau này. Các văn hoá: Hà Giang, Mai Pha và Hạ Long thông qua nhóm di tích Tiền Đông Sơn ở Bắc Việt Nam để tiến tới văn hóa Đông Sơn, văn minh Việt cổ; còn các văn hoá Bàu Tró, Lung Leng, Biển Hồ và Buôn Triết cùng các di tích duyên hải Trung Bộ thông qua nhóm di tích Tiền Sa Huỳnh tiến tới Sa Huỳnh.&lt;br /&gt;
==Ý nghĩa==&lt;br /&gt;
Diễn trình lịch sử thời đại Đá mới Việt Nam mang tính quy luật rõ nét. Đó là sự lan toả chiếm cư ngày một nhiều các kiểu địa hình, nhưng mỗi văn hóa lại thu hẹp dần diện phân bố và ngắn dần khung thời gian tồn tại; mức độ phát triển không đều ngày một gia tăng. Săn bắt - hái lượm theo phổ rộng, hái lượm luôn trội hơn săn bắt, khi chuyển sang nông nghiệp là nông nghiệp đa canh, trồng trọt trội hơn chăn nuôi. Thời đại Đá mới Việt Nam có một vị trí bản lề trong quá trình hình thành và phát triển văn hóa, văn minh Việt Nam.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Tài liệu tham khảo==&lt;br /&gt;
#Hà Văn Tấn (chủ biên) (1999), Khảo cổ học Việt Nam, tập I, Thời đại Đá vIệt Nam, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội.&lt;br /&gt;
#Nguyen Khac Su (2004), The Neolithic Cultures of Vietnam, in Southeast Asia from prehistory to history. Edited by Iam Glover and Peter Bellwood, London and New York, pp. 177 - 188.&lt;/div&gt;</summary>
		<author><name>Tttrung</name></author>
	</entry>
	<entry>
		<id>https://bktt.vn/index.php?title=Th%E1%BB%9Di_%C4%91%E1%BA%A1i_%C4%91%C3%A1_m%E1%BB%9Bi_%E1%BB%9F_Vi%E1%BB%87t_Nam&amp;diff=20909</id>
		<title>Thời đại đá mới ở Việt Nam</title>
		<link rel="alternate" type="text/html" href="https://bktt.vn/index.php?title=Th%E1%BB%9Di_%C4%91%E1%BA%A1i_%C4%91%C3%A1_m%E1%BB%9Bi_%E1%BB%9F_Vi%E1%BB%87t_Nam&amp;diff=20909"/>
		<updated>2022-10-14T07:53:34Z</updated>

		<summary type="html">&lt;p&gt;Tttrung: &lt;/p&gt;
&lt;hr /&gt;
&lt;div&gt;{{mới}}&lt;br /&gt;
[[File:Neolithic Sites in Vietnam (9980465495).jpg|nhỏ|phải|Bản đồ các di tích Thời đại đá mới ở Việt Nam.]]&lt;br /&gt;
Thời đại đá mới (Neolithic) là thuật ngữ để chỉ một giai đoạn phát triển của nhân loại với sự xuất hiện kỹ thuật mài công cụ đá, đồ gốm hoặc nông nghiệp sơ khai. '''Thời đại đá mới ở Việt Nam''' phát triển qua 3 giai đoạn: sơ, trung và hậu kỳ, mỗi giai đoạn bao hàm một hoặc nhiều văn hoá khảo cổ.&lt;br /&gt;
==Sơ kỳ==&lt;br /&gt;
Sơ kỳ thời đại Đá mới (12.000 đến 7.000 năm) gồm chủ yếu các văn hóa Hòa Bình và văn hóa Bắc Sơn. Có trên 120 địa điểm thuộc văn hóa Hòa Bình, phân bố tập trung trong các hang động đá vôi ở bắc Việt Nam, có niên đại từ 20.000 đến 7.000 năm BP. Công cụ đá nổi bật của người Hòa Bình là rìu ngắn, rìu hạnh nhân, nạo hình đĩa và rìu mài lưỡi. Người Hòa bình lấy săn bắt - hái lượm là hoạt động kiếm sống chủ yếu, nông nghiệp sơ khai có thể ra đời vào giai đoạn muộn. Cư dân văn hóa Hòa Bình có mặt ở Đông Nam Á lục địa, dấu ấn văn hóa kiểu Hòa Bình còn gặp ở Nam Trung Quốc và Đông Nam Á hải đảo. Văn hoá Bắc Sơn hiện biết có trên 50 hang động, phân bố chủ yếu trong sơn khối đá vôi Bắc Sơn, có niên đại từ 11.000 đến 7.000 năm BP. Cư dân văn hóa Bắc Sơn cư trú trong các hang động đá vôi, chế tác và sử dụng phổ biến rìu mài lưỡi và phiến thạch dài có dấu lõm đôi, săn bắt hái lượm là hoạt động chủ đạo, chưa có dấu hiệu trồng trọt và chăn nuôi.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Cư dân sơ kỳ Đá mới Việt Nam thuộc kỹ nghệ cuội ghè, sớm nảy sinh kỹ thuật mài đá, chế tạo đồ gốm và nông nghiệp sơ khai. Là tiền thân của một số văn hoá trung kỳ Đá mới như Đa Bút, Cái Bèo và Quỳnh Văn, cư dân sơ kỳ Đá mới còn đóng góp tạo dựng sắc thái văn hoá Đông Nam Á thống nhất trong đa dạng.&lt;br /&gt;
==Trung kỳ==&lt;br /&gt;
Trung kỳ thời đại Đá mới (7.000 - 4.500 năm) với các văn hóa Cái Bèo, Đa Bút và Quỳnh Văn. Văn hoá Đa Bút có 10 địa điểm, phân bố ở vùng đồng bằng ven biển Ninh Bình và Thanh Hóa, niên đại từ 7.000 đến 4.000 năm BP. Người Đa Bút chế tạo và sử dụng rìu mài toàn thân, đồ gốm văn thừng đập nan to, biết trồng trọt một số loại cây rau, củ, nuôi chó và bò; thu lượm hến cửa sông, phát triển đánh cá ven bờ biển. Văn hoá Quỳnh Văn thuộc loại hình cồn sò điệp, có 21 địa điểm phân bố tập trung ở vịnh cổ Quỳnh Lưu, niên đại 6.000 -3.500 năm BP. Người Quỳnh Văn thu lượm nhuyễn thể biển, chế tác công cụ đá ghè đẽo kém định hình, sáng tạo gốm đáy nhọn giai đoạn sớm và gốm văn chải mặt trong, văn in mặt ngoài vào giai đoạn muộn. Người Quỳnh Văn thiên về khai thác nhuyễn thể biển, đánh cá không phát triển, săn bắt ở vị trí khiêm tốn, nông nghiệp chưa ra đời, là tiền thân của văn hoá Bàu Tró. Văn hoá Cái Bèo cóơn 10 di chỉ, phân bố ở vùng duyên hải Đông Bắc, niên đại 7.000 - 4.000 năm BP, tiêu biểu là rìu tứ giác, rìu có vai mài toàn thân; đồ gốm đáy bằng, văn in dấu đan. Người Cái Bèo định cư ven bờ biển, sử dụng lưới vó, đánh bắt cá xa bờ và gần bờ, gia công thực phẩm tại nơi cư trú và là nguồn tạo dựng văn hoá Hạ Long.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Cư dân trung kỳ Đá mới Việt Nam là những người tiên phong khai phá đồng bằng ven biển, làm nảy sinh các trung tâm sản xuất đồ gốm sớm, hình thành các định hướng kinh tế khai thác cho các vùng khác nhau, là tiền thân trực tiếp của các văn hóa biển tiền sử Hạ Long và Bàu Tró.&lt;br /&gt;
==Hậu kỳ==&lt;br /&gt;
Hậu kỳ thời đại Đá mới (4.500 - 3.000 năm) gồm một số các văn hóa khảo cổ, phân bố ở mọi địa hình đất nước. Ở vùng núi phái bắc là văn hóa Mai Pha (Lạng Sơn) và Hà Giang (Hà Giang, Tuyên Quang); vùng ven biển và hải đảo là văn hóa Hạ Long và văn hóa Bàu Tró; vùng cao nguyên đất đỏ Tây Nguyên là các văn hóa Lung Leng (Kon Tum), Biển Hồ (Gia Lai) và Buôn Triết (Đắk Lắk - Đắk Nông). Cùng bình tuyến với các văn hóa kể trên, có một số nhóm cư dân hậu kỳ Đá mới phân bố ở vùng núi phía bắc, vùng núi Bắc Trung Bộ, vùng cao nguyên.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Các cộng đồng cư dân hậu kỳ Đá mới Việt Nam phát triển theo hướng hội tụ vào một trong hai nền văn hoá thời đại kim khí sau này. Các văn hoá: Hà Giang, Mai Pha và Hạ Long thông qua nhóm di tích Tiền Đông Sơn ở Bắc Việt Nam để tiến tới văn hóa Đông Sơn, văn minh Việt cổ; còn các văn hoá Bàu Tró, Lung Leng, Biển Hồ và Buôn Triết cùng các di tích duyên hải Trung Bộ thông qua nhóm di tích Tiền Sa Huỳnh tiến tới Sa Huỳnh.&lt;br /&gt;
==Ý nghĩa==&lt;br /&gt;
Diễn trình lịch sử thời đại Đá mới Việt Nam mang tính quy luật rõ nét. Đó là sự lan toả chiếm cư ngày một nhiều các kiểu địa hình, nhưng mỗi văn hóa lại thu hẹp dần diện phân bố và ngắn dần khung thời gian tồn tại; mức độ phát triển không đều ngày một gia tăng. Săn bắt - hái lượm theo phổ rộng, hái lượm luôn trội hơn săn bắt, khi chuyển sang nông nghiệp là nông nghiệp đa canh, trồng trọt trội hơn chăn nuôi. Thời đại Đá mới Việt Nam có một vị trí bản lề trong quá trình hình thành và phát triển văn hóa, văn minh Việt Nam.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Tài liệu tham khảo==&lt;br /&gt;
#Hà Văn Tấn (chủ biên) (1999), Khảo cổ học Việt Nam, tập I, Thời đại Đá vIệt Nam, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội.&lt;br /&gt;
#Nguyen Khac Su (2004), The Neolithic Cultures of Vietnam, in Southeast Asia from prehistory to history. Edited by Iam Glover and Peter Bellwood, London and New York, pp. 177 - 188.&lt;/div&gt;</summary>
		<author><name>Tttrung</name></author>
	</entry>
	<entry>
		<id>https://bktt.vn/index.php?title=Ng%C3%B4_gia_v%C4%83n_ph%C3%A1i&amp;diff=20906</id>
		<title>Ngô gia văn phái</title>
		<link rel="alternate" type="text/html" href="https://bktt.vn/index.php?title=Ng%C3%B4_gia_v%C4%83n_ph%C3%A1i&amp;diff=20906"/>
		<updated>2022-10-14T07:32:04Z</updated>

		<summary type="html">&lt;p&gt;Tttrung: &lt;/p&gt;
&lt;hr /&gt;
&lt;div&gt;{{mới}}&lt;br /&gt;
'''Ngô gia văn phái''' là tên gọi một dòng văn gồm các tác giả của dòng họ Ngô Thì (Ngô gia) ở nửa cuối thế kỷ XVIII - hết thế kỷ XIX, tại làng Tả Thanh Oai (làng Tó), huyện Thanh Oai, trấn Sơn Nam (nay là huyện Thanh Trì, [[Hà Nội]]).&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Danh xưng Ngô gia văn phái xuất hiện gắn với tên tuổi của Ngô Thì Trí (1766 - 1822) và Ngô Thì Điển (? - ?) khi hai người bàn bạc, quyết định thành lập một bộ tùng thư lấy tên là Ngô gia văn phái. Bộ sách do Ngô Thì Điển (con cả của Ngô Thì Nhậm, cháu gọi Ngô Thì Trí là chú) biên tập. Sau đó các tác giả trong dòng họ Ngô Thì tiếp nối nhau biên soạn nên bản thảo bộ sách Ngô gia văn phái hiện còn lên tới trên 30 tập, với số lượng lớn tác phẩm của 15 tác giả dòng họ Ngô Thì.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Do Ngô gia văn phái vốn là tên một bộ tùng thư nên có nhà nghiên cứu cho rằng, Ngô gia văn phái không phải là một nhóm phái văn học mà là “tên sách”, nghĩa đen là “dòng phái văn học nhà họ Ngô”. Tên sách được đặt như vậy có lẽ chủ yếu là muốn nhấn mạnh ở niềm tự hào ở truyền thống văn học của họ mình (…). Như vậy, khi nói “văn phái” tức cũng như nói dòng nhà văn học, nếp nhà văn học, truyền thống văn học của nhà, của họ. “Văn phái” ở đây rõ ràng không có nghĩa là một trường phái văn học” (Tảo Trang). Ngô gia văn phái là “một sưu tập nhằm nêu cao truyền thống văn hóa, văn học của họ Ngô Thì, chứ không có tính chất một hợp tuyển hay một tổng tập của những tác giả cùng một trường phái, một khuynh hướng tư tưởng và sáng tác” (Nguyễn Lộc).&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Tuy nhiên, cái tên Ngô gia văn phái đi vào lịch sử văn học Việt Nam không chỉ là tên gọi một bộ tùng thư đồ sộ mà còn để chỉ một “dòng văn” nổi tiếng. Mặc dù không có những diễn ngôn mang tính chính luận, phát biểu một cách trực tiếp quan điểm, tư tưởng mang tính chất cương lĩnh, nhưng Ngô gia văn phái vẫn là một “dòng văn”, phần nào với tư cách là một nhóm phái văn học. Bởi lẽ, tuy là sự tập hợp các tác giả không có tuyên ngôn chung, cương lĩnh chung, nhưng giữa các tác giả của dòng họ Ngô Thì vẫn có sự gần gũi trực tiếp về tư tưởng và nghệ thuật thể hiện qua những sáng tác của họ. Vả chăng cũng không nên nhìn các “dòng văn”, các nhóm phái trong văn học trung đại với những tiêu chí quá chặt chẽ của lý luận văn học hiện đại được áp dụng đối với các trường phái, nhóm phái của văn học hiện đại. Trước Ngô gia văn phái, trong văn học Việt Nam đã xuất hiện các nhóm phái văn học như Hội Tao Đàn của Lê Thánh Tông nửa cuối thế kỷ XV, Bạch Vân Am của Nguyễn Bỉnh Khiêm thế kỷ XVI, Chiêu Anh Các của Mạc Thiên Tích nửa đầu thế kỷ XVIII. Cùng thời với Ngô gia văn phái có dòng văn Nguyễn Tiên Điền (dòng họ Nguyễn Du), dòng văn Nguyễn Trường Lưu (dòng họ Nguyễn Huy Tự) ở Hà Tĩnh.&lt;br /&gt;
==Các tác giả==&lt;br /&gt;
Ngô gia văn phái là dòng văn của một dòng họ. Dòng họ Ngô Thì là một dòng họ lớn với hai truyền thống lớn: khoa hoạn và văn học. Truyền thống này được những người trong dòng họ đời nối đời phát huy, đến Ngô Thì Sĩ thì truyền thống của dòng họ Ngô Thì càng thêm rạng rỡ.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Ngô gia văn phái là một dòng văn với số tác giả nhiều, lượng tác phẩm lớn, phong phú về thể loại, đa dạng về nội dung và nghệ thuật trong sáng tác.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Tác giả của Ngô gia văn phái lên tới 15 người: mở đầu là Ngô Thì Ức (1709 - 1736), tiếp đến là Ngô Thì Sĩ (1726 - 1780), Ngô Thì Đạo (1732 - 1802), Ngô Thì Nhậm (1746 - 1803), Ngô Thì Chí (1753 - 1788), Ngô Thì Trí (1766 - 1822), Ngô Thì Hoàng (1768 - 1814), Ngô Thì Du (1772 - 1840), Ngô Thì Hương (1774 - 1821), Ngô Thì Điển (? - ?), Ngô Thì Hiệu (1792 - 1830), Ngô Thì Thiến (? - ?), Ngô Thì Lữ (? - ?), Ngô Thì Giai (1818 - 1881), kết thúc với Ngô Giáp Đậu (1853 - 1929).&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Các tác giả tiêu biểu của Ngô gia văn phái là Ngô Thì Ức, Ngô Thì Sĩ, Ngô Thì Nhậm, Ngô Thì Chí, Ngô Thì Trí, Ngô Thì Du, Ngô Thì Hương.&lt;br /&gt;
==Các tác phẩm, nội dung và ảnh hưởng==&lt;br /&gt;
Số lượng tác phẩm của dòng văn Ngô Thì rất lớn. Nhiều tác giả có thi tập. Có người vừa viết văn, vừa sáng tác thơ, như Ngô Thì Sĩ, bên cạnh các thi tập Anh ngôn thi tập (Tập thơ chim vẹt học nói), Quan lan thi tập (Tập thơ xem sóng), Nhị Thanh động tập (Tập thơ làm ở động Nhi Thanh), ông còn có Khuê ai lục (Ghi nỗi đau buồn về chuyện phòng khuê) gồm thơ, văn tế, tiểu truyện văn xuôi. Ngô Thì Nhậm là cây đại bút về văn chính luận vẫn có những thi tập: Yên đài thu vịnh (Vịnh cảnh thu nơi Yên đài), Cúc hoa bách vịnh (Trăm vần thơ vịnh hoa cúc). Ngô Thì Chí vừa có Học Phi thi tập (Tập thơ của Học Phi), vừa có Học Phi văn tập (Tập văn của Học Phi), Ngô Thì Du có Trưng Phủ công thi văn (Thơ văn của Trưng Phủ) gồm cả văn và thơ.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Dòng văn Ngô Thì rất phong phú về thể loại với đầy đủ cả văn học chức năng và văn học nghệ thuật, chính luận và trữ tình, văn xuôi và thơ, văn khảo cứu và văn chương hình tượng… Đặc biệt, làm rạng danh dòng họ Ngô Thì chính là thể loại tiểu thuyết chương hồi với những tác phẩm nổi tiếng như Hoàng Lê nhất thống chí, Hoàng Việt long hưng chí. Trong số những cuốn tiểu thuyết chương hồi viết về lịch sử thì Hoàng Lê nhất thống chí là tác phẩm đồ sộ nhất, là đỉnh cao nhất của thể loại tiểu thuyết chương hồi ở Việt Nam.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Sáng tác của dòng văn Ngô Thì rất phong phú, đa dạng về nội dung. Có điều này là bởi dòng văn tập hợp tác phẩm của nhiều người, trải dài qua ba triều đại: Lê - Trịnh, Tây Sơn, triều Nguyễn. Các tác giả lại không thuần nhất về tư tưởng. Ngay trong một gia đình, có người là thần tử trung thành của vua Lê - chúa Trịnh như Ngô Thì Sĩ, nhưng các con ông, có người phò Lê chống Tây Sơn như Ngô Thì Chí, có người đi theo Tây Sơn, trở thành phò tá đắc lực của Quang Trung-Nguyễn Huệ như Ngô Thì Nhậm. Tuy nhiên dòng văn Ngô Thì vẫn có những nét thống nhất, nổi bật lên thành “phong cách” của văn phái: cảm quan và bút pháp tôn trọng sự thật lịch sử, sự thật khách quan, dù đó là sử bút hay văn bút, dù viết về những vấn đề lớn của đất nước, dân tộc, thời đại hay viết về cá nhân, dù trong cảm hứng yêu nước hay cảm hứng nhân văn, dù trong cảm hứng ngợi ca hay cảm hứng phê phán.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Trong những hội văn, dòng văn, nhóm phái của văn học Việt Nam thời trung đại thì Ngô gia văn phái là dòng văn lớn nhất, có nhiều đóng góp to lớn đối với sự phát triển của văn học dân tộc.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Tài liệu tham khảo==&lt;br /&gt;
#Tảo Trang, Bước đầu tìm hiểu một số nhà văn trong Ngô gia văn phái, Tạp chí Văn học, Số 5 - 1973.&lt;br /&gt;
#Đỗ Đức Hiểu, Nguyễn Huệ Chi, Phùng Văn Tửu, Trần Hữu Tá đồng chủ biên, Từ điển văn học, (Bộ mới), Nxb. Thế giới, 2004.&lt;br /&gt;
#Nguyễn Lộc, Văn học Việt Nam (nửa cuối thế kỷ XVIII - hết thế kỷ XIX) (tái bản lần thứ năm), Nxb. Giáo dục, 2004.&lt;br /&gt;
#Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi đồng chủ biên, Từ điển thuật ngữ văn học, Nxb. Giáo dục, 2004.&lt;br /&gt;
#Trần Thị Băng Thanh (chủ biên), Tuyển tập Ngô gia văn phái, Nxb. Hà Nội, 2010.&lt;br /&gt;
#Lã Nhâm Thìn, Vũ Thanh đồng chủ biên, Giáo trình văn học trung đại Việt Nam, Tập 2, Nxb. Giáo dục Việt Nam, 2015.&lt;/div&gt;</summary>
		<author><name>Tttrung</name></author>
	</entry>
	<entry>
		<id>https://bktt.vn/index.php?title=Ch%E1%BB%89_s%E1%BB%91_h%E1%BA%A1n_th%E1%BB%A7y_v%C4%83n&amp;diff=20905</id>
		<title>Chỉ số hạn thủy văn</title>
		<link rel="alternate" type="text/html" href="https://bktt.vn/index.php?title=Ch%E1%BB%89_s%E1%BB%91_h%E1%BA%A1n_th%E1%BB%A7y_v%C4%83n&amp;diff=20905"/>
		<updated>2022-10-14T07:27:01Z</updated>

		<summary type="html">&lt;p&gt;Tttrung: &lt;/p&gt;
&lt;hr /&gt;
&lt;div&gt;{{mới}}&lt;br /&gt;
'''Chỉ số hạn thủy văn''' là lượng mưa thiếu hụt trong một thời gian dài ảnh hưởng đến việc cung cấp nước bề mặt hoặc dưới đất, làm giảm mực nước sông, suối, nước ngầm, nước hồ ao và sẽ dẫn đến [[hạn thủy văn]]. Để định lượng các sự kiện hạn thủy văn, thường sử dụng các chỉ số hạn thủy văn.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Chỉ số hạn thủy văn đặc trưng bằng các hàm của lượng nước, lượng mưa và các biến khí tượng thủy văn khác, chúng được dùng để lượng hóa số trị cho thấy lượng nước đã thay đổi như thế nào trong một vài thời kỳ thủy văn. Chỉ số này thường đặc trưng cho trạng thái chung của hạn thủy văn tại điểm đo được.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Các chỉ số hạn được phân thành 2 nhóm, bao gồm các chỉ số tổng quát và các chỉ số chi tiết:&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
* Các chỉ số hạn tổng quát cho thấy tổng quan chung về sự xuất hiện của hạn hán và mức độ khắc nghiệt của chúng;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
* Các chỉ số chi tiết rất hữu ích trong việc kết nối các đợt hạn với những thiệt hại được dự kiến từ các ngành kinh tế khác nhau, môi trường và xã hội.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Một phương diện quan trọng khác, khi sử dụng các chỉ số hạn là các ngưỡng của chỉ số thể hiện mức độ khắc nghiệt của hạn hán. Các ngưỡng này cần thiết để chỉ rõ  những thiệt hại dự kiến tương ứng với từng mức độ khắc nghiệt.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Các chỉ số hạn ước lượng các điều kiện hạn trong những thời điểm đặc biệt. Tuy nhiên, cần xác định một giá trị ngưỡng của hạn hán cho từng loại hạn theo chỉ số hạn. Ngưỡng này làm nổi bật một cấp hạn khác và xác định khi nào cần bắt đầu và kết thúc các hoạt động ứng phó với hạn hán.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Các chỉ số hạn thuỷ văn hiện nay khá nhiêu, dưới đây sẽ đề cập đến những chỉ số thường được dùng hiện nay.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Chỉ số hạn==&lt;br /&gt;
Chỉ số hạn được tính từ 2 hệ số khô và hệ số cạn:&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
* Hệ số khô K&amp;lt;sub&amp;gt;kh&amp;lt;/sub&amp;gt;= (1 - R/E)&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
* Hệ số cạn KC = (1 - Q&amp;lt;sub&amp;gt;i&amp;lt;/sub&amp;gt;/Q&amp;lt;sub&amp;gt;j&amp;lt;/sub&amp;gt;)/(Q&amp;lt;sub&amp;gt;j&amp;lt;/sub&amp;gt;/Q&amp;lt;sub&amp;gt;o&amp;lt;/sub&amp;gt;).&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Trong đó: R: lượng mưa (mm); E: lượng bốc hơi khả năng (mm), Q&amp;lt;sub&amp;gt;i&amp;lt;/sub&amp;gt;: lưu lượng thời đoạn i của năm j (m&amp;lt;sup&amp;gt;3&amp;lt;/sup&amp;gt;/s); Q&amp;lt;sub&amp;gt;j&amp;lt;/sub&amp;gt;: lưu lượng năm j; Q&amp;lt;sub&amp;gt;o&amp;lt;/sub&amp;gt;: lưu lượng trung bình nhiều năm (m&amp;lt;sup&amp;gt;3&amp;lt;/sup&amp;gt;/s).&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Chỉ số hạn (Kh) được tính theo công thức sau:&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
{{NumBlk|:|&amp;lt;math&amp;gt;K_h = \sqrt{K_{kh}.K_c} \,&amp;lt;/math&amp;gt;|{{EquationRef|1}}}}&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Theo chỉ số K&amp;lt;sub&amp;gt;h&amp;lt;/sub&amp;gt;, hạn thủy văn được phân thành 3 cấp:&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Hạn nhẹ: K&amp;lt;sub&amp;gt;h&amp;lt;/sub&amp;gt; &amp;lt; 0,6; hạn vừa: 0,6 ≤ K&amp;lt;sub&amp;gt;h&amp;lt;/sub&amp;gt; ≤ 1 và hạn nặng: K&amp;lt;sub&amp;gt;h&amp;lt;/sub&amp;gt; &amp;gt; 1.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Chỉ số thiếu hụt dòng chảy==&lt;br /&gt;
Chỉ số thiếu hụt dòng chảy (K&amp;lt;sub&amp;gt;th&amp;lt;/sub&amp;gt;) được tính như sau:&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
{{NumBlk|:|&amp;lt;math&amp;gt;K_{th} = V_{th} / Q_{ng}.T \,&amp;lt;/math&amp;gt;|{{EquationRef|2}}}}&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Hay &amp;lt;math&amp;gt;K_{th} = Q_{th} / Q_{ng} \,&amp;lt;/math&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Trong đó: &amp;lt;math&amp;gt;V_{th} = (Q_{ng} - Q_{tn})&amp;lt;/math&amp;gt;. T là lượng dòng chảy thiếu hụt (m&amp;lt;sup&amp;gt;3&amp;lt;/sup&amp;gt;), Q&amp;lt;sub&amp;gt;ng&amp;lt;/sub&amp;gt; - lưu lượng ngưỡng dòng chảy (m&amp;lt;sup&amp;gt;3&amp;lt;/sup&amp;gt;/s), Q&amp;lt;sub&amp;gt;tn&amp;lt;/sub&amp;gt; - lưu lượng của dòng chảy tự nhiên (m&amp;lt;sup&amp;gt;3&amp;lt;/sup&amp;gt;/s) và T là thời đoạn thiếu hụt dòng chảy: T = t&amp;lt;sub&amp;gt;1&amp;lt;/sub&amp;gt;  - t&amp;lt;sub&amp;gt;2&amp;lt;/sub&amp;gt;, với t&amp;lt;sub&amp;gt;1&amp;lt;/sub&amp;gt; và t&amp;lt;sub&amp;gt;2&amp;lt;/sub&amp;gt; là thời gian bắt đầu và kết thúc thời kỳ thiếu hụt dòng chảy.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Phân cấp hạn theo chỉ số K&amp;lt;sub&amp;gt;th&amp;lt;/sub&amp;gt; được qui định trong bảng 1.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
{| class=&amp;quot;wikitable&amp;quot;&lt;br /&gt;
|+ Bảng 1. Phân cấp hạn thuỷ văn theo chỉ số thiếu hụt dòng chảy&lt;br /&gt;
|-&lt;br /&gt;
! Phân cấp hạn thuỷ văn !! Khoảng giá trị thiếu hụt dòng chảy K&amp;lt;sub&amp;gt;th&amp;lt;/sub&amp;gt;&lt;br /&gt;
|-&lt;br /&gt;
| Bình thường || &amp;lt; 10,1&lt;br /&gt;
|-&lt;br /&gt;
| Hạn nhẹ || 10,1 ÷ 20,0&lt;br /&gt;
|-&lt;br /&gt;
| Hạn vừa || 20,1 ÷ 30,0&lt;br /&gt;
|-&lt;br /&gt;
| Hạn nặng || 30,1 ÷ 40,0&lt;br /&gt;
|-&lt;br /&gt;
| Hạn rất nặng || &amp;gt; 40,0&lt;br /&gt;
|}&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Chỉ số hạn thủy văn Palmer (PHDI)==&lt;br /&gt;
Chỉ số hạn thủy văn Palmer (PHDI) được phát triển từ chỉ số hạn Palmer (1965). Dựa trên chỉ số hạn Palmer (PDSI) ban đầu và được sửa đổi để tính đến độ khô hạn kéo dài sẽ ảnh hưởng đến việc trữ nước, dòng chảy và nước ngầm. PHDI có khả năng xác định thời điểm hạn hán sẽ kết thúc bằng cách sử dụng lượng mưa, tỷ lệ độ ẩm nhận được với độ ẩm cần thiết. PHDI phân ra 4 cấp hạn hán như trong bảng 2:&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
{| class=&amp;quot;wikitable&amp;quot;&lt;br /&gt;
|+ Bảng 2. Phân cấp hạn thuỷ văn theo chỉ số PHDI&lt;br /&gt;
|-&lt;br /&gt;
! Phân cấp hạn thuỷ văn !! Khoảng giá trị PHDI (%)&lt;br /&gt;
|-&lt;br /&gt;
| Bình thường || 28-50&lt;br /&gt;
|-&lt;br /&gt;
| Hạn nhẹ đến trung bình || 11 ÷ 27&lt;br /&gt;
|-&lt;br /&gt;
| Hạn nghiêm trọng || 5 ÷ 10&lt;br /&gt;
|-&lt;br /&gt;
| Hạn cực đoan || ≤ 4&lt;br /&gt;
|}	&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Do cách tiếp cận cân bằng nước, chỉ số PHDI có ưu điểm là cho phép xem xét toàn bộ hệ thống nước và sử dụng hiệu quả khi tính ảnh hưởng hạn hán đến tài nguyên nước trong thời gian dài. Nhưng cũng như PDSI, nó chưa tính đến tác động của con người, như quyết định quản lý và tưới tiêu.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Chỉ số cung cấp nước bề mặt (SWSI)==&lt;br /&gt;
Chỉ số SWSI được tính theo công thức sau:&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
{{NumBlk|:|&amp;lt;math&amp;gt; SWSI = \frac{aP_{snow} + bP_{rain} + cP_{strm} + dP_{resv} - 50}{12} &amp;lt;/math&amp;gt;|{{EquationRef|3}}}}&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Trong đó: a, b, c, d là các trọng số đối với các thành phần tuyết, mưa, dòng chảy mặt và dung tích hố chứa trong cân bằng nước lưu vực (a+b+c+d=1); P&amp;lt;sub&amp;gt;snow&amp;lt;/sub&amp;gt;, P&amp;lt;sub&amp;gt;rain&amp;lt;/sub&amp;gt;, P&amp;lt;sub&amp;gt;strm&amp;lt;/sub&amp;gt; và P&amp;lt;sub&amp;gt;resv&amp;lt;/sub&amp;gt; là xác suất (%) không vượt quá của các thành phần cân bằng nước tương ứng P(X≤A). Phân cấp hạn theo chỉ số SWSI được trình bày ở bảng 3.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
{| class=&amp;quot;wikitable&amp;quot;&lt;br /&gt;
|+ Bảng 3. Phân cấp hạn thuỷ văn theo chỉ số SWSI&lt;br /&gt;
|-&lt;br /&gt;
! Giá trị SWSI !! Tình trạng cấp nước&lt;br /&gt;
|-&lt;br /&gt;
| ≤ -4,0 || Hạn cực nặng&lt;br /&gt;
|-&lt;br /&gt;
| -4,0 ÷ -3,0 || Hạn rất nặng&lt;br /&gt;
|-&lt;br /&gt;
| -2,9 ÷ -2,0 || Hạn vừa&lt;br /&gt;
|-&lt;br /&gt;
| -1,9 ÷ -1,0 || Hơi khô&lt;br /&gt;
|-&lt;br /&gt;
| -0,9 ÷ 0,9 || Gần như bình thường&lt;br /&gt;
|-&lt;br /&gt;
| 1,0 ÷ 1,9 || Hơi ẩm&lt;br /&gt;
|-&lt;br /&gt;
| 2,0 ÷ 2,9 || Ẩm vừa&lt;br /&gt;
|-&lt;br /&gt;
| 3,0 ÷ 4,0 || Rất ẩm&lt;br /&gt;
|-&lt;br /&gt;
| ≥ 4,0 || Cực ẩm&lt;br /&gt;
|}		&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Chỉ số này mô tả các tình trạng cung cấp nước tại một lưu vực riêng biệt.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Chỉ số cải tạo hạn (RDI)==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Cục cải tạo hạn hán Hoa kỳ đã đề xuất RDI và sử dụng để cảnh báo hạn khẩn cấp. RDI là một hàm của nguồn cung, nhu cầu và thời đoạn. Chỉ số cải tạo hạn RDI được tính theo công thức sau:&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
{{NumBlk|:|&amp;lt;math&amp;gt; RDI = SE + DE \,&amp;lt;/math&amp;gt;|{{EquationRef|4}}}}&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Trong đó: &lt;br /&gt;
* SE (supply element) - yếu tố cung cấp;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
* DE (demand element) - yếu tố nhu cầu.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Các cấp khắc nghiệt của hạn thuỷ văn theo chỉ số RDI được trình bày trong bảng 4.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
{| class=&amp;quot;wikitable&amp;quot;&lt;br /&gt;
|+ Bảng 4. Phân cấp hạn theo RDI&lt;br /&gt;
|-&lt;br /&gt;
! Giá trị RDI !! Tình trạng cấp nước&lt;br /&gt;
|-&lt;br /&gt;
| ≤ -4,0 || Hạn nặng&lt;br /&gt;
|-&lt;br /&gt;
| -1,5 ÷ -4,0 || Hạn vừa&lt;br /&gt;
|-&lt;br /&gt;
| 0 ÷ -1,5 || Hạn nhẹ&lt;br /&gt;
|-&lt;br /&gt;
| 1 ÷ 1,5 || Hơi ẩm&lt;br /&gt;
|-&lt;br /&gt;
| 1,5 ÷ 4,0 || Ẩm vừa&lt;br /&gt;
|-&lt;br /&gt;
| ≥ 4,0 || Cực ẩm&lt;br /&gt;
|}	&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
RDI được sử dụng nhiều trong xây dựng kế hoạch phòng tránh hạn. Nó có ưu điểm là tính đến cả thành phần nhiệt độ và bốc hơi.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Các chỉ số PHDI, SWSI và RDI được tính cho lưu vực sông, sử dụng nhiệt độ, giáng thủy, tuyết đóng băng, dòng chảy, và các lớp của hồ chứa làm đầu vào. Kết quả tính toán của các chỉ số này cho thấy nó khá phù hợp với các tình hình hạn thực tế, có khả năng cảnh báo được thời điểm bắt đầu và kết thúc hạn. Nhưng chúng cũng có nhược điểm chung là: yêu cầu số liệu đầu vào nhiều, đa dạng, tính toán khá phức tạp. Các chỉ số hạn Kh và chỉ số thiếu hụt dòng chảy Kth sử dụng số liệu giáng thủy, bốc hơi và lưu lượng thực đo tuy không thật chính xác như các chỉ số trên nhưng do yêu cầu đầu vào dễ đáp ứng và việc tính toán khá đơn giản nên chúng thường được sử dụng khá phổ biến.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Ở Việt Nam, trong điều kiện biến đổi khí hậu, các hiện tượng hạn hán, thiếu nước ngày càng gia tăng, chúng đã tác động to lớn đến môi trường, kinh tế, chính trị xã hội và sức khoẻ con người. Trong những năm gần đây đã có nhiều công trình nghiên cứu ứng dụng các chỉ số hạn thủy văn đánh giá mức độ hạn hán và thiếu nước sinh hoạt; xây dựng các bộ bản đồ về hạn hán và thiếu nước sinh hoạt; nghiên cứu dự báo, cảnh báo hạn hán phục vụ công tác phòng tránh thiên tai hạn hán, thiếu nước trên toàn lãnh thổ Việt Nam, đặc biệt là khu vực Nam Trung Bộ và Tây Nguyên.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Tài liệu tham khảo==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
* Nguyễn Quang Kim, Nghiên cứu dự báo hạn hán vùng Nam Trung Bộ và Tây Nguyên và xây dựng các giải pháp phòng chống, đề tài thuộc chương trình cấp Nhà nước, mã số: KC.08.22, Tp. Hồ Chí Minh, 2005.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
* Trần Thục, Xây dựng bản đồ hạn hán và mức độ thiếu nước sinh hoạt ở Nam Trung Bộ và Tây Nguyên, Đề án thuộc Bộ Tài nguyên và Môi trường, Hà Nội, 2008.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
* Shafer, B.A. &amp;amp; Dezman, L.E., Development of a Surface Water Supply Index (SWSI) to assess the severity of drought conditions in snowpack runoff areas, Proceedings of the Western Snow Conference, 164-175, 1982.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
* Beran, M. &amp;amp; Rodier, J.A., Hydrological aspects of drought, Studies and reports in hydrology 39, UNESCO-WMO, Paris, France,1985.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
* Guttman, N. B., A sensitivity analysis of the Palmer Hydrologic Drought Index, J. Am. Water Resour. Assoc.,27(5), 1991.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
* Demuth, S. &amp;amp; Bakenhus, A., Hydrological Drought - A literature review, Internal Report of the Institute of Hydrology, University of Freiburg, Germany,1994.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
* Hayes, M.J.. Drought indices. National Drought Mitigation Center, 1999.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
* Jacobi, J., D. Perrone, L. Lyons Duncan and G. Hornberger, A tool for calculating the Palmer drought indices, Water Resources Research 49, 2013.&lt;/div&gt;</summary>
		<author><name>Tttrung</name></author>
	</entry>
	<entry>
		<id>https://bktt.vn/index.php?title=%C4%90%E1%BA%A5t_ph%C3%B9_sa_s%C3%B4ng_H%E1%BB%93ng&amp;diff=20903</id>
		<title>Đất phù sa sông Hồng</title>
		<link rel="alternate" type="text/html" href="https://bktt.vn/index.php?title=%C4%90%E1%BA%A5t_ph%C3%B9_sa_s%C3%B4ng_H%E1%BB%93ng&amp;diff=20903"/>
		<updated>2022-10-14T07:25:10Z</updated>

		<summary type="html">&lt;p&gt;Tttrung: &lt;/p&gt;
&lt;hr /&gt;
&lt;div&gt;{{mới}}&lt;br /&gt;
[[File:Sông Hồng, đoạn qua cầu Vĩnh Tuy.JPG|nhỏ|phải|Sông Hồng, đoạn qua cầu Vĩnh Tuy, Hà Nội.]]&lt;br /&gt;
'''Đất phù sa sông Hồng''' là thuật ngữ ngắn gọn của của loại đất [[phù sa]] hệ thống [[sông Hồng]] theo phân loại đất Việt Nam. Đất phù sa sông Hồng thường có màu nâu tươi, nâu tím có tầng đất dày, được hình thành do sự bồi tụ phù sa và trầm tích của hệ thống sông Hồng. Hệ thống sông Hồng là một mạng lưới các con sông (sông Hồng, sông Đà, sông Chảy, sông Lô, sông Thái Bình, sông Luộc, sông Kinh Thày, sông Hóa và sông Cấm) góp nước hoặc nhận nước từ con sông chính là sông Hồng và đổ ra biển Đông ở các cửa Ba Lạt, Diêm Hộ, Trà Lý, Lân, So, Lạch Giang, Đáy, Lạch Càn thuộc các tỉnh/thành: Hải Phòng, Thái Bình, Nam Định và Ninh Bình. Tổng diện tích đất phù sa sông Hồng khoảng 764.200 ha (đo theo bản đồ đất Việt Nam 1/1.000.000), tập trung chủ yếu ở các tỉnh/thành: Vĩnh Phúc, Hà Nội, Hưng Yên, Hà Nam, Nam Định, Thái Bình.  Đất phù sa sông Hồng được coi là đất “bờ xôi, ruộng mật” tốt nhất Việt Nam, vào loại tốt nhất thế giới xét về sức sản xuất của đất, là đất lý tưởng để trồng nhiều loại cây như: lúa, ngô, đậu đỗ, lạc, khoai, các loại rau và cây ăn quả.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Các loại đất phù sa sông Hồng==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Theo phân loại đất Việt Nam, nhóm đất phù sa được chia ra 3 loại đất phù sa theo hệ thống sông: loại đất phù sa hệ thống sông Hồng ký hiệu là Ph, loại đất phù sa hệ thống sông Cửu Long ký hiệu là Pl, loại đất phù sa hệ thống các sông khác ký hiệu là P.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Mỗi loại đất phù sa theo hệ thống sông được chia tiếp thành những loại phụ căn cứ vào địa hình, đặc điểm hình thái phẫu diện và tính chất hóa học, vật lý đất. Có thể chia loại đất phù sa sông Hồng thành 2 loại phụ chính.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
* Đất phù sa sông Hồng ngoài đê được bồi hằng năm.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
* Đất phù sa sông Hồng trong đê ít hoặc không được bồi.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Đất phù sa sông Hồng được bồi hay còn gọi là đất phù sa sông Hồng ngoài đê là loại đất bị ngập nước lũ sông Hồng hoặc được tưới đều đặn phù sa sông Hồng, khi nước rút được phủ lên một lớp phù sa mới ở mặt (2-10 cm).  Đất phù sa sông Hồng được bồi đắp chủ yếu bởi phù sa các sông từ hằng ngàn năm nay. Nước sông Hồng mang theo phù sa trung bình 1.010 g/m3, ước tính tổng lượng phù sa hằng năm là 120 triệu tấn. Chất lượng phù sa sông Hồng thay đổi theo mùa và ngày càng thay đổi từ năm 2005 khi đập thủy điện Sơn La được xây dựng, đến nay có thêm thủy điện Sơn La và thủy điện Lai Châu.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Đất phù sa sông Hồng được bồi ngoài đê phổ biến có màu nâu tươi, nâu tím. Theo lát cắt (phẫu diện) từ trên xuống khoảng 50-60 cm, màu nâu bắt đầu nhạt dần, tới khoảng 90-100 cm bắt đầu xuất hiện các hạt cát to màu xám, xuống sâu nữa khoảng 150 cm xuất hiện các hạt cát có màu trắng. Theo phân loại đất FAO-UNESCO, đất phù sa sông Hồng điển hình trung tính là Eutric Fluvisol.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Đất phù sa sông Hồng trong đê. Đặc điểm cơ bản trong chinh phục vùng đất đồng bằng sông Hồng là sự hình thành hệ thống đê ngăn lũ bảo vệ dân cư và mùa màng. Hệ thống đê hai bên bờ sông Hồng và các nhánh ước tính dài trên 1700 km đã dẫn đến sự phân hóa chất lượng đất phù sa sông Hồng. Đất phù sa sông Hồng trong đê do ít được bồi đắp phù sa hằng năm, có nơi cao thường gọi là đất vàn cao tạo nên sự rửa trôi các cation kiềm thổ, tích lũy sắt nhôm nhiều, có các vệt đốm gỉ ở các tầng dưới của phẫu diện đất; ở vùng trũng, úng nước đất trở nên bị lầy, nhiều hữu cơ.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Nghiên cứu khoáng sét và vi hình thái cho thấy sự khác biệt rõ nét giữa đất phù sa sông Hồng được bồi ngoài đê và đất phù sa trong đê. Đối với đất phù sa sông Hồng được bồi, hai khoáng vật chính là hydromica và kaolinit; trong khi đó đất phù sa sông Hồng trong đê khoáng vật chính hydromica giảm đi và tăng khoáng vật kaolinit theo chiều sâu phẫu diện &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Như vậy, đối với đất phù sa sông Hồng không được bồi, theo thời gian bản chất phù sa sông Hồng đặc trưng bị thay đổi, đất có thể chua, glây hay có tầng loang lổ, theo đó độ phì nhiêu tự nhiên của loại đất này cũng đang bị giảm đi. Mức độ thay đổi phụ thuộc vào địa hình, chế độ canh tác và mực nước ngầm. Theo cách lý giải này các nhà khoa học đất chia ra các nhóm phụ khác như đất phù sa sông Hồng glây, hoặc đất phù sa sông Hồng có tầng loang lổ.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Dung trọng, tỷ trọng và thành phần cơ giới đất phù sa sông Hồng&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Các tính chất vật lý đất rất quan trọng trong việc xác định độ phì nhiêu thực tế của đất; Đất phù sa sông Hồng không chỉ có tác dụng trong trồng trọt mà còn rất tốt cho xây dựng, đặc biệt là trong việc xây dựng các khu thể thao cần có nền đất cỏ (như sân chơi gôn, sân bóng đá, sân quần vợt đất nện). Dung trọng, tỷ trọng và thành phần cơ giới là những tính chất cơ bản quan trọng nhất. Trong dân gian, nông dân thường phân biệt đất nặng, đất nhẹ, đất có tơi xốp thoáng khí, thoát nước tốt hay không chính là các chỉ thị nói về thành phần cơ giới của đất; đất phù sa có dung trọng trung bình là 0,84 g/cm3, dao động từ 0,75-0,92 g/cm3. Dung trọng của đất được dùng rộng rãi để xác định khối lượng lớp đất mặt trong sản xuất nông nghiệp, thường hay thay đổi do đặc điểm của chế độ canh tác. Tỷ trọng của đất được định nghĩa như là tỷ số giữa trọng lượng của một thể tích đất và trọng lượng nước có cùng một thể tích ở 40C, tỷ trọng trung bình của đất phù sa sông Hồng là 2,69 g/cm3, dao động từ 2,56-2,82 g/cm3. Độ xốp của đất 60-64% ở tầng mặt, 50-53% ở tầng dưới. Sức chứa ẩm tối đa đồng ruộng của đất bằng 30,2% ở đất có thành phần cơ giới nhẹ, 38,5% ở đất có thành phần cơ giới trung bình và 45,6% ở đất có thành phần cơ giới nặng. Độ ẩm cây héo của đất cũng có xu hướng tương tự, tăng theo mức độ nặng nhẹ của thành phần cơ giới, tương ứng là 4,4%, 11,05% và 24,0%.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Về thành phần cơ giới theo phân loại 3 cấp (thịt, limon, cát) thì đất phù sa sông Hồng có chủ yếu các cấp hạt limon, hàm lượng sét từ 21,4 – 31,4%, limon từ 54,2 – 57,2% còn lại là cát từ 14,4 – 21,4%. Tùy thuộc cự ly phân bố của đất so với sông và từ thượng lưu xuống hạ lưu mà thành phần cơ giới của đất phù sa sông Hồng có thể thay đổi từ cát pha đến thịt nhẹ, thịt, hay thịt nặng.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Bảng 1 trình bày thành phần cấp hạt của đất phù sa sông Hồng theo phân chia 4 cấp từ 2 mm đến nhỏ hơn 0,002 mm.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
{| class=&amp;quot;wikitable&amp;quot; style=&amp;quot;margin-left: auto; margin-right: auto; border: none;&amp;quot;&lt;br /&gt;
|+ Bảng 1.  Thành phần cơ giới đất phù sa sông Hồng theo phân loại 4 cấp&lt;br /&gt;
|-&lt;br /&gt;
! rowspan=&amp;quot;2&amp;quot; | Thông số thống kê !! colspan=&amp;quot;4&amp;quot; | Thành phần cơ giới (%)&lt;br /&gt;
|-&lt;br /&gt;
| 2 - 0,2 (mm) || 0,2 - 0,02 (mm) || 0,02 - 0,002 (mm) || &amp;lt; 0,002 (mm)&lt;br /&gt;
|-&lt;br /&gt;
| Trung bình (&amp;lt;math&amp;gt;\bar{\text{m}}&amp;lt;/math&amp;gt;) || 2,5 || 23,7 || 38,9 || 34,8&lt;br /&gt;
|-&lt;br /&gt;
| Độ lệch chuẩn || 2,7 || 10,8 || 13,1 || 6,9&lt;br /&gt;
|-&lt;br /&gt;
| Trung vị || 1,9 || 23,2 || 33,9 || 36,8&lt;br /&gt;
|-&lt;br /&gt;
| &amp;lt; &amp;lt;math&amp;gt;\bar{\text{m}}&amp;lt;/math&amp;gt;, 95% &amp;lt; || 0,1 - 5,0 || 13,7 - 33,7 || 26,8 - 51,1 || 28,4 - 41,2&lt;br /&gt;
|}&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Độ chua đất phù sa sông Hồng (pH)==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Độ chua hay pH của đất là chỉ số quan trọng đầu tiên cần xem xét khi đánh giá chất lượng đất. Xác định độ chua của đất thông qua máy đo pH. Những loại đất có độ phì nhiêu cao đều phải có một giới hạn pH nhất định không quá chua hoặc quá kiềm. Thường có hai dung môi sử dụng để xác định độ chua của đất là nước hoặc KCl, cho hai giá trị pHH2O hay pHKCl.  Giá trị pHH2O là độ chua thực tại gây nên bởi các proton tự do có ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống cây trồng và hoạt động sinh khối trong đất. Giá trị pHKCl thể hiện độ chua trao đổi, là độ chua tiền năng, trong đó các ion có tính axit (H+, Al3+),…) trên bề mặt keo đất có thể được đẩy ra dung dịch đất làm cho đất chua; đất phù sa sông Hồng phổ biến có pHH2O dao động từ 5,33-5,76; pHKCl dao động từ 4,58-4,99. Như vậy so với các kết quả nghiên cứu trước đây giai đoạn 1960-1980, trung bình đất phù sa sông Hồng hiện nay đã chua hơn trước 0,5 đơn vị. Các nguyên nhân của sự chua hóa chủ yếu do sử dụng quá nhiều phân bón hóa học, sự rửa trôi theo chiều thẳng đứng ở các địa hình vàn cao.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Hàm lượng hữu cơ đất phù sa sông Hồng (OM, %)==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Rất nhiều người đồng ý rằng: đất (Soil) là &amp;quot; Tâm hồn của Cuộc sống Vô tận (Soul of the Infinite Life)&amp;quot;, đất khác đá mẹ trước hết ở chỗ trong đất có chất hữu cơ. Những nghiên cứu thổ nhưỡng học trên thế giới và Việt Nam đều khẳng định: chất hữu cơ trong đất giữ vai trò to lớn trong việc duy trì và nâng cao độ phì nhiêu thực tế của đất, bao gồm điều tiết dinh dưỡng, chế độ nước, chế độ nhiệt... trong môi trường đất. Có thể nói trong đất chất hữu cơ tham gia hầu hết vào các sự kiện di đổi vật chất, bao gồm các quá trình vật lý, hoá học và sinh học đất. Thông thường đánh giá chỉ tiêu hữu cơ trong đất (OM, %) thông qua phân tích các bon hữu cơ (OC) theo phương pháp Walkley-Black. Trung bình, đất phù sa sông Hồng có các bon hữu cơ dao động từ 1,3-1,6%. Đất phù sa sông Hồng ngoài đê được bồi đắp phù sa thường xuyên nên lượng các bon hữu cơ thấp, có thể dưới 1%; Đất phù sa sông Hồng ở vùng trũng, thoát nước kém, hoạt động khoáng hóa kém, lượng các bon hữu cơ có thể cao hơn 2,2%.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Kali trong đất phù sa sông Hồng (K2O, %)==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Cùng với đạm và lân, kali (K) là nguyên tố dinh dưỡng đa lượng quan trọng trong đời sống cây trồng. Theo các nghiên cứu về khoáng học, trong đá K có khoảng 2,6%, còn trong đất K có khoảng 0,83%. Số liệu này chứng tỏ rằng kali bị rửa trôi trong quá trình phong hoá đá hình thành đất. Trong sự phát triển của ngành thổ nhưỡng học thế giới, những nghiên cứu về kali trong đất rất nhiều và K thường được dùng cho nghiên cứu mẫu nhiệt động học các phản ứng trao đổi trong đất từ những năm đầu của thế kỷ 20. Tuy vậy, ở Việt Nam các nghiên cứu về kali trong đất mới chỉ phát triển từ những năm sau 1970. Khoáng vật trong đất chứa kali hay được nói tới là các alumino-silicát như: kali phiến thạch, leuxit -KAl(SiO3)2, K-kính, saniđin, muscovit -KAl3Si3O10(OH)2, ilit... Trong đất, kali có mặt trong thành phần tất cả các cấp hạt nhưng chủ yếu là ở cấp hạt sét và hạt limon chưa phong hoá. Thường dùng chỉ tiêu kali tổng số để đánh giá tiềm năng kali của đất. Nguyễn Vy, Trần Khải (1978) lưu ý việc tính đến đồng thời cả thành phần cấp hạt và tính chất khoáng sét để dự báo hàm lượng kali trong đất. Sự phân bố về mức kali trong đất thực chất phụ thuộc vào đá mẹ, mức độ phong hoá, địa hình và chế độ canh tác.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Khi phân tích kali tổng số (K2O, %) trong đất người ta thường dùng các tổ hợp ít nhất hai axít mạnh (HNO3, HCl, H2SO4, HClO4) và gần như cho kết quả giống nhau. Gần đây, khi nghiên cứu các phương pháp phân tích kali thích hợp cho đất Việt Nam, các nhà phân tích cho rằng phải dùng các dịch chiết có axit mạnh và HF (HF, H2SO4, HClO4) mới có thể chiết hết K ra khỏi khoáng đất. Tuy vậy các lý luận thân thiện đối với môi trường đều không ủng hộ phương án này vì HF rất độc và không cần thiết phải đi đến tột cùng mới đánh giá được thực trạng kali trong đất. Số liệu phân tích năm 2003 trên 214 mẫu đất phù sa của Việt Nam cho thấy, hầu hết đất phù sa sông Hồng có hàm lượng kali tổng số dao động từ 1,18-1,48%, hàm lượng kali trong đất phù sa sông Hồng cao hơn đất phù sa hệ thống sông Cửu Long (1,11-1,28%) và cao hơn nhiều so với kali trong đất phù sa các sông khác (0,74-0,93%). Chính thành phần khoáng sét và thành phần cấp hạt đã làm giàu kali trong đất phù sa sông Hồng và theo đó đã làm cho các sản phẩm cây trồng trên đất phù sa sông Hồng có các chất lượng đặc biệt mà các vùng miền khác không có. Cũng cần cảnh báo rằng so với các kết quả phân tích trước đây, lượng kali tổng số trong đất phù sa sông Hồng cũng đang có chiều hướng giảm đi.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
{| class=&amp;quot;wikitable&amp;quot; style=&amp;quot;margin-left: auto; margin-right: auto; border: none;&amp;quot;&lt;br /&gt;
|+ Bảng 2:  Kali tổng số (K2O, %) trong các loại đất phù sa các hệ thống sông&lt;br /&gt;
|-&lt;br /&gt;
! Thông số thống kê !! Nhóm đất phù sa !! Đất phù sa Sông Hồng !! Đất phù sa sông Cửu Long !! Đất phù sa các sông khác&lt;br /&gt;
|-&lt;br /&gt;
| Số mẫu || 214 || 50 || 58 || 106&lt;br /&gt;
|-&lt;br /&gt;
| Trung bình (&amp;lt;math&amp;gt;\bar{\text{m}}&amp;lt;/math&amp;gt;), % || 1,055 || 1,336 || 1,202 || 0,843&lt;br /&gt;
|-&lt;br /&gt;
| Độ lệch chuẩn || 0,506 || 0,524 || 0,324 || 0,490&lt;br /&gt;
|-&lt;br /&gt;
| Trung vị, % || 1,109 || 1,394 || 1,235 || 0,752&lt;br /&gt;
|-&lt;br /&gt;
| &amp;lt; &amp;lt;math&amp;gt;\bar{\text{m}}&amp;lt;/math&amp;gt;, 95% &amp;lt; ; % || 0,987 - 1,123 || 1,187 - 1,485 || 1,116 - 1,287 || 0,748 - 0,937&lt;br /&gt;
|}&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Các tính chất hóa học khác của đất phù sa sông Hồng==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Đất phù sa sông Hồng có độ no bazơ cao (80-85%), canxi trao đổi 7,1-15,4 cmolc kg-1, magiê trao đổi 1,8-5,7 cmolc kg-1, đạm tổng số 0,12-0,26%, lân tổng số 0,08-0,13%; lân dễ tiêu phổ biến 12,0-15,0 mg/100 g đất, hàm lượng lưu huỳnh trong đất thấp. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Sức sản xuất của đất phù sa sông Hồng==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Đất phù sa sông Hồng là loại đất có độ phì nhiêu tự nhiên rất cao và đồng nhất với độ phì nhiêu thực tế hay còn gọi là sức sản xuất của đất, thích hợp với hầu hết các loại cây trồng với hình thức thâm canh đa dạng. Trên đất phù sa sông Hồng đã hình thành nên nền văn minh lúa nước lâu đời của vùng đồng bằng. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Hiện nay hệ thống cây trồng vùng đồng bằng sông Hồng (ĐBSH) cũng tương tự như vùng đồng bằng sông Cửu Long và các nước Đông Nam châu Á với khí hậu gió mùa gồm có lúa, hoa màu, cây ăn quả và cây công nghiệp ngắn ngày, nhưng cây lúa vẫn là cây trồng chủ yếu.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Căn cứ vào điều kiện tự nhiên, kinh tế-xã hội cũng như sự tiến triển của hệ thống cây trồng trong quá khứ, hiện trạng hệ thống cây trồng chính của vùng đồng bằng sông Hồng có các công thức luân canh phổ biến là : 1 vụ lúa/năm, 2 vụ lúa/năm, 2 vụ lúa + 1 vụ màu/năm, 1 vụ lúa + 1 vụ màu/năm, 1 vụ lúa + 2 vụ màu/năm và chuyên màu. Gần đây xuất hiện các công thức luân canh 4 vụ/năm.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Tuy là vùng có nghề trồng lúa nước là chính, nhưng vùng đồng bằng sông Hồng có các tiểu vùng sinh thái khác nhau nên cơ cấu cây trồng, gắn vào đó cơ cấu giống và cơ cấu mùa vụ của mỗi tiểu vùng cũng khác nhau. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Hiện trạng hệ thống cây trồng vùng ĐBSH được mô tả theo các chân ruộng có đặc thù sinh thái khác nhau:&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
* Trên chân ruộng trũng;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
* Trên chân ruộng vàn và cao;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
* Trên chân bãi ngoài đê;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
* Trên chân ruộng mặn, phèn ven sông nước mặn và ven biển.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Hiện tại toàn bộ diện tích đất phù sa sông Hồng đã được đưa vào sản xuất với sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật như các cuộc cách mạng về giống, phương thức canh tác, chế độ tưới, tiềm năng của đất phù sa sông Hồng đang được khai thác triệt để. Trên những cánh đồng phù sa không phải chỉ có lúa mà còn có các cây trồng khác với những hình thức thâm canh và cơ cấu mùa vụ rất khác nhau. Đối với đất phù sa sông Hồng trồng lúa thường có cơ cấu: 2 vụ lúa, 2 vụ lúa + 1 màu, 1 lúa + 2 màu hoặc 2 lúa –nhiều vụ màu. Năng suất lúa trung bình trên đất phù sa sông Hồng đạt 6 tấn/vụ và nhiều nơi đạt trên 10 tấn/vụ (2018).&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Trên đất phù sa sông Hồng cũng đã tạo nên những vùng thâm canh cao: chuyên rau, chuyên hoa, chuyên cây ăn quả (vải, nhãn, chuối, bưởi, ổi, cam, quýt...), cho thu nhập từ vài trăm triệu đồng đến trên 1 tỷ đồng/ha/năm.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Cây trồng trên đất phù sa sông Hồng không chỉ có năng suất cao mà còn có chất lượng đặc biệt, các đặc sản phù sa sông Hồng như nếp cái hoa vàng, vải thiều Thanh Hà, bưởi Diễn, cam Canh, nhãn lồng Hưng Yên, chuối ngự Đại hoàng, húng Láng đã từ lâu đi vào sử sách và như là đặc sản riêng biệt của vùng châu thổ sông Hồng.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Hình thái phẫu diện điển hình đất phù sa sông Hồng &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Thông tin: Phẫu diện N5. Xây dựng tiêu chuẩn chất lượng nền môi trường nhóm đất phù sa của Việt Nam, 2001-2003.&lt;br /&gt;
 &lt;br /&gt;
==Tài liệu tham khảo==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
* Nguyễn Quang Hải, Hồ Quang Đức, Khoáng sét đất Việt Nam trong mối quan hệ với quá trình hình thành đất, Viện Thổ nhưỡng Nông hóa, Kết quả nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ, 50 năm xây dựng và phát triển, Nhà xuất bản Nông nghiệp. Hà Nội, tr. 58-68, 2019.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
* Nguyễn Vy, Trần Khải, Hóa học đất miền Bắc Việt Nam, Nhà xuất bản Khoa học Kỹ thuật, Hà Nội, 1978.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
* Phạm Quang Hà, Nghiên cứu xây dựng tiêu chuẩn chất lượng nền nhóm đất phù sa của Việt Nam, Viện Thổ nhưỡng Nông hóa, Hà Nội, 2003.&lt;/div&gt;</summary>
		<author><name>Tttrung</name></author>
	</entry>
	<entry>
		<id>https://bktt.vn/index.php?title=%C4%90%E1%BA%A5t_ph%C3%B9_sa_s%C3%B4ng_H%E1%BB%93ng&amp;diff=20902</id>
		<title>Đất phù sa sông Hồng</title>
		<link rel="alternate" type="text/html" href="https://bktt.vn/index.php?title=%C4%90%E1%BA%A5t_ph%C3%B9_sa_s%C3%B4ng_H%E1%BB%93ng&amp;diff=20902"/>
		<updated>2022-10-14T07:24:41Z</updated>

		<summary type="html">&lt;p&gt;Tttrung: &lt;/p&gt;
&lt;hr /&gt;
&lt;div&gt;{{mới}}&lt;br /&gt;
[[File:Sông Hồng, đoạn qua cầu Vĩnh Tuy.JPG|nhỏ|phải|Sông Hồng, đoạn qua cầu Vĩnh Tuy, Hà Nội.]]&lt;br /&gt;
'''Đất phù sa sông Hồng''' là thuật ngữ ngắn gọn của của loại đất [[phù sa]] hệ thống [[sông Hồng]] theo phân loại đất Việt Nam. Đất phù sa sông Hồng thường có màu nâu tươi, nâu tím có tầng đất dày, được hình thành do sự bồi tụ phù sa và trầm tích của hệ thống sông Hồng. Hệ thống sông Hồng là một mạng lưới các con sông (sông Hồng, sông Đà, sông Chảy, sông Lô, sông Thái Bình, sông Luộc, sông Kinh Thày, sông Hóa và sông Cấm) góp nước hoặc nhận nước từ con sông chính là sông Hồng và đổ ra biển Đông ở các cửa Ba Lạt, Diêm Hộ, Trà Lý, Lân, So, Lạch Giang, Đáy, Lạch Càn thuộc các tỉnh/thành: Hải Phòng, Thái Bình, Nam Định và Ninh Bình. Tổng diện tích đất phù sa sông Hồng khoảng 764.200 ha (đo theo bản đồ đất Việt Nam 1/1.000.000), tập trung chủ yếu ở các tỉnh/thành: Vĩnh Phúc, Hà Nội, Hưng Yên, Hà Nam, Nam Định, Thái Bình.  Đất phù sa sông Hồng được coi là đất “bờ xôi, ruộng mật” tốt nhất Việt Nam, vào loại tốt nhất thế giới xét về sức sản xuất của đất, là đất lý tưởng để trồng nhiều loại cây như: lúa, ngô, đậu đỗ, lạc, khoai, các loại rau và cây ăn quả.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Các loại đất phù sa sông Hồng==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Theo phân loại đất Việt Nam, nhóm đất phù sa được chia ra 3 loại đất phù sa theo hệ thống sông: loại đất phù sa hệ thống sông Hồng ký hiệu là Ph, loại đất phù sa hệ thống sông Cửu Long ký hiệu là Pl, loại đất phù sa hệ thống các sông khác ký hiệu là P.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Mỗi loại đất phù sa theo hệ thống sông được chia tiếp thành những loại phụ căn cứ vào địa hình, đặc điểm hình thái phẫu diện và tính chất hóa học, vật lý đất. Có thể chia loại đất phù sa sông Hồng thành 2 loại phụ chính.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
* Đất phù sa sông Hồng ngoài đê được bồi hằng năm.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
* Đất phù sa sông Hồng trong đê ít hoặc không được bồi.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Đất phù sa sông Hồng được bồi hay còn gọi là đất phù sa sông Hồng ngoài đê là loại đất bị ngập nước lũ sông Hồng hoặc được tưới đều đặn phù sa sông Hồng, khi nước rút được phủ lên một lớp phù sa mới ở mặt (2-10 cm).  Đất phù sa sông Hồng được bồi đắp chủ yếu bởi phù sa các sông từ hằng ngàn năm nay. Nước sông Hồng mang theo phù sa trung bình 1.010 g/m3, ước tính tổng lượng phù sa hằng năm là 120 triệu tấn. Chất lượng phù sa sông Hồng thay đổi theo mùa và ngày càng thay đổi từ năm 2005 khi đập thủy điện Sơn La được xây dựng, đến nay có thêm thủy điện Sơn La và thủy điện Lai Châu.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Đất phù sa sông Hồng được bồi ngoài đê phổ biến có màu nâu tươi, nâu tím. Theo lát cắt (phẫu diện) từ trên xuống khoảng 50-60 cm, màu nâu bắt đầu nhạt dần, tới khoảng 90-100 cm bắt đầu xuất hiện các hạt cát to màu xám, xuống sâu nữa khoảng 150 cm xuất hiện các hạt cát có màu trắng. Theo phân loại đất FAO-UNESCO, đất phù sa sông Hồng điển hình trung tính là Eutric Fluvisol.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Đất phù sa sông Hồng trong đê. Đặc điểm cơ bản trong chinh phục vùng đất đồng bằng sông Hồng là sự hình thành hệ thống đê ngăn lũ bảo vệ dân cư và mùa màng. Hệ thống đê hai bên bờ sông Hồng và các nhánh ước tính dài trên 1700 km đã dẫn đến sự phân hóa chất lượng đất phù sa sông Hồng. Đất phù sa sông Hồng trong đê do ít được bồi đắp phù sa hằng năm, có nơi cao thường gọi là đất vàn cao tạo nên sự rửa trôi các cation kiềm thổ, tích lũy sắt nhôm nhiều, có các vệt đốm gỉ ở các tầng dưới của phẫu diện đất; ở vùng trũng, úng nước đất trở nên bị lầy, nhiều hữu cơ.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Nghiên cứu khoáng sét và vi hình thái cho thấy sự khác biệt rõ nét giữa đất phù sa sông Hồng được bồi ngoài đê và đất phù sa trong đê. Đối với đất phù sa sông Hồng được bồi, hai khoáng vật chính là hydromica và kaolinit; trong khi đó đất phù sa sông Hồng trong đê khoáng vật chính hydromica giảm đi và tăng khoáng vật kaolinit theo chiều sâu phẫu diện &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Như vậy, đối với đất phù sa sông Hồng không được bồi, theo thời gian bản chất phù sa sông Hồng đặc trưng bị thay đổi, đất có thể chua, glây hay có tầng loang lổ, theo đó độ phì nhiêu tự nhiên của loại đất này cũng đang bị giảm đi. Mức độ thay đổi phụ thuộc vào địa hình, chế độ canh tác và mực nước ngầm. Theo cách lý giải này các nhà khoa học đất chia ra các nhóm phụ khác như đất phù sa sông Hồng glây, hoặc đất phù sa sông Hồng có tầng loang lổ.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Dung trọng, tỷ trọng và thành phần cơ giới đất phù sa sông Hồng&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Các tính chất vật lý đất rất quan trọng trong việc xác định độ phì nhiêu thực tế của đất; Đất phù sa sông Hồng không chỉ có tác dụng trong trồng trọt mà còn rất tốt cho xây dựng, đặc biệt là trong việc xây dựng các khu thể thao cần có nền đất cỏ (như sân chơi gôn, sân bóng đá, sân quần vợt đất nện). Dung trọng, tỷ trọng và thành phần cơ giới là những tính chất cơ bản quan trọng nhất. Trong dân gian, nông dân thường phân biệt đất nặng, đất nhẹ, đất có tơi xốp thoáng khí, thoát nước tốt hay không chính là các chỉ thị nói về thành phần cơ giới của đất; đất phù sa có dung trọng trung bình là 0,84 g/cm3, dao động từ 0,75-0,92 g/cm3. Dung trọng của đất được dùng rộng rãi để xác định khối lượng lớp đất mặt trong sản xuất nông nghiệp, thường hay thay đổi do đặc điểm của chế độ canh tác. Tỷ trọng của đất được định nghĩa như là tỷ số giữa trọng lượng của một thể tích đất và trọng lượng nước có cùng một thể tích ở 40C, tỷ trọng trung bình của đất phù sa sông Hồng là 2,69 g/cm3, dao động từ 2,56-2,82 g/cm3. Độ xốp của đất 60-64% ở tầng mặt, 50-53% ở tầng dưới. Sức chứa ẩm tối đa đồng ruộng của đất bằng 30,2% ở đất có thành phần cơ giới nhẹ, 38,5% ở đất có thành phần cơ giới trung bình và 45,6% ở đất có thành phần cơ giới nặng. Độ ẩm cây héo của đất cũng có xu hướng tương tự, tăng theo mức độ nặng nhẹ của thành phần cơ giới, tương ứng là 4,4%, 11,05% và 24,0%.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Về thành phần cơ giới theo phân loại 3 cấp (thịt, limon, cát) thì đất phù sa sông Hồng có chủ yếu các cấp hạt limon, hàm lượng sét từ 21,4 – 31,4%, limon từ 54,2 – 57,2% còn lại là cát từ 14,4 – 21,4%. Tùy thuộc cự ly phân bố của đất so với sông và từ thượng lưu xuống hạ lưu mà thành phần cơ giới của đất phù sa sông Hồng có thể thay đổi từ cát pha đến thịt nhẹ, thịt, hay thịt nặng.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Bảng 1 trình bày thành phần cấp hạt của đất phù sa sông Hồng theo phân chia 4 cấp từ 2 mm đến nhỏ hơn 0,002 mm.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
{| class=&amp;quot;wikitable&amp;quot; style=&amp;quot;margin-left: auto; margin-right: auto; border: none;&amp;quot;&lt;br /&gt;
|+ Bảng 1.  Thành phần cơ giới đất phù sa sông Hồng theo phân loại 4 cấp&lt;br /&gt;
|-&lt;br /&gt;
! rowspan=&amp;quot;2&amp;quot; | Thông số thống kê !! colspan=&amp;quot;4&amp;quot; | Thành phần cơ giới (%)&lt;br /&gt;
|-&lt;br /&gt;
| 2 - 0,2 (mm) || 0,2 - 0,02 (mm) || 0,02 - 0,002 (mm) || &amp;lt; 0,002 (mm)&lt;br /&gt;
|-&lt;br /&gt;
| Trung bình (&amp;lt;math&amp;gt;\bar{\text{m}}&amp;lt;/math&amp;gt;) || 2,5 || 23,7 || 38,9 || 34,8&lt;br /&gt;
|-&lt;br /&gt;
| Độ lệch chuẩn || 2,7 || 10,8 || 13,1 || 6,9&lt;br /&gt;
|-&lt;br /&gt;
| Trung vị || 1,9 || 23,2 || 33,9 || 36,8&lt;br /&gt;
|-&lt;br /&gt;
| &amp;lt; &amp;lt;math&amp;gt;\bar{\text{m}}&amp;lt;/math&amp;gt;, 95% &amp;lt; || 0,1 - 5,0 || 13,7 - 33,7 || 26,8 - 51,1 || 28,4 - 41,2&lt;br /&gt;
|}&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Độ chua đất phù sa sông Hồng (pH)==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Độ chua hay pH của đất là chỉ số quan trọng đầu tiên cần xem xét khi đánh giá chất lượng đất. Xác định độ chua của đất thông qua máy đo pH. Những loại đất có độ phì nhiêu cao đều phải có một giới hạn pH nhất định không quá chua hoặc quá kiềm. Thường có hai dung môi sử dụng để xác định độ chua của đất là nước hoặc KCl, cho hai giá trị pHH2O hay pHKCl.  Giá trị pHH2O là độ chua thực tại gây nên bởi các proton tự do có ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống cây trồng và hoạt động sinh khối trong đất. Giá trị pHKCl thể hiện độ chua trao đổi, là độ chua tiền năng, trong đó các ion có tính axit (H+, Al3+),…) trên bề mặt keo đất có thể được đẩy ra dung dịch đất làm cho đất chua; đất phù sa sông Hồng phổ biến có pHH2O dao động từ 5,33-5,76; pHKCl dao động từ 4,58-4,99. Như vậy so với các kết quả nghiên cứu trước đây giai đoạn 1960-1980, trung bình đất phù sa sông Hồng hiện nay đã chua hơn trước 0,5 đơn vị. Các nguyên nhân của sự chua hóa chủ yếu do sử dụng quá nhiều phân bón hóa học, sự rửa trôi theo chiều thẳng đứng ở các địa hình vàn cao.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Hàm lượng hữu cơ đất phù sa sông Hồng (OM, %)==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Rất nhiều người đồng ý rằng: đất (Soil) là &amp;quot; Tâm hồn của Cuộc sống Vô tận (Soul of the Infinite Life)&amp;quot;, đất khác đá mẹ trước hết ở chỗ trong đất có chất hữu cơ. Những nghiên cứu thổ nhưỡng học trên thế giới và Việt Nam đều khẳng định: chất hữu cơ trong đất giữ vai trò to lớn trong việc duy trì và nâng cao độ phì nhiêu thực tế của đất, bao gồm điều tiết dinh dưỡng, chế độ nước, chế độ nhiệt... trong môi trường đất. Có thể nói trong đất chất hữu cơ tham gia hầu hết vào các sự kiện di đổi vật chất, bao gồm các quá trình vật lý, hoá học và sinh học đất. Thông thường đánh giá chỉ tiêu hữu cơ trong đất (OM, %) thông qua phân tích các bon hữu cơ (OC) theo phương pháp Walkley-Black. Trung bình, đất phù sa sông Hồng có các bon hữu cơ dao động từ 1,3-1,6%. Đất phù sa sông Hồng ngoài đê được bồi đắp phù sa thường xuyên nên lượng các bon hữu cơ thấp, có thể dưới 1%; Đất phù sa sông Hồng ở vùng trũng, thoát nước kém, hoạt động khoáng hóa kém, lượng các bon hữu cơ có thể cao hơn 2,2%.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Kali trong đất phù sa sông Hồng (K2O, %)==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Cùng với đạm và lân, kali (K) là nguyên tố dinh dưỡng đa lượng quan trọng trong đời sống cây trồng. Theo các nghiên cứu về khoáng học, trong đá K có khoảng 2,6%, còn trong đất K có khoảng 0,83%. Số liệu này chứng tỏ rằng kali bị rửa trôi trong quá trình phong hoá đá hình thành đất. Trong sự phát triển của ngành thổ nhưỡng học thế giới, những nghiên cứu về kali trong đất rất nhiều và K thường được dùng cho nghiên cứu mẫu nhiệt động học các phản ứng trao đổi trong đất từ những năm đầu của thế kỷ 20. Tuy vậy, ở Việt Nam các nghiên cứu về kali trong đất mới chỉ phát triển từ những năm sau 1970. Khoáng vật trong đất chứa kali hay được nói tới là các alumino-silicát như: kali phiến thạch, leuxit -KAl(SiO3)2, K-kính, saniđin, muscovit -KAl3Si3O10(OH)2, ilit... Trong đất, kali có mặt trong thành phần tất cả các cấp hạt nhưng chủ yếu là ở cấp hạt sét và hạt limon chưa phong hoá. Thường dùng chỉ tiêu kali tổng số để đánh giá tiềm năng kali của đất. Nguyễn Vy, Trần Khải (1978) lưu ý việc tính đến đồng thời cả thành phần cấp hạt và tính chất khoáng sét để dự báo hàm lượng kali trong đất. Sự phân bố về mức kali trong đất thực chất phụ thuộc vào đá mẹ, mức độ phong hoá, địa hình và chế độ canh tác.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Khi phân tích kali tổng số (K2O, %) trong đất người ta thường dùng các tổ hợp ít nhất hai axít mạnh (HNO3, HCl, H2SO4, HClO4) và gần như cho kết quả giống nhau. Gần đây, khi nghiên cứu các phương pháp phân tích kali thích hợp cho đất Việt Nam, các nhà phân tích cho rằng phải dùng các dịch chiết có axit mạnh và HF (HF, H2SO4, HClO4) mới có thể chiết hết K ra khỏi khoáng đất. Tuy vậy các lý luận thân thiện đối với môi trường đều không ủng hộ phương án này vì HF rất độc và không cần thiết phải đi đến tột cùng mới đánh giá được thực trạng kali trong đất. Số liệu phân tích năm 2003 trên 214 mẫu đất phù sa của Việt Nam cho thấy, hầu hết đất phù sa sông Hồng có hàm lượng kali tổng số dao động từ 1,18-1,48%, hàm lượng kali trong đất phù sa sông Hồng cao hơn đất phù sa hệ thống sông Cửu Long (1,11-1,28%) và cao hơn nhiều so với kali trong đất phù sa các sông khác (0,74-0,93%). Chính thành phần khoáng sét và thành phần cấp hạt đã làm giàu kali trong đất phù sa sông Hồng và theo đó đã làm cho các sản phẩm cây trồng trên đất phù sa sông Hồng có các chất lượng đặc biệt mà các vùng miền khác không có. Cũng cần cảnh báo rằng so với các kết quả phân tích trước đây, lượng kali tổng số trong đất phù sa sông Hồng cũng đang có chiều hướng giảm đi.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
{| class=&amp;quot;wikitable&amp;quot; style=&amp;quot;margin-left: auto; margin-right: auto; border: none;&amp;quot;&lt;br /&gt;
|+ Bảng 2:  Kali tổng số (K2O, %) trong các loại đất phù sa các hệ thống sông&lt;br /&gt;
|-&lt;br /&gt;
! Thông số thống kê !! Nhóm đất phù sa !! Đất phù sa Sông Hồng !! Đất phù sa sông Cửu Long !! Đất phù sa các sông khác&lt;br /&gt;
|-&lt;br /&gt;
| Số mẫu || 214 || 50 || 58 || 106&lt;br /&gt;
|-&lt;br /&gt;
| Trung bình (&amp;lt;math&amp;gt;\bar{\text{m}}&amp;lt;/math&amp;gt;), % || 1,055 || 1,336 || 1,202 || 0,843&lt;br /&gt;
|-&lt;br /&gt;
| Độ lệch chuẩn || 0,506 || 0,524 || 0,324 || 0,490&lt;br /&gt;
|-&lt;br /&gt;
| Trung vị, % || 1,109 || 1,394 || 1,235 || 0,752&lt;br /&gt;
|-&lt;br /&gt;
| &amp;lt; &amp;lt;math&amp;gt;\bar{\text{m}}&amp;lt;/math&amp;gt;, 95% &amp;lt; ; % || 0,987 - 1,123 || 1,187 - 1,485 || 1,116 - 1,287 || 0,748 - 0,937&lt;br /&gt;
|}&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Các tính chất hóa học khác của đất phù sa sông Hồng==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Đất phù sa sông Hồng có độ no bazơ cao (80-85%), canxi trao đổi 7,1-15,4 cmolc kg-1, magiê trao đổi 1,8-5,7 cmolc kg-1, đạm tổng số 0,12-0,26%, lân tổng số 0,08-0,13%; lân dễ tiêu phổ biến 12,0-15,0 mg/100 g đất, hàm lượng lưu huỳnh trong đất thấp. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Sức sản xuất của đất phù sa sông Hồng==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Đất phù sa sông Hồng là loại đất có độ phì nhiêu tự nhiên rất cao và đồng nhất với độ phì nhiêu thực tế hay còn gọi là sức sản xuất của đất, thích hợp với hầu hết các loại cây trồng với hình thức thâm canh đa dạng. Trên đất phù sa sông Hồng đã hình thành nên nền văn minh lúa nước lâu đời của vùng đồng bằng. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Hiện nay hệ thống cây trồng vùng đồng bằng sông Hồng (ĐBSH) cũng tương tự như vùng đồng bằng sông Cửu Long và các nước Đông Nam châu Á với khí hậu gió mùa gồm có lúa, hoa màu, cây ăn quả và cây công nghiệp ngắn ngày, nhưng cây lúa vẫn là cây trồng chủ yếu.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Căn cứ vào điều kiện tự nhiên, kinh tế-xã hội cũng như sự tiến triển của hệ thống cây trồng trong quá khứ, hiện trạng hệ thống cây trồng chính của vùng đồng bằng sông Hồng có các công thức luân canh phổ biến là : 1 vụ lúa/năm, 2 vụ lúa/năm, 2 vụ lúa + 1 vụ màu/năm, 1 vụ lúa + 1 vụ màu/năm, 1 vụ lúa + 2 vụ màu/năm và chuyên màu. Gần đây xuất hiện các công thức luân canh 4 vụ/năm.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Tuy là vùng có nghề trồng lúa nước là chính, nhưng vùng đồng bằng sông Hồng có các tiểu vùng sinh thái khác nhau nên cơ cấu cây trồng, gắn vào đó cơ cấu giống và cơ cấu mùa vụ của mỗi tiểu vùng cũng khác nhau. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Hiện trạng hệ thống cây trồng vùng ĐBSH được mô tả theo các chân ruộng có đặc thù sinh thái khác nhau:&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
* Trên chân ruộng trũng;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
* Trên chân ruộng vàn và cao;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
* Trên chân bãi ngoài đê;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
* Trên chân ruộng mặn, phèn ven sông nước mặn và ven biển.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Hiện tại toàn bộ diện tích đất phù sa sông Hồng đã được đưa vào sản xuất với sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật như các cuộc cách mạng về giống, phương thức canh tác, chế độ tưới, tiềm năng của đất phù sa sông Hồng đang được khai thác triệt để. Trên những cánh đồng phù sa không phải chỉ có lúa mà còn có các cây trồng khác với những hình thức thâm canh và cơ cấu mùa vụ rất khác nhau. Đối với đất phù sa sông Hồng trồng lúa thường có cơ cấu: 2 vụ lúa, 2 vụ lúa + 1 màu, 1 lúa + 2 màu hoặc 2 lúa –nhiều vụ màu. Năng suất lúa trung bình trên đất phù sa sông Hồng đạt 6 tấn/vụ và nhiều nơi đạt trên 10 tấn/vụ (2018).&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Trên đất phù sa sông Hồng cũng đã tạo nên những vùng thâm canh cao: chuyên rau, chuyên hoa, chuyên cây ăn quả (vải, nhãn, chuối, bưởi, ổi, cam, quýt...), cho thu nhập từ vài trăm triệu đồng đến trên 1 tỷ đồng/ha/năm.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Cây trồng trên đất phù sa sông Hồng không chỉ có năng suất cao mà còn có chất lượng đặc biệt, các đặc sản phù sa sông Hồng như nếp cái hoa vàng, vải thiều Thanh Hà, bưởi Diễn, cam Canh, nhãn lồng Hưng Yên, chuối ngự Đại hoàng, húng Láng đã từ lâu đi vào sử sách và như là đặc sản riêng biệt của vùng châu thổ sông Hồng.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Hình thái phẫu diện điển hình đất phù sa sông Hồng &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Thông tin: Phẫu diện N5. Xây dựng tiêu chuẩn chất lượng nền môi trường nhóm đất phù sa của Việt Nam, 2001-2003.&lt;br /&gt;
 &lt;br /&gt;
==Tài liệu tham khảo==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
* Nguyễn Quang Hải, Hồ Quang Đức, Khoáng sét đất Việt Nam trong mối quan hệ với quá trình hình thành đất, Viện Thổ nhưỡng Nông hóa, Kết quả nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ, 50 năm xây dựng và phát triển, Nhà xuất bản Nông nghiệp. Hà Nội, tr. 58-68, 2019.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
* Nguyễn Vy, Trần Khải, Hóa học đất miền Bắc Việt Nam, Nhà xuất bản Khoa học Kỹ thuật, Hà Nội, 1978.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
* Phạm Quang Hà, Nghiên cứu xây dựng tiêu chuẩn chất lượng nền nhóm đất phù sa của Việt Nam, Viện Thổ nhưỡng Nông hóa, Hà Nội, 2003.&lt;/div&gt;</summary>
		<author><name>Tttrung</name></author>
	</entry>
	<entry>
		<id>https://bktt.vn/index.php?title=%C4%90%E1%BA%A5t_ph%C3%B9_sa_s%C3%B4ng_H%E1%BB%93ng&amp;diff=20901</id>
		<title>Đất phù sa sông Hồng</title>
		<link rel="alternate" type="text/html" href="https://bktt.vn/index.php?title=%C4%90%E1%BA%A5t_ph%C3%B9_sa_s%C3%B4ng_H%E1%BB%93ng&amp;diff=20901"/>
		<updated>2022-10-14T07:24:20Z</updated>

		<summary type="html">&lt;p&gt;Tttrung: &lt;/p&gt;
&lt;hr /&gt;
&lt;div&gt;{{mới}}&lt;br /&gt;
[[File:Sông Hồng, đoạn qua cầu Vĩnh Tuy.JPG|nhỏ|phải|Sông Hồng, đoạn qua cầu Vĩnh Tuy, Hà Nội.]]&lt;br /&gt;
'''Đất phù sa sông Hồng''' là thuật ngữ ngắn gọn của của loại đất [[phù sa]] hệ thống sông Hồng theo phân loại đất Việt Nam. Đất phù sa sông Hồng thường có màu nâu tươi, nâu tím có tầng đất dày, được hình thành do sự bồi tụ phù sa và trầm tích của hệ thống sông Hồng. Hệ thống sông Hồng là một mạng lưới các con sông (sông Hồng, sông Đà, sông Chảy, sông Lô, sông Thái Bình, sông Luộc, sông Kinh Thày, sông Hóa và sông Cấm) góp nước hoặc nhận nước từ con sông chính là sông Hồng và đổ ra biển Đông ở các cửa Ba Lạt, Diêm Hộ, Trà Lý, Lân, So, Lạch Giang, Đáy, Lạch Càn thuộc các tỉnh/thành: Hải Phòng, Thái Bình, Nam Định và Ninh Bình. Tổng diện tích đất phù sa sông Hồng khoảng 764.200 ha (đo theo bản đồ đất Việt Nam 1/1.000.000), tập trung chủ yếu ở các tỉnh/thành: Vĩnh Phúc, Hà Nội, Hưng Yên, Hà Nam, Nam Định, Thái Bình.  Đất phù sa sông Hồng được coi là đất “bờ xôi, ruộng mật” tốt nhất Việt Nam, vào loại tốt nhất thế giới xét về sức sản xuất của đất, là đất lý tưởng để trồng nhiều loại cây như: lúa, ngô, đậu đỗ, lạc, khoai, các loại rau và cây ăn quả.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Các loại đất phù sa sông Hồng==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Theo phân loại đất Việt Nam, nhóm đất phù sa được chia ra 3 loại đất phù sa theo hệ thống sông: loại đất phù sa hệ thống sông Hồng ký hiệu là Ph, loại đất phù sa hệ thống sông Cửu Long ký hiệu là Pl, loại đất phù sa hệ thống các sông khác ký hiệu là P.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Mỗi loại đất phù sa theo hệ thống sông được chia tiếp thành những loại phụ căn cứ vào địa hình, đặc điểm hình thái phẫu diện và tính chất hóa học, vật lý đất. Có thể chia loại đất phù sa sông Hồng thành 2 loại phụ chính.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
* Đất phù sa sông Hồng ngoài đê được bồi hằng năm.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
* Đất phù sa sông Hồng trong đê ít hoặc không được bồi.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Đất phù sa sông Hồng được bồi hay còn gọi là đất phù sa sông Hồng ngoài đê là loại đất bị ngập nước lũ sông Hồng hoặc được tưới đều đặn phù sa sông Hồng, khi nước rút được phủ lên một lớp phù sa mới ở mặt (2-10 cm).  Đất phù sa sông Hồng được bồi đắp chủ yếu bởi phù sa các sông từ hằng ngàn năm nay. Nước sông Hồng mang theo phù sa trung bình 1.010 g/m3, ước tính tổng lượng phù sa hằng năm là 120 triệu tấn. Chất lượng phù sa sông Hồng thay đổi theo mùa và ngày càng thay đổi từ năm 2005 khi đập thủy điện Sơn La được xây dựng, đến nay có thêm thủy điện Sơn La và thủy điện Lai Châu.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Đất phù sa sông Hồng được bồi ngoài đê phổ biến có màu nâu tươi, nâu tím. Theo lát cắt (phẫu diện) từ trên xuống khoảng 50-60 cm, màu nâu bắt đầu nhạt dần, tới khoảng 90-100 cm bắt đầu xuất hiện các hạt cát to màu xám, xuống sâu nữa khoảng 150 cm xuất hiện các hạt cát có màu trắng. Theo phân loại đất FAO-UNESCO, đất phù sa sông Hồng điển hình trung tính là Eutric Fluvisol.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Đất phù sa sông Hồng trong đê. Đặc điểm cơ bản trong chinh phục vùng đất đồng bằng sông Hồng là sự hình thành hệ thống đê ngăn lũ bảo vệ dân cư và mùa màng. Hệ thống đê hai bên bờ sông Hồng và các nhánh ước tính dài trên 1700 km đã dẫn đến sự phân hóa chất lượng đất phù sa sông Hồng. Đất phù sa sông Hồng trong đê do ít được bồi đắp phù sa hằng năm, có nơi cao thường gọi là đất vàn cao tạo nên sự rửa trôi các cation kiềm thổ, tích lũy sắt nhôm nhiều, có các vệt đốm gỉ ở các tầng dưới của phẫu diện đất; ở vùng trũng, úng nước đất trở nên bị lầy, nhiều hữu cơ.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Nghiên cứu khoáng sét và vi hình thái cho thấy sự khác biệt rõ nét giữa đất phù sa sông Hồng được bồi ngoài đê và đất phù sa trong đê. Đối với đất phù sa sông Hồng được bồi, hai khoáng vật chính là hydromica và kaolinit; trong khi đó đất phù sa sông Hồng trong đê khoáng vật chính hydromica giảm đi và tăng khoáng vật kaolinit theo chiều sâu phẫu diện &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Như vậy, đối với đất phù sa sông Hồng không được bồi, theo thời gian bản chất phù sa sông Hồng đặc trưng bị thay đổi, đất có thể chua, glây hay có tầng loang lổ, theo đó độ phì nhiêu tự nhiên của loại đất này cũng đang bị giảm đi. Mức độ thay đổi phụ thuộc vào địa hình, chế độ canh tác và mực nước ngầm. Theo cách lý giải này các nhà khoa học đất chia ra các nhóm phụ khác như đất phù sa sông Hồng glây, hoặc đất phù sa sông Hồng có tầng loang lổ.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Dung trọng, tỷ trọng và thành phần cơ giới đất phù sa sông Hồng&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Các tính chất vật lý đất rất quan trọng trong việc xác định độ phì nhiêu thực tế của đất; Đất phù sa sông Hồng không chỉ có tác dụng trong trồng trọt mà còn rất tốt cho xây dựng, đặc biệt là trong việc xây dựng các khu thể thao cần có nền đất cỏ (như sân chơi gôn, sân bóng đá, sân quần vợt đất nện). Dung trọng, tỷ trọng và thành phần cơ giới là những tính chất cơ bản quan trọng nhất. Trong dân gian, nông dân thường phân biệt đất nặng, đất nhẹ, đất có tơi xốp thoáng khí, thoát nước tốt hay không chính là các chỉ thị nói về thành phần cơ giới của đất; đất phù sa có dung trọng trung bình là 0,84 g/cm3, dao động từ 0,75-0,92 g/cm3. Dung trọng của đất được dùng rộng rãi để xác định khối lượng lớp đất mặt trong sản xuất nông nghiệp, thường hay thay đổi do đặc điểm của chế độ canh tác. Tỷ trọng của đất được định nghĩa như là tỷ số giữa trọng lượng của một thể tích đất và trọng lượng nước có cùng một thể tích ở 40C, tỷ trọng trung bình của đất phù sa sông Hồng là 2,69 g/cm3, dao động từ 2,56-2,82 g/cm3. Độ xốp của đất 60-64% ở tầng mặt, 50-53% ở tầng dưới. Sức chứa ẩm tối đa đồng ruộng của đất bằng 30,2% ở đất có thành phần cơ giới nhẹ, 38,5% ở đất có thành phần cơ giới trung bình và 45,6% ở đất có thành phần cơ giới nặng. Độ ẩm cây héo của đất cũng có xu hướng tương tự, tăng theo mức độ nặng nhẹ của thành phần cơ giới, tương ứng là 4,4%, 11,05% và 24,0%.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Về thành phần cơ giới theo phân loại 3 cấp (thịt, limon, cát) thì đất phù sa sông Hồng có chủ yếu các cấp hạt limon, hàm lượng sét từ 21,4 – 31,4%, limon từ 54,2 – 57,2% còn lại là cát từ 14,4 – 21,4%. Tùy thuộc cự ly phân bố của đất so với sông và từ thượng lưu xuống hạ lưu mà thành phần cơ giới của đất phù sa sông Hồng có thể thay đổi từ cát pha đến thịt nhẹ, thịt, hay thịt nặng.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Bảng 1 trình bày thành phần cấp hạt của đất phù sa sông Hồng theo phân chia 4 cấp từ 2 mm đến nhỏ hơn 0,002 mm.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
{| class=&amp;quot;wikitable&amp;quot; style=&amp;quot;margin-left: auto; margin-right: auto; border: none;&amp;quot;&lt;br /&gt;
|+ Bảng 1.  Thành phần cơ giới đất phù sa sông Hồng theo phân loại 4 cấp&lt;br /&gt;
|-&lt;br /&gt;
! rowspan=&amp;quot;2&amp;quot; | Thông số thống kê !! colspan=&amp;quot;4&amp;quot; | Thành phần cơ giới (%)&lt;br /&gt;
|-&lt;br /&gt;
| 2 - 0,2 (mm) || 0,2 - 0,02 (mm) || 0,02 - 0,002 (mm) || &amp;lt; 0,002 (mm)&lt;br /&gt;
|-&lt;br /&gt;
| Trung bình (&amp;lt;math&amp;gt;\bar{\text{m}}&amp;lt;/math&amp;gt;) || 2,5 || 23,7 || 38,9 || 34,8&lt;br /&gt;
|-&lt;br /&gt;
| Độ lệch chuẩn || 2,7 || 10,8 || 13,1 || 6,9&lt;br /&gt;
|-&lt;br /&gt;
| Trung vị || 1,9 || 23,2 || 33,9 || 36,8&lt;br /&gt;
|-&lt;br /&gt;
| &amp;lt; &amp;lt;math&amp;gt;\bar{\text{m}}&amp;lt;/math&amp;gt;, 95% &amp;lt; || 0,1 - 5,0 || 13,7 - 33,7 || 26,8 - 51,1 || 28,4 - 41,2&lt;br /&gt;
|}&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Độ chua đất phù sa sông Hồng (pH)==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Độ chua hay pH của đất là chỉ số quan trọng đầu tiên cần xem xét khi đánh giá chất lượng đất. Xác định độ chua của đất thông qua máy đo pH. Những loại đất có độ phì nhiêu cao đều phải có một giới hạn pH nhất định không quá chua hoặc quá kiềm. Thường có hai dung môi sử dụng để xác định độ chua của đất là nước hoặc KCl, cho hai giá trị pHH2O hay pHKCl.  Giá trị pHH2O là độ chua thực tại gây nên bởi các proton tự do có ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống cây trồng và hoạt động sinh khối trong đất. Giá trị pHKCl thể hiện độ chua trao đổi, là độ chua tiền năng, trong đó các ion có tính axit (H+, Al3+),…) trên bề mặt keo đất có thể được đẩy ra dung dịch đất làm cho đất chua; đất phù sa sông Hồng phổ biến có pHH2O dao động từ 5,33-5,76; pHKCl dao động từ 4,58-4,99. Như vậy so với các kết quả nghiên cứu trước đây giai đoạn 1960-1980, trung bình đất phù sa sông Hồng hiện nay đã chua hơn trước 0,5 đơn vị. Các nguyên nhân của sự chua hóa chủ yếu do sử dụng quá nhiều phân bón hóa học, sự rửa trôi theo chiều thẳng đứng ở các địa hình vàn cao.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Hàm lượng hữu cơ đất phù sa sông Hồng (OM, %)==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Rất nhiều người đồng ý rằng: đất (Soil) là &amp;quot; Tâm hồn của Cuộc sống Vô tận (Soul of the Infinite Life)&amp;quot;, đất khác đá mẹ trước hết ở chỗ trong đất có chất hữu cơ. Những nghiên cứu thổ nhưỡng học trên thế giới và Việt Nam đều khẳng định: chất hữu cơ trong đất giữ vai trò to lớn trong việc duy trì và nâng cao độ phì nhiêu thực tế của đất, bao gồm điều tiết dinh dưỡng, chế độ nước, chế độ nhiệt... trong môi trường đất. Có thể nói trong đất chất hữu cơ tham gia hầu hết vào các sự kiện di đổi vật chất, bao gồm các quá trình vật lý, hoá học và sinh học đất. Thông thường đánh giá chỉ tiêu hữu cơ trong đất (OM, %) thông qua phân tích các bon hữu cơ (OC) theo phương pháp Walkley-Black. Trung bình, đất phù sa sông Hồng có các bon hữu cơ dao động từ 1,3-1,6%. Đất phù sa sông Hồng ngoài đê được bồi đắp phù sa thường xuyên nên lượng các bon hữu cơ thấp, có thể dưới 1%; Đất phù sa sông Hồng ở vùng trũng, thoát nước kém, hoạt động khoáng hóa kém, lượng các bon hữu cơ có thể cao hơn 2,2%.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Kali trong đất phù sa sông Hồng (K2O, %)==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Cùng với đạm và lân, kali (K) là nguyên tố dinh dưỡng đa lượng quan trọng trong đời sống cây trồng. Theo các nghiên cứu về khoáng học, trong đá K có khoảng 2,6%, còn trong đất K có khoảng 0,83%. Số liệu này chứng tỏ rằng kali bị rửa trôi trong quá trình phong hoá đá hình thành đất. Trong sự phát triển của ngành thổ nhưỡng học thế giới, những nghiên cứu về kali trong đất rất nhiều và K thường được dùng cho nghiên cứu mẫu nhiệt động học các phản ứng trao đổi trong đất từ những năm đầu của thế kỷ 20. Tuy vậy, ở Việt Nam các nghiên cứu về kali trong đất mới chỉ phát triển từ những năm sau 1970. Khoáng vật trong đất chứa kali hay được nói tới là các alumino-silicát như: kali phiến thạch, leuxit -KAl(SiO3)2, K-kính, saniđin, muscovit -KAl3Si3O10(OH)2, ilit... Trong đất, kali có mặt trong thành phần tất cả các cấp hạt nhưng chủ yếu là ở cấp hạt sét và hạt limon chưa phong hoá. Thường dùng chỉ tiêu kali tổng số để đánh giá tiềm năng kali của đất. Nguyễn Vy, Trần Khải (1978) lưu ý việc tính đến đồng thời cả thành phần cấp hạt và tính chất khoáng sét để dự báo hàm lượng kali trong đất. Sự phân bố về mức kali trong đất thực chất phụ thuộc vào đá mẹ, mức độ phong hoá, địa hình và chế độ canh tác.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Khi phân tích kali tổng số (K2O, %) trong đất người ta thường dùng các tổ hợp ít nhất hai axít mạnh (HNO3, HCl, H2SO4, HClO4) và gần như cho kết quả giống nhau. Gần đây, khi nghiên cứu các phương pháp phân tích kali thích hợp cho đất Việt Nam, các nhà phân tích cho rằng phải dùng các dịch chiết có axit mạnh và HF (HF, H2SO4, HClO4) mới có thể chiết hết K ra khỏi khoáng đất. Tuy vậy các lý luận thân thiện đối với môi trường đều không ủng hộ phương án này vì HF rất độc và không cần thiết phải đi đến tột cùng mới đánh giá được thực trạng kali trong đất. Số liệu phân tích năm 2003 trên 214 mẫu đất phù sa của Việt Nam cho thấy, hầu hết đất phù sa sông Hồng có hàm lượng kali tổng số dao động từ 1,18-1,48%, hàm lượng kali trong đất phù sa sông Hồng cao hơn đất phù sa hệ thống sông Cửu Long (1,11-1,28%) và cao hơn nhiều so với kali trong đất phù sa các sông khác (0,74-0,93%). Chính thành phần khoáng sét và thành phần cấp hạt đã làm giàu kali trong đất phù sa sông Hồng và theo đó đã làm cho các sản phẩm cây trồng trên đất phù sa sông Hồng có các chất lượng đặc biệt mà các vùng miền khác không có. Cũng cần cảnh báo rằng so với các kết quả phân tích trước đây, lượng kali tổng số trong đất phù sa sông Hồng cũng đang có chiều hướng giảm đi.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
{| class=&amp;quot;wikitable&amp;quot; style=&amp;quot;margin-left: auto; margin-right: auto; border: none;&amp;quot;&lt;br /&gt;
|+ Bảng 2:  Kali tổng số (K2O, %) trong các loại đất phù sa các hệ thống sông&lt;br /&gt;
|-&lt;br /&gt;
! Thông số thống kê !! Nhóm đất phù sa !! Đất phù sa Sông Hồng !! Đất phù sa sông Cửu Long !! Đất phù sa các sông khác&lt;br /&gt;
|-&lt;br /&gt;
| Số mẫu || 214 || 50 || 58 || 106&lt;br /&gt;
|-&lt;br /&gt;
| Trung bình (&amp;lt;math&amp;gt;\bar{\text{m}}&amp;lt;/math&amp;gt;), % || 1,055 || 1,336 || 1,202 || 0,843&lt;br /&gt;
|-&lt;br /&gt;
| Độ lệch chuẩn || 0,506 || 0,524 || 0,324 || 0,490&lt;br /&gt;
|-&lt;br /&gt;
| Trung vị, % || 1,109 || 1,394 || 1,235 || 0,752&lt;br /&gt;
|-&lt;br /&gt;
| &amp;lt; &amp;lt;math&amp;gt;\bar{\text{m}}&amp;lt;/math&amp;gt;, 95% &amp;lt; ; % || 0,987 - 1,123 || 1,187 - 1,485 || 1,116 - 1,287 || 0,748 - 0,937&lt;br /&gt;
|}&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Các tính chất hóa học khác của đất phù sa sông Hồng==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Đất phù sa sông Hồng có độ no bazơ cao (80-85%), canxi trao đổi 7,1-15,4 cmolc kg-1, magiê trao đổi 1,8-5,7 cmolc kg-1, đạm tổng số 0,12-0,26%, lân tổng số 0,08-0,13%; lân dễ tiêu phổ biến 12,0-15,0 mg/100 g đất, hàm lượng lưu huỳnh trong đất thấp. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Sức sản xuất của đất phù sa sông Hồng==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Đất phù sa sông Hồng là loại đất có độ phì nhiêu tự nhiên rất cao và đồng nhất với độ phì nhiêu thực tế hay còn gọi là sức sản xuất của đất, thích hợp với hầu hết các loại cây trồng với hình thức thâm canh đa dạng. Trên đất phù sa sông Hồng đã hình thành nên nền văn minh lúa nước lâu đời của vùng đồng bằng. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Hiện nay hệ thống cây trồng vùng đồng bằng sông Hồng (ĐBSH) cũng tương tự như vùng đồng bằng sông Cửu Long và các nước Đông Nam châu Á với khí hậu gió mùa gồm có lúa, hoa màu, cây ăn quả và cây công nghiệp ngắn ngày, nhưng cây lúa vẫn là cây trồng chủ yếu.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Căn cứ vào điều kiện tự nhiên, kinh tế-xã hội cũng như sự tiến triển của hệ thống cây trồng trong quá khứ, hiện trạng hệ thống cây trồng chính của vùng đồng bằng sông Hồng có các công thức luân canh phổ biến là : 1 vụ lúa/năm, 2 vụ lúa/năm, 2 vụ lúa + 1 vụ màu/năm, 1 vụ lúa + 1 vụ màu/năm, 1 vụ lúa + 2 vụ màu/năm và chuyên màu. Gần đây xuất hiện các công thức luân canh 4 vụ/năm.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Tuy là vùng có nghề trồng lúa nước là chính, nhưng vùng đồng bằng sông Hồng có các tiểu vùng sinh thái khác nhau nên cơ cấu cây trồng, gắn vào đó cơ cấu giống và cơ cấu mùa vụ của mỗi tiểu vùng cũng khác nhau. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Hiện trạng hệ thống cây trồng vùng ĐBSH được mô tả theo các chân ruộng có đặc thù sinh thái khác nhau:&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
* Trên chân ruộng trũng;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
* Trên chân ruộng vàn và cao;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
* Trên chân bãi ngoài đê;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
* Trên chân ruộng mặn, phèn ven sông nước mặn và ven biển.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Hiện tại toàn bộ diện tích đất phù sa sông Hồng đã được đưa vào sản xuất với sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật như các cuộc cách mạng về giống, phương thức canh tác, chế độ tưới, tiềm năng của đất phù sa sông Hồng đang được khai thác triệt để. Trên những cánh đồng phù sa không phải chỉ có lúa mà còn có các cây trồng khác với những hình thức thâm canh và cơ cấu mùa vụ rất khác nhau. Đối với đất phù sa sông Hồng trồng lúa thường có cơ cấu: 2 vụ lúa, 2 vụ lúa + 1 màu, 1 lúa + 2 màu hoặc 2 lúa –nhiều vụ màu. Năng suất lúa trung bình trên đất phù sa sông Hồng đạt 6 tấn/vụ và nhiều nơi đạt trên 10 tấn/vụ (2018).&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Trên đất phù sa sông Hồng cũng đã tạo nên những vùng thâm canh cao: chuyên rau, chuyên hoa, chuyên cây ăn quả (vải, nhãn, chuối, bưởi, ổi, cam, quýt...), cho thu nhập từ vài trăm triệu đồng đến trên 1 tỷ đồng/ha/năm.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Cây trồng trên đất phù sa sông Hồng không chỉ có năng suất cao mà còn có chất lượng đặc biệt, các đặc sản phù sa sông Hồng như nếp cái hoa vàng, vải thiều Thanh Hà, bưởi Diễn, cam Canh, nhãn lồng Hưng Yên, chuối ngự Đại hoàng, húng Láng đã từ lâu đi vào sử sách và như là đặc sản riêng biệt của vùng châu thổ sông Hồng.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Hình thái phẫu diện điển hình đất phù sa sông Hồng &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Thông tin: Phẫu diện N5. Xây dựng tiêu chuẩn chất lượng nền môi trường nhóm đất phù sa của Việt Nam, 2001-2003.&lt;br /&gt;
 &lt;br /&gt;
==Tài liệu tham khảo==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
* Nguyễn Quang Hải, Hồ Quang Đức, Khoáng sét đất Việt Nam trong mối quan hệ với quá trình hình thành đất, Viện Thổ nhưỡng Nông hóa, Kết quả nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ, 50 năm xây dựng và phát triển, Nhà xuất bản Nông nghiệp. Hà Nội, tr. 58-68, 2019.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
* Nguyễn Vy, Trần Khải, Hóa học đất miền Bắc Việt Nam, Nhà xuất bản Khoa học Kỹ thuật, Hà Nội, 1978.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
* Phạm Quang Hà, Nghiên cứu xây dựng tiêu chuẩn chất lượng nền nhóm đất phù sa của Việt Nam, Viện Thổ nhưỡng Nông hóa, Hà Nội, 2003.&lt;/div&gt;</summary>
		<author><name>Tttrung</name></author>
	</entry>
	<entry>
		<id>https://bktt.vn/index.php?title=Nguy%C3%AAn_t%E1%BB%91_ph%C3%B3ng_x%E1%BA%A1_t%E1%BB%B1_nhi%C3%AAn&amp;diff=20900</id>
		<title>Nguyên tố phóng xạ tự nhiên</title>
		<link rel="alternate" type="text/html" href="https://bktt.vn/index.php?title=Nguy%C3%AAn_t%E1%BB%91_ph%C3%B3ng_x%E1%BA%A1_t%E1%BB%B1_nhi%C3%AAn&amp;diff=20900"/>
		<updated>2022-10-14T07:19:21Z</updated>

		<summary type="html">&lt;p&gt;Tttrung: &lt;/p&gt;
&lt;hr /&gt;
&lt;div&gt;Một nguyên tố được gọi là nguyên tố phóng xạ nếu tất cả các đồng vị của nó đều là đồng vị phóng xạ, không có đồng vị nào là bền. '''Nguyên tố phóng xạ tự nhiên''' là nguyên tố phóng xạ có trong tự nhiên với nồng độ đáng kể.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Những nguyên tố phóng xạ tự nhiên được tìm thấy đầu tiên được liệt kê trong bảng dưới.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
{| class=&amp;quot;wikitable&amp;quot; style=&amp;quot;margin-left: auto; margin-right: auto; border: none;&amp;quot;&lt;br /&gt;
|+ Bảng 1. Các nguyên tố phóng xạ tự nhiên&lt;br /&gt;
|-&lt;br /&gt;
! style=&amp;quot;width: 3em; margin-left: auto; margin-right: auto;&amp;quot; | Điện tích hạt nhân Z !! style=&amp;quot;width: 10em;&amp;quot; | Tên và ký hiệu hoá học !! style=&amp;quot;width: 15em;&amp;quot; | Đồng vị sống dài nhất !! style=&amp;quot;width: 10em;&amp;quot; | Người và năm phát minh !! style=&amp;quot;width: 15em;&amp;quot; | Đặc điểm quan trọng&lt;br /&gt;
|-&lt;br /&gt;
| 84 || Poloni (Po) || &amp;lt;sup&amp;gt;209&amp;lt;/sup&amp;gt;Po (102 năm) || 1898 P.&amp;amp; M. Curie || Về mặt hoá học giống tellur&lt;br /&gt;
|-&lt;br /&gt;
| 85 || Astati (At) || &amp;lt;sup&amp;gt;210&amp;lt;/sup&amp;gt;At (8,1 h) || 1940 Corson, McKenzie &amp;amp; Segrè || Thuộc nhóm halogen, ở dạng đơn chất dễ bay hơi&lt;br /&gt;
|-&lt;br /&gt;
| 86 || Radon (Rn) || &amp;lt;sup&amp;gt;222&amp;lt;/sup&amp;gt;Rn (3,62 ngày) || 1900 Rutherford, Soddy || Khí trơ&lt;br /&gt;
|-&lt;br /&gt;
| 87 || Franxi (Fr) || &amp;lt;sup&amp;gt;223&amp;lt;/sup&amp;gt;Fr (22 min) || 1939 Perey || Kim loại kiềm thổ, về hoá học rất giống Xêsi&lt;br /&gt;
|-&lt;br /&gt;
| 88 || Rađi (Ra) || &amp;lt;sup&amp;gt;226&amp;lt;/sup&amp;gt;Ra (1600 năm) || 1898 P.&amp;amp; M. Curie || Kim loại kiềm thổ, về hoá học rất giống bari&lt;br /&gt;
|-&lt;br /&gt;
| 89 || Actini (Ac) || &amp;lt;sup&amp;gt;227&amp;lt;/sup&amp;gt;Ac (21,6 năm) || 1899 Debierne || Về mặt hoá học giống lantanit, tính bazơ mạnh hơn&lt;br /&gt;
|-&lt;br /&gt;
| 90 || Thori (Th) || &amp;lt;sup&amp;gt;232&amp;lt;/sup&amp;gt;Th (1,41.10&amp;lt;sup&amp;gt;10&amp;lt;/sup&amp;gt; năm) || 1828 Berzelius || Thường chỉ thể hiện hoá trị (IV), Tạo ra nhiều phức chất, Th&amp;lt;sup&amp;gt;4+&amp;lt;/sup&amp;gt; thuỷ phân mạnh, về mặt hoá học giống Ce&amp;lt;sup&amp;gt;4+&amp;lt;/sup&amp;gt;, Zr&amp;lt;sup&amp;gt;4+&amp;lt;/sup&amp;gt;, Hf&amp;lt;sup&amp;gt;4+&amp;lt;/sup&amp;gt;.&lt;br /&gt;
|-&lt;br /&gt;
| 91 || Protactini (Pa) || &amp;lt;sup&amp;gt;231&amp;lt;/sup&amp;gt;Pa (3,28.10&amp;lt;sup&amp;gt;4&amp;lt;/sup&amp;gt; năm) || 1917 Hahn &amp;amp; Meitner || Chủ yếu có số oxi hoá (V), ion Pa&amp;lt;sup&amp;gt;5+&amp;lt;/sup&amp;gt; bị thuỷ phân mạnh trong dung dịch, tạo phức mạnh, hình thành keo phóng xạ.&lt;br /&gt;
|-&lt;br /&gt;
| 92 || Urani (U) || &amp;lt;sup&amp;gt;238&amp;lt;/sup&amp;gt;U (4,47.10&amp;lt;sup&amp;gt;9&amp;lt;/sup&amp;gt; năm) || 1789 Klaproth || Thể hiện các số oxi hoá từ (III) đến (VI) (-u tiên hoá trị (VI), tạo thành các ion U&amp;lt;sup&amp;gt;4+&amp;lt;/sup&amp;gt;, UO&amp;lt;sub&amp;gt;2&amp;lt;/sub&amp;gt;&amp;lt;sup&amp;gt;+&amp;lt;/sup&amp;gt; và UO&amp;lt;sub&amp;gt;2&amp;lt;/sub&amp;gt;&amp;lt;sup&amp;gt;2+&amp;lt;/sup&amp;gt; trong dung dịch.)&lt;br /&gt;
|}&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Các nguyên tố urani và thori đã được các nhà hóa học biết từ lâu trước khi phát hiện ra hiện tượng phóng xạ. Chúng có mặt trong nhiều loại quặng, đất đá, nước sông biển, không khí và trong cơ thể động thực vật. Một số đồng vị của urani và thori có thời gian bán hủy dài đến mức là chúng đã có mặt trong vỏ trái đất từ khi quả đất hình thành cho đến tận bây giờ.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Các đồng vị của thori và urani là các đồng vị mẹ của 3 họ phóng xạ: họ thori, họ urani-radi và họ actini.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
*Họ phóng xạ thori bao gồm các đồng vị con cháu: Th-232; Ra 228 (MsTh&amp;lt;sub&amp;gt;1&amp;lt;/sub&amp;gt;); Ac 238 (MsTh&amp;lt;sub&amp;gt;2&amp;lt;/sub&amp;gt;); Th228 (RdTh); Ra-224 (ThX); Rn-220 (Tn); Po-216 (ThA); Pb-212(ThB); Bi-212(ThC); Po-212&lt;br /&gt;
(ThC’); Tl-208 (ThC’’); Pb-208 (ThD)&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
*Họ phóng xạ urani-radi bao gồm: U-238 (UI); Th-234 (UX&amp;lt;sub&amp;gt;1&amp;lt;/sub&amp;gt;); Pa-234 (UX&amp;lt;sub&amp;gt;2&amp;lt;/sub&amp;gt;); Pa-234 (UZ); U234(UII); Th-230(I&amp;lt;sub&amp;gt;0&amp;lt;/sub&amp;gt;); Ra-226; Rn (222); Po-218 (RaA); Pb-214(RaB); At-218 Bi-214(RaC);Po214(RaC’);Th-210(RaC’’);Pb-210(RaD);Hg-206;Bi-210 (RaE);Tl-206 (RaE’); Po-210(Ra F); Pb206 (RaG)&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
*Họ phóng xạ actini bao gồm: U-235 (AcU); Th-232 (UY); Pa-231; Ac-235; Th-227(RdAc);Fr223 (AcK); Ra-223 (AcX); At-219; Rn-219(An); Bi-215; Po-215 (Ac);Pb-211 (AcB); At-215; Bi211 (AcC); Po-211m; Po211(Ac’); Tl-207 (AcC’’); Pb-224 (AcD)&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Một phần nhỏ các chất phóng xạ trong tự nhiên nằm trong khí quyển là các nguyên tố nhẹ, như &amp;lt;sup&amp;gt;14&amp;lt;/sup&amp;gt;C, &amp;lt;sup&amp;gt;10&amp;lt;/sup&amp;gt;Be, &amp;lt;sup&amp;gt;7&amp;lt;/sup&amp;gt;Be và &amp;lt;sup&amp;gt;3&amp;lt;/sup&amp;gt;H. Bảng 2 thống kê các nguyên tố phóng xạ tự nhiên có thời gian bán huỷ &amp;gt; 1 ngày.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
{| class=&amp;quot;wikitable&amp;quot; style=&amp;quot;margin-left: auto; margin-right: auto; border: none;&amp;quot;&lt;br /&gt;
|+ Bảng 2. Các đồng vị phóng xạ tự nhiên có thời gian bán hủy &amp;gt; 1 ngày&lt;br /&gt;
|-&lt;br /&gt;
! style=&amp;quot;width:5em;&amp;quot; | Ký hiệu !! Thời gian bán huỷ !! Dạng bức xạ !! style=&amp;quot;width:10em;&amp;quot; | Hàm lượng đồng vị trong tự nhiên (%) !! style=&amp;quot;width:10em;&amp;quot; | Chú thích&lt;br /&gt;
|-&lt;br /&gt;
| &amp;lt;sup&amp;gt;238&amp;lt;/sup&amp;gt;U (UI=Urani) || 4,47.10&amp;lt;sup&amp;gt;9&amp;lt;/sup&amp;gt;(năm) || &amp;amp;alpha;, &amp;amp;gamma;, e&amp;lt;sup&amp;gt;-&amp;lt;/sup&amp;gt;(sf) || 99,276 || style=&amp;quot;border-style: none solid none solid;&amp;quot; |&lt;br /&gt;
|-&lt;br /&gt;
| &amp;lt;sup&amp;gt;234&amp;lt;/sup&amp;gt;U (UII) || 2,44.10&amp;lt;sup&amp;gt;5&amp;lt;/sup&amp;gt;(năm) || &amp;amp;alpha;, &amp;amp;gamma;, e&amp;lt;sup&amp;gt;-&amp;lt;/sup&amp;gt;(sf) || 0,0055 || style=&amp;quot;border-style: none solid none solid;&amp;quot; |&lt;br /&gt;
|-&lt;br /&gt;
| &amp;lt;sup&amp;gt;234&amp;lt;/sup&amp;gt;Th (UX1) || 24,1 (ngày) || &amp;amp;beta;&amp;lt;sup&amp;gt;-&amp;lt;/sup&amp;gt;, &amp;amp;gamma;, e&amp;lt;sup&amp;gt;-&amp;lt;/sup&amp;gt; ||  || style=&amp;quot;border-style: none solid none solid;&amp;quot; |&lt;br /&gt;
|-&lt;br /&gt;
| &amp;lt;sup&amp;gt;230&amp;lt;/sup&amp;gt;Th (Ioni) || 7,7.10&amp;lt;sup&amp;gt;4&amp;lt;/sup&amp;gt;(năm) || &amp;amp;alpha;, &amp;amp;gamma; (sf) || || style=&amp;quot;border-style: none solid none solid;&amp;quot; |&lt;br /&gt;
|-&lt;br /&gt;
| &amp;lt;sup&amp;gt;236&amp;lt;/sup&amp;gt;Ra (Radi) || 1600 (năm) || &amp;amp;alpha;, &amp;amp;gamma; || || style=&amp;quot;border-style: none solid none solid;&amp;quot; | Họ urani&lt;br /&gt;
|-&lt;br /&gt;
| &amp;lt;sup&amp;gt;222&amp;lt;/sup&amp;gt;Rn (Radon) || 3,82 (ngày) || &amp;amp;alpha;, &amp;amp;gamma; || || style=&amp;quot;border-style: none solid none solid;&amp;quot; |&lt;br /&gt;
|-&lt;br /&gt;
| &amp;lt;sup&amp;gt;210&amp;lt;/sup&amp;gt;Po (RaF) || 138,4 (ngày) || &amp;amp;alpha;, &amp;amp;gamma; || || style=&amp;quot;border-style: none solid none solid;&amp;quot; |&lt;br /&gt;
|-&lt;br /&gt;
| &amp;lt;sup&amp;gt;210&amp;lt;/sup&amp;gt;Bi (RaE) || 5,0 (ngày) || &amp;amp;beta;&amp;lt;sup&amp;gt;-&amp;lt;/sup&amp;gt;, &amp;amp;gamma;(&amp;amp;alpha;) || || style=&amp;quot;border-style: none solid none solid;&amp;quot; |&lt;br /&gt;
|-&lt;br /&gt;
| &amp;lt;sup&amp;gt;210&amp;lt;/sup&amp;gt;Pb (RaD) || 22,3 (năm) || &amp;amp;beta;&amp;lt;sup&amp;gt;-&amp;lt;/sup&amp;gt;, &amp;amp;gamma;, e&amp;lt;sup&amp;gt;-&amp;lt;/sup&amp;gt;(&amp;amp;alpha;) || || style=&amp;quot;border-style: none solid none solid;&amp;quot; |&lt;br /&gt;
|-&lt;br /&gt;
| &amp;lt;sup&amp;gt;235&amp;lt;/sup&amp;gt;U (AcU=Actinourani) ||  7,04.10&amp;lt;sup&amp;gt;4&amp;lt;/sup&amp;gt;(năm) || &amp;amp;alpha;, &amp;amp;gamma; (sf) || 0,720 || style=&amp;quot;border-style: solid solid none solid;&amp;quot; |&lt;br /&gt;
|-&lt;br /&gt;
| &amp;lt;sup&amp;gt;231&amp;lt;/sup&amp;gt;Th (UY) || 25,5 (giờ) || &amp;amp;beta;&amp;lt;sup&amp;gt;-&amp;lt;/sup&amp;gt;, &amp;amp;gamma; || || style=&amp;quot;border-style: none solid none solid;&amp;quot; |&lt;br /&gt;
|-&lt;br /&gt;
| &amp;lt;sup&amp;gt;231&amp;lt;/sup&amp;gt;Pa (Protactini) || 3,28.10&amp;lt;sup&amp;gt;4&amp;lt;/sup&amp;gt;(năm) || &amp;amp;alpha;, &amp;amp;gamma; || || style=&amp;quot;border-style: none solid none solid;&amp;quot; | Họ actini&lt;br /&gt;
|-&lt;br /&gt;
| &amp;lt;sup&amp;gt;227&amp;lt;/sup&amp;gt;Th (RdAc=Radioactini) || 18,72 (ngày) || &amp;amp;alpha;, &amp;amp;gamma;, e&amp;lt;sup&amp;gt;-&amp;lt;/sup&amp;gt; || || style=&amp;quot;border-style: none solid none solid;&amp;quot; |&lt;br /&gt;
|-&lt;br /&gt;
| &amp;lt;sup&amp;gt;227&amp;lt;/sup&amp;gt;Ac (Actini) || 21,6 (năm) || &amp;amp;beta;&amp;lt;sup&amp;gt;-&amp;lt;/sup&amp;gt;, &amp;amp;gamma;, e&amp;lt;sup&amp;gt;-&amp;lt;/sup&amp;gt;(&amp;amp;alpha;) || || style=&amp;quot;border-style: none solid none solid;&amp;quot; |&lt;br /&gt;
|-&lt;br /&gt;
| &amp;lt;sup&amp;gt;223&amp;lt;/sup&amp;gt;Ra (AcX=Actini X) || 11,43 (ngày) || &amp;amp;alpha;, &amp;amp;gamma; || || style=&amp;quot;border-style: none solid solid solid;&amp;quot; |&lt;br /&gt;
|-&lt;br /&gt;
| &amp;lt;sup&amp;gt;232&amp;lt;/sup&amp;gt;Th (Thori) || 1,405.10&amp;lt;sup&amp;gt;10&amp;lt;/sup&amp;gt; (năm) || &amp;amp;alpha;, &amp;amp;gamma;, e&amp;lt;sup&amp;gt;-&amp;lt;/sup&amp;gt;(sf) || 100 || style=&amp;quot;border-style: none solid none solid;&amp;quot; |&lt;br /&gt;
|-&lt;br /&gt;
| &amp;lt;sup&amp;gt;228&amp;lt;/sup&amp;gt;Th (RdTh=Radiothori) || 1,91.10&amp;lt;sup&amp;gt;9&amp;lt;/sup&amp;gt;(năm) || &amp;amp;alpha;, &amp;amp;gamma;, e&amp;lt;sup&amp;gt;-&amp;lt;/sup&amp;gt; || || style=&amp;quot;border-style: none solid none solid;&amp;quot; |&lt;br /&gt;
|-&lt;br /&gt;
| &amp;lt;sup&amp;gt;228&amp;lt;/sup&amp;gt;Ra (MsTh1=Mesothori 1) || 5,75 (năm) ||&amp;amp;beta;&amp;lt;sup&amp;gt;-&amp;lt;/sup&amp;gt;, &amp;amp;gamma;, e&amp;lt;sup&amp;gt;-&amp;lt;/sup&amp;gt; || || style=&amp;quot;border-style: none solid none solid;&amp;quot; | Họ thori&lt;br /&gt;
|-&lt;br /&gt;
| &amp;lt;sup&amp;gt;224&amp;lt;/sup&amp;gt;Ra (ThX=Thori X) || 3,66 (ngày) || &amp;amp;alpha;, &amp;amp;gamma; || || style=&amp;quot;border-style: none solid solid solid;&amp;quot; |&lt;br /&gt;
|-&lt;br /&gt;
| &amp;lt;sup&amp;gt;204&amp;lt;/sup&amp;gt;Pb || 1,4.10&amp;lt;sup&amp;gt;17&amp;lt;/sup&amp;gt; (năm) || &amp;amp;alpha; || 1,4 || &lt;br /&gt;
|-&lt;br /&gt;
| &amp;lt;sup&amp;gt;190&amp;lt;/sup&amp;gt;Pt || 6,1.10&amp;lt;sup&amp;gt;11&amp;lt;/sup&amp;gt; (năm) || &amp;amp;alpha; || 0,0127 ||&lt;br /&gt;
|-&lt;br /&gt;
| &amp;lt;sup&amp;gt;186&amp;lt;/sup&amp;gt;Os || 2,0.10&amp;lt;sup&amp;gt;15&amp;lt;/sup&amp;gt; (năm) || &amp;amp;alpha; || 1,6 ||&lt;br /&gt;
|-&lt;br /&gt;
| &amp;lt;sup&amp;gt;187&amp;lt;/sup&amp;gt;Re || 5.10&amp;lt;sup&amp;gt;10&amp;lt;/sup&amp;gt; (năm) || &amp;amp;beta;&amp;lt;sup&amp;gt;-&amp;lt;/sup&amp;gt; || 62,60 ||&lt;br /&gt;
|-&lt;br /&gt;
| &amp;lt;sup&amp;gt;174&amp;lt;/sup&amp;gt;Hf || 2,0.10&amp;lt;sup&amp;gt;15&amp;lt;/sup&amp;gt; (năm) || &amp;amp;alpha; || 0,18 ||&lt;br /&gt;
|-&lt;br /&gt;
| &amp;lt;sup&amp;gt;176&amp;lt;/sup&amp;gt;Lu || 3,6.10&amp;lt;sup&amp;gt;9&amp;lt;/sup&amp;gt;(năm) || &amp;amp;beta;&amp;lt;sup&amp;gt;-&amp;lt;/sup&amp;gt;, &amp;amp;gamma;, e&amp;lt;sup&amp;gt;-&amp;lt;/sup&amp;gt; || 2,60 ||&lt;br /&gt;
|-&lt;br /&gt;
| &amp;lt;sup&amp;gt;152&amp;lt;/sup&amp;gt;Gd || 1,1.10&amp;lt;sup&amp;gt;14&amp;lt;/sup&amp;gt; (năm) || &amp;amp;alpha; || 0,20 ||&lt;br /&gt;
|-&lt;br /&gt;
| &amp;lt;sup&amp;gt;147&amp;lt;/sup&amp;gt;Sm || 1,05.10&amp;lt;sup&amp;gt;11&amp;lt;/sup&amp;gt; (năm) || &amp;amp;alpha; || 15,0 ||&lt;br /&gt;
|-&lt;br /&gt;
| &amp;lt;sup&amp;gt;148&amp;lt;/sup&amp;gt;Sm || 7.10&amp;lt;sup&amp;gt;15&amp;lt;/sup&amp;gt; (năm) || &amp;amp;alpha; || 11,2 ||&lt;br /&gt;
|-&lt;br /&gt;
| &amp;lt;sup&amp;gt;144&amp;lt;/sup&amp;gt;Nd || 2,1.10&amp;lt;sup&amp;gt;15&amp;lt;/sup&amp;gt; (năm) || &amp;amp;alpha; || 23,9 ||&lt;br /&gt;
|-&lt;br /&gt;
| &amp;lt;sup&amp;gt;138&amp;lt;/sup&amp;gt;La || 1,35.10&amp;lt;sup&amp;gt;11&amp;lt;/sup&amp;gt; (năm) || &amp;amp;epsilon;, &amp;amp;beta;&amp;lt;sup&amp;gt;-&amp;lt;/sup&amp;gt;, &amp;amp;gamma; || 0,09 ||&lt;br /&gt;
|-&lt;br /&gt;
| &amp;lt;sup&amp;gt;123&amp;lt;/sup&amp;gt;Te || 1,24.10&amp;lt;sup&amp;gt;13&amp;lt;/sup&amp;gt; (năm) || &amp;amp;epsilon; || 0,87 ||&lt;br /&gt;
|-&lt;br /&gt;
| &amp;lt;sup&amp;gt;115&amp;lt;/sup&amp;gt;In || 5,1.10&amp;lt;sup&amp;gt;15&amp;lt;/sup&amp;gt; (năm) || &amp;amp;beta;&amp;lt;sup&amp;gt;-&amp;lt;/sup&amp;gt; || 95,7 ||&lt;br /&gt;
|-&lt;br /&gt;
| &amp;lt;sup&amp;gt;113&amp;lt;/sup&amp;gt;Cd || 9.10&amp;lt;sup&amp;gt;15&amp;lt;/sup&amp;gt; (năm) || &amp;amp;beta;&amp;lt;sup&amp;gt;-&amp;lt;/sup&amp;gt; || 12,3 ||&lt;br /&gt;
|-&lt;br /&gt;
| &amp;lt;sup&amp;gt;87&amp;lt;/sup&amp;gt;Rb || 4,7.10&amp;lt;sup&amp;gt;10&amp;lt;/sup&amp;gt; (năm) || &amp;amp;beta;&amp;lt;sup&amp;gt;-&amp;lt;/sup&amp;gt; || 27,83 ||&lt;br /&gt;
|-&lt;br /&gt;
| &amp;lt;sup&amp;gt;40&amp;lt;/sup&amp;gt;K || 1,28.10&amp;lt;sup&amp;gt;9&amp;lt;/sup&amp;gt;(năm) || &amp;amp;beta;&amp;lt;sup&amp;gt;-&amp;lt;/sup&amp;gt;, &amp;amp;epsilon;, &amp;amp;beta;&amp;lt;sup&amp;gt;+&amp;lt;/sup&amp;gt;, &amp;amp;gamma; || 0,012 ||&lt;br /&gt;
|-&lt;br /&gt;
| &amp;lt;sup&amp;gt;14&amp;lt;/sup&amp;gt;C || 5730 (năm) || &amp;amp;beta;&amp;lt;sup&amp;gt;-&amp;lt;/sup&amp;gt; || || style=&amp;quot;border-style: none solid none solid;&amp;quot; |&lt;br /&gt;
|-&lt;br /&gt;
| &amp;lt;sup&amp;gt;10&amp;lt;/sup&amp;gt;Be || 1,6.10&amp;lt;sup&amp;gt;6&amp;lt;/sup&amp;gt; (năm) || &amp;amp;beta;&amp;lt;sup&amp;gt;-&amp;lt;/sup&amp;gt; || || style=&amp;quot;border-style: none solid none solid;&amp;quot; | Xuất hiện trong khí quyển do các tia vũ trụ&lt;br /&gt;
|-&lt;br /&gt;
| &amp;lt;sup&amp;gt;7&amp;lt;/sup&amp;gt;Be || 53,4 (ngày) || &amp;amp;epsilon;, &amp;amp;gamma; || || style=&amp;quot;border-style: none solid none solid;&amp;quot; |&lt;br /&gt;
|-&lt;br /&gt;
| &amp;lt;sup&amp;gt;3&amp;lt;/sup&amp;gt;H || 12,346 (năm) || &amp;amp;beta;&amp;lt;sup&amp;gt;-&amp;lt;/sup&amp;gt; || || style=&amp;quot;border-style: none solid solid solid;&amp;quot; |&lt;br /&gt;
|}&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Nguồn gốc và phân bố==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Dễ dàng thấy rằng phần lớn các nguyên tố phóng xạ tự nhiên là các nguyên tố nặng, phân bố rộng rãi trong thạch quyển, quan trọng nhất là quặng urani, quặng thori, bao gồm cả các sản phẩm phân rã của urani và thori, các mỏ muối kali.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
{| class=&amp;quot;wikitable&amp;quot; style=&amp;quot;margin-left: auto; margin-right: auto; border: none;&amp;quot;&lt;br /&gt;
|+ Bảng 3. Các khoáng vật của urani và thori&lt;br /&gt;
|-&lt;br /&gt;
! Khoáng vật !! Thành phần hoá học !! Hàm lượng Urani (%) !! Hàm lượng Thori (%) !! Mỏ&lt;br /&gt;
|-&lt;br /&gt;
| Pitchblende || U&amp;lt;sub&amp;gt;3&amp;lt;/sub&amp;gt;O&amp;lt;sub&amp;gt;3&amp;lt;/sub&amp;gt; || 60 - 90 ||  || Bohemia, Congo, Colorado (Mỹ)&lt;br /&gt;
|-&lt;br /&gt;
| Becquerelit || 2UO&amp;lt;sub&amp;gt;3&amp;lt;/sub&amp;gt;.3H&amp;lt;sub&amp;gt;2&amp;lt;/sub&amp;gt;O || 74 ||  || Bayern (Đức), Congo&lt;br /&gt;
|-&lt;br /&gt;
| Uraninit || rowspan=&amp;quot;3&amp;quot; | UO&amp;lt;sub&amp;gt;2&amp;lt;/sub&amp;gt;.UO&amp;lt;sub&amp;gt;3&amp;lt;/sub&amp;gt; || 65 - 75 || 0,5 - 10 || Nhật, Mỹ, Canađa&lt;br /&gt;
|-&lt;br /&gt;
| Broeggerit || 48 - 75 || 6 - 12 || Na-uy&lt;br /&gt;
|-&lt;br /&gt;
| Cleveit || 48 - 66 || 3,5 - 4,5 || Na-uy, Nhật, Texas (Mỹ)&lt;br /&gt;
|-&lt;br /&gt;
| Autunit || Ca(UO&amp;lt;sub&amp;gt;2&amp;lt;/sub&amp;gt;)&amp;lt;sub&amp;gt;2&amp;lt;/sub&amp;gt;(PO&amp;lt;sub&amp;gt;4&amp;lt;/sub&amp;gt;)&amp;lt;sub&amp;gt;2&amp;lt;/sub&amp;gt;.nH&amp;lt;sub&amp;gt;2&amp;lt;/sub&amp;gt;O || 50-60 ||  || Pháp, Mađagasca, Bồ-đào-nha, Mỹ&lt;br /&gt;
|-&lt;br /&gt;
| Cacnotit || K(UO&amp;lt;sub&amp;gt;2&amp;lt;/sub&amp;gt;)&amp;lt;sub&amp;gt;2&amp;lt;/sub&amp;gt;(VO&amp;lt;sub&amp;gt;4&amp;lt;/sub&amp;gt;)nH&amp;lt;sub&amp;gt;2&amp;lt;/sub&amp;gt;O || &amp;amp;asymp;45 ||  || Mỹ, Congo, Nga, Úc&lt;br /&gt;
|-&lt;br /&gt;
| Casolit || PbO.UO&amp;lt;sub&amp;gt;3&amp;lt;/sub&amp;gt;.SiO&amp;lt;sub&amp;gt;2&amp;lt;/sub&amp;gt;.H&amp;lt;sub&amp;gt;2&amp;lt;/sub&amp;gt;O || &amp;amp;asymp;40 || || Congo&lt;br /&gt;
|-&lt;br /&gt;
| Liebigit || Carbonat của U và Ca || &amp;amp;asymp;30 || || Nga, Australia&lt;br /&gt;
|-&lt;br /&gt;
| Thorianit || (Th,U)O&amp;lt;sub&amp;gt;2&amp;lt;/sub&amp;gt; || 4 - 28 || 60 - 90 || Xaylan, Mađagasca &lt;br /&gt;
|-&lt;br /&gt;
| Thorit || ThSiO&amp;lt;sub&amp;gt;4&amp;lt;/sub&amp;gt;.H&amp;lt;sub&amp;gt;2&amp;lt;/sub&amp;gt;O || 1 - 19 || 40 - 70 || Na-uy, Mỹ.&lt;br /&gt;
|-&lt;br /&gt;
| Monazit || Photphat của Th và đất hiếm ||  || 0,1 - 15 || Brazin, Ấn Độ, Nga, Na-uy, Mađagasca&lt;br /&gt;
|}&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Người ta cho rằng năng lượng kèm theo sự phân rã của các chất phóng xạ tự nhiên đóng góp một phần vào nhiệt độ của vỏ trái đất. Nhiệt độ tương đối caom vào khoảng 30&amp;amp;deg;C ở độ sâu từ 1 đến một vài km tính từ bề mặt trái đất, được giải thích bởi năng lương phân rã của các chất phóng xạ tự nhiên, chẳng hạn trong đá granit.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Do những rạn vỡ của vỏ trái đất và quá trình phong hoá, các nguyên tố phóng xạ di chuyển đi nơi khác và các cân bằng phóng xạ bị vi phạm. Các nguyên tố phóng xạ tách khỏi đất đá chứa các nguyên tố mẹ - urani và thori. Các nguyên tố phóng xạ ngắn ngày nhanh chóng biến mất, chỉ còn lại các nguyên tố phóng xạ dài ngày như &amp;lt;sup&amp;gt;230&amp;lt;/sup&amp;gt;Th, &amp;lt;sup&amp;gt;231&amp;lt;/sup&amp;gt;Pa và &amp;lt;sup&amp;gt;226&amp;lt;/sup&amp;gt;Ra. Nhưng các nguyên tố dài ngày này tạo thành những thể sa lắng thứ cấp, chẳng hạt các lớp sét màu xám và các bùn lắng trong hồ nước chứa Ra. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Ra có mặt trong đất, nước sông và nước biển. Do sự hiện diện rộng rãi của Ra trong tự nhiên, các hồ nước và khí quyển đều chứa các sản phẩm phân rã của nguyên tố này như: radon, thoron và actinon. Các sản phẩm khác của sự xạ khí , như các đồng vị của thali, chì, bismur, polonium và astatin, tồn tại ở trạng thái bụi trong không khí hoặc hoà tan trong nước.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Các nguyên tố phóng xạ tự nhiên chuyển từ đất vào thực vật và sau đó vào cơ thể động vật. Hàm lượng urani trong cây cối khoảng từ 10&amp;lt;sup&amp;gt;-5&amp;lt;/sup&amp;gt; đến 10&amp;lt;sup&amp;gt;-8&amp;lt;/sup&amp;gt;%, của radi khoảng 10&amp;lt;sup&amp;gt;-12&amp;lt;/sup&amp;gt;%. Hàm lương radi trong cơ thể động vật chừng 10-12%.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Ngoài urani, thori và các sản phẩm phân rã của chúng, trong tự nhiên cũng tồn tại các nguyên tố phóng xạ khác như các đồng vị phóng xạ của kali, canxi, rubidi...(xem bảng 2.). Hàm lượng của các nguyên tố này trong vỏ trái đất vào khoảng 0,1%. Cũng vì vậy trong cây cối và cơ thể động vật, ngoài urani, thori, radi và các sản phẩm phân rã của chúng, còn có các nguyên tố phóng xạ khác, chẳng hạn một lượng đáng kể đồng vị &amp;lt;sup&amp;gt;40&amp;lt;/sup&amp;gt;K.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Ngoài các quá trình phân rã phóng xạ tạo ra đồng vị thuộc các họ urani, actino-urani và thori, trong tự nhiên còn diễn ra nhiều quá trình hạt nhân dẫn đến sự hình thành các đồng vị phóng xạ. Hành tinh của chúng ta, các thiên thể khác cùng với không gian vũ trụ có thể xem là một phòng thí nghiệm đặc biệt, ở đó luôn diễn ra vô số các phản ứng hạt nhân với sự tạo thành nhiều đồng vị phóng xạ.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Các tia vũ trụ tác động lên không khí (hỗn hợp nitơ và oxi) có thể kích hoạt hạt nhân nguyên tử của chúng mà kết quả là xuất hiện các nơtron nhanh. Neutron bắn phá các hạt nhân nitơ tạo thành đồng vị &amp;lt;sup&amp;gt;14&amp;lt;/sup&amp;gt;C do phản ứng &amp;lt;sup&amp;gt;14&amp;lt;/sup&amp;gt;&amp;lt;sub&amp;gt;7&amp;lt;/sub&amp;gt;N(n,p)&amp;lt;sup&amp;gt;14&amp;lt;/sup&amp;gt;&amp;lt;sub&amp;gt;6&amp;lt;/sub&amp;gt;C. Quá trình ấy tạo ra một lượng lớn &amp;lt;sup&amp;gt;14&amp;lt;/sup&amp;gt;C trong khí quyển nằm dưới dạng phân tử carbon dioxide (CO&amp;lt;sub&amp;gt;2&amp;lt;/sub&amp;gt;) có thời gian bán huỷ là 5760 năm. Trong nhiều thế kỷ, cường độ của các tia vũ trụ hiển nhiên không hề thay đổi. Cacbon dioxide liên tục được tạo thành với tốc độ không đổi trong khí quyển. Sự phân rã &amp;lt;sup&amp;gt;14&amp;lt;/sup&amp;gt;C trong CO&amp;lt;sub&amp;gt;2&amp;lt;/sub&amp;gt; cũng diễn ra với tốc độ không đổi. Kết quả là CO&amp;lt;sub&amp;gt;2&amp;lt;/sub&amp;gt; trong khí quyển chứa một tỷ lệ bất biến CO&amp;lt;sub&amp;gt;2&amp;lt;/sub&amp;gt; phóng xạ. CO&amp;lt;sub&amp;gt;2&amp;lt;/sub&amp;gt; này được cây cối hấp thụ khi quang hợp làm cho hàm lượng cacbon phóng xạ trong động thực cũng không đổi. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Tài liệu tham khảo==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
* Đỗ Quý Sơn, Huỳnh Văn Trung, Cơ sở Hóa học phóng xạ, NXB Khoa học và kỹ thuật, 2008 &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
* K.H. Lieser, Nuclear and Radiochemistry Fundamentals and applications, WILEY-VCH, Weihem, 2001&lt;/div&gt;</summary>
		<author><name>Tttrung</name></author>
	</entry>
	<entry>
		<id>https://bktt.vn/index.php?title=C%C3%A1c_nguy%C3%AAn_t%E1%BB%91_ph%C3%B3ng_x%E1%BA%A1_t%E1%BB%B1_nhi%C3%AAn&amp;diff=20898</id>
		<title>Các nguyên tố phóng xạ tự nhiên</title>
		<link rel="alternate" type="text/html" href="https://bktt.vn/index.php?title=C%C3%A1c_nguy%C3%AAn_t%E1%BB%91_ph%C3%B3ng_x%E1%BA%A1_t%E1%BB%B1_nhi%C3%AAn&amp;diff=20898"/>
		<updated>2022-10-14T07:16:37Z</updated>

		<summary type="html">&lt;p&gt;Tttrung: Tttrung đã đổi Các nguyên tố phóng xạ tự nhiên thành Nguyên tố phóng xạ tự nhiên: tên gọn hơn&lt;/p&gt;
&lt;hr /&gt;
&lt;div&gt;#đổi [[Nguyên tố phóng xạ tự nhiên]]&lt;/div&gt;</summary>
		<author><name>Tttrung</name></author>
	</entry>
	<entry>
		<id>https://bktt.vn/index.php?title=Nguy%C3%AAn_t%E1%BB%91_ph%C3%B3ng_x%E1%BA%A1_t%E1%BB%B1_nhi%C3%AAn&amp;diff=20897</id>
		<title>Nguyên tố phóng xạ tự nhiên</title>
		<link rel="alternate" type="text/html" href="https://bktt.vn/index.php?title=Nguy%C3%AAn_t%E1%BB%91_ph%C3%B3ng_x%E1%BA%A1_t%E1%BB%B1_nhi%C3%AAn&amp;diff=20897"/>
		<updated>2022-10-14T07:16:37Z</updated>

		<summary type="html">&lt;p&gt;Tttrung: Tttrung đã đổi Các nguyên tố phóng xạ tự nhiên thành Nguyên tố phóng xạ tự nhiên: tên gọn hơn&lt;/p&gt;
&lt;hr /&gt;
&lt;div&gt;==Định nghĩa==&lt;br /&gt;
Một nguyên tố được gọi là nguyên tố phóng xạ nếu tất cả các đồng vị của nó đều là đồng vị phóng xạ, không có đồng vị nào là bền. Những nguyên tố phóng xạ có trong tự nhiên với nồng độ đáng kể gọi là '''nguyên tố phóng xạ tự nhiên''' (NTPXTN).&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
NTPXTN được tìm thấy đầu tiên được liệt kê trong bảng 1.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
{| class=&amp;quot;wikitable&amp;quot; style=&amp;quot;margin-left: auto; margin-right: auto; border: none;&amp;quot;&lt;br /&gt;
|+ Bảng 1. Các nguyên tố phóng xạ tự nhiên&lt;br /&gt;
|-&lt;br /&gt;
! style=&amp;quot;width: 3em; margin-left: auto; margin-right: auto;&amp;quot; | Điện tích hạt nhân Z !! style=&amp;quot;width: 10em;&amp;quot; | Tên và ký hiệu hoá học !! style=&amp;quot;width: 15em;&amp;quot; | Đồng vị sống dài nhất !! style=&amp;quot;width: 10em;&amp;quot; | Người và năm phát minh !! style=&amp;quot;width: 15em;&amp;quot; | Đặc điểm quan trọng&lt;br /&gt;
|-&lt;br /&gt;
| 84 || Poloni (Po) || &amp;lt;sup&amp;gt;209&amp;lt;/sup&amp;gt;Po (102 năm) || 1898 P.&amp;amp; M. Curie || Về mặt hoá học giống tellur&lt;br /&gt;
|-&lt;br /&gt;
| 85 || Astati (At) || &amp;lt;sup&amp;gt;210&amp;lt;/sup&amp;gt;At (8,1 h) || 1940 Corson, McKenzie &amp;amp; Segrè || Thuộc nhóm halogen, ở dạng đơn chất dễ bay hơi&lt;br /&gt;
|-&lt;br /&gt;
| 86 || Radon (Rn) || &amp;lt;sup&amp;gt;222&amp;lt;/sup&amp;gt;Rn (3,62 ngày) || 1900 Rutherford, Soddy || Khí trơ&lt;br /&gt;
|-&lt;br /&gt;
| 87 || Franxi (Fr) || &amp;lt;sup&amp;gt;223&amp;lt;/sup&amp;gt;Fr (22 min) || 1939 Perey || Kim loại kiềm thổ, về hoá học rất giống Xêsi&lt;br /&gt;
|-&lt;br /&gt;
| 88 || Rađi (Ra) || &amp;lt;sup&amp;gt;226&amp;lt;/sup&amp;gt;Ra (1600 năm) || 1898 P.&amp;amp; M. Curie || Kim loại kiềm thổ, về hoá học rất giống bari&lt;br /&gt;
|-&lt;br /&gt;
| 89 || Actini (Ac) || &amp;lt;sup&amp;gt;227&amp;lt;/sup&amp;gt;Ac (21,6 năm) || 1899 Debierne || Về mặt hoá học giống lantanit, tính bazơ mạnh hơn&lt;br /&gt;
|-&lt;br /&gt;
| 90 || Thori (Th) || &amp;lt;sup&amp;gt;232&amp;lt;/sup&amp;gt;Th (1,41.10&amp;lt;sup&amp;gt;10&amp;lt;/sup&amp;gt; năm) || 1828 Berzelius || Thường chỉ thể hiện hoá trị (IV), Tạo ra nhiều phức chất, Th&amp;lt;sup&amp;gt;4+&amp;lt;/sup&amp;gt; thuỷ phân mạnh, về mặt hoá học giống Ce&amp;lt;sup&amp;gt;4+&amp;lt;/sup&amp;gt;, Zr&amp;lt;sup&amp;gt;4+&amp;lt;/sup&amp;gt;, Hf&amp;lt;sup&amp;gt;4+&amp;lt;/sup&amp;gt;.&lt;br /&gt;
|-&lt;br /&gt;
| 91 || Protactini (Pa) || &amp;lt;sup&amp;gt;231&amp;lt;/sup&amp;gt;Pa (3,28.10&amp;lt;sup&amp;gt;4&amp;lt;/sup&amp;gt; năm) || 1917 Hahn &amp;amp; Meitner || Chủ yếu có số oxi hoá (V), ion Pa&amp;lt;sup&amp;gt;5+&amp;lt;/sup&amp;gt; bị thuỷ phân mạnh trong dung dịch, tạo phức mạnh, hình thành keo phóng xạ.&lt;br /&gt;
|-&lt;br /&gt;
| 92 || Urani (U) || &amp;lt;sup&amp;gt;238&amp;lt;/sup&amp;gt;U (4,47.10&amp;lt;sup&amp;gt;9&amp;lt;/sup&amp;gt; năm) || 1789 Klaproth || Thể hiện các số oxi hoá từ (III) đến (VI) (-u tiên hoá trị (VI), tạo thành các ion U&amp;lt;sup&amp;gt;4+&amp;lt;/sup&amp;gt;, UO&amp;lt;sub&amp;gt;2&amp;lt;/sub&amp;gt;&amp;lt;sup&amp;gt;+&amp;lt;/sup&amp;gt; và UO&amp;lt;sub&amp;gt;2&amp;lt;/sub&amp;gt;&amp;lt;sup&amp;gt;2+&amp;lt;/sup&amp;gt; trong dung dịch.)&lt;br /&gt;
|}&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Các nguyên tố urani và thori đã được các nhà hóa học biết từ lâu trước khi phát hiện ra hiện tượng phóng xạ. Chúng có mặt trong nhiều loại quặng, đất đá, nước sông biển, không khí và trong cơ thể động thực vật. Một số đồng vị của urani và thori có thời gian bán hủy dài đến mức là chúng đã có mặt trong vỏ trái đất từ khi quả đất hình thành cho đến tận bây giờ.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Các đồng vị của thori và urani là các đồng vị mẹ của 3 họ phóng xạ: họ thori, họ urani-radi và họ actini.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
*Họ phóng xạ thori bao gồm các đồng vị con cháu: Th-232; Ra 228 (MsTh&amp;lt;sub&amp;gt;1&amp;lt;/sub&amp;gt;); Ac 238 (MsTh&amp;lt;sub&amp;gt;2&amp;lt;/sub&amp;gt;); Th228 (RdTh); Ra-224 (ThX); Rn-220 (Tn); Po-216 (ThA); Pb-212(ThB); Bi-212(ThC); Po-212&lt;br /&gt;
(ThC’); Tl-208 (ThC’’); Pb-208 (ThD)&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
*Họ phóng xạ urani-radi bao gồm: U-238 (UI); Th-234 (UX&amp;lt;sub&amp;gt;1&amp;lt;/sub&amp;gt;); Pa-234 (UX&amp;lt;sub&amp;gt;2&amp;lt;/sub&amp;gt;); Pa-234 (UZ); U234(UII); Th-230(I&amp;lt;sub&amp;gt;0&amp;lt;/sub&amp;gt;); Ra-226; Rn (222); Po-218 (RaA); Pb-214(RaB); At-218 Bi-214(RaC);Po214(RaC’);Th-210(RaC’’);Pb-210(RaD);Hg-206;Bi-210 (RaE);Tl-206 (RaE’); Po-210(Ra F); Pb206 (RaG)&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
*Họ phóng xạ actini bao gồm: U-235 (AcU); Th-232 (UY); Pa-231; Ac-235; Th-227(RdAc);Fr223 (AcK); Ra-223 (AcX); At-219; Rn-219(An); Bi-215; Po-215 (Ac);Pb-211 (AcB); At-215; Bi211 (AcC); Po-211m; Po211(Ac’); Tl-207 (AcC’’); Pb-224 (AcD)&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Một phần nhỏ các chất phóng xạ trong tự nhiên nằm trong khí quyển là các nguyên tố nhẹ, như &amp;lt;sup&amp;gt;14&amp;lt;/sup&amp;gt;C, &amp;lt;sup&amp;gt;10&amp;lt;/sup&amp;gt;Be, &amp;lt;sup&amp;gt;7&amp;lt;/sup&amp;gt;Be và &amp;lt;sup&amp;gt;3&amp;lt;/sup&amp;gt;H. Bảng 2 thống kê các nguyên tố phóng xạ tự nhiên có thời gian bán huỷ &amp;gt; 1 ngày.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
{| class=&amp;quot;wikitable&amp;quot; style=&amp;quot;margin-left: auto; margin-right: auto; border: none;&amp;quot;&lt;br /&gt;
|+ Bảng 2. Các đồng vị phóng xạ tự nhiên có thời gian bán hủy &amp;gt; 1 ngày&lt;br /&gt;
|-&lt;br /&gt;
! style=&amp;quot;width:5em;&amp;quot; | Ký hiệu !! Thời gian bán huỷ !! Dạng bức xạ !! style=&amp;quot;width:10em;&amp;quot; | Hàm lượng đồng vị trong tự nhiên (%) !! style=&amp;quot;width:10em;&amp;quot; | Chú thích&lt;br /&gt;
|-&lt;br /&gt;
| &amp;lt;sup&amp;gt;238&amp;lt;/sup&amp;gt;U (UI=Urani) || 4,47.10&amp;lt;sup&amp;gt;9&amp;lt;/sup&amp;gt;(năm) || &amp;amp;alpha;, &amp;amp;gamma;, e&amp;lt;sup&amp;gt;-&amp;lt;/sup&amp;gt;(sf) || 99,276 || style=&amp;quot;border-style: none solid none solid;&amp;quot; |&lt;br /&gt;
|-&lt;br /&gt;
| &amp;lt;sup&amp;gt;234&amp;lt;/sup&amp;gt;U (UII) || 2,44.10&amp;lt;sup&amp;gt;5&amp;lt;/sup&amp;gt;(năm) || &amp;amp;alpha;, &amp;amp;gamma;, e&amp;lt;sup&amp;gt;-&amp;lt;/sup&amp;gt;(sf) || 0,0055 || style=&amp;quot;border-style: none solid none solid;&amp;quot; |&lt;br /&gt;
|-&lt;br /&gt;
| &amp;lt;sup&amp;gt;234&amp;lt;/sup&amp;gt;Th (UX1) || 24,1 (ngày) || &amp;amp;beta;&amp;lt;sup&amp;gt;-&amp;lt;/sup&amp;gt;, &amp;amp;gamma;, e&amp;lt;sup&amp;gt;-&amp;lt;/sup&amp;gt; ||  || style=&amp;quot;border-style: none solid none solid;&amp;quot; |&lt;br /&gt;
|-&lt;br /&gt;
| &amp;lt;sup&amp;gt;230&amp;lt;/sup&amp;gt;Th (Ioni) || 7,7.10&amp;lt;sup&amp;gt;4&amp;lt;/sup&amp;gt;(năm) || &amp;amp;alpha;, &amp;amp;gamma; (sf) || || style=&amp;quot;border-style: none solid none solid;&amp;quot; |&lt;br /&gt;
|-&lt;br /&gt;
| &amp;lt;sup&amp;gt;236&amp;lt;/sup&amp;gt;Ra (Radi) || 1600 (năm) || &amp;amp;alpha;, &amp;amp;gamma; || || style=&amp;quot;border-style: none solid none solid;&amp;quot; | Họ urani&lt;br /&gt;
|-&lt;br /&gt;
| &amp;lt;sup&amp;gt;222&amp;lt;/sup&amp;gt;Rn (Radon) || 3,82 (ngày) || &amp;amp;alpha;, &amp;amp;gamma; || || style=&amp;quot;border-style: none solid none solid;&amp;quot; |&lt;br /&gt;
|-&lt;br /&gt;
| &amp;lt;sup&amp;gt;210&amp;lt;/sup&amp;gt;Po (RaF) || 138,4 (ngày) || &amp;amp;alpha;, &amp;amp;gamma; || || style=&amp;quot;border-style: none solid none solid;&amp;quot; |&lt;br /&gt;
|-&lt;br /&gt;
| &amp;lt;sup&amp;gt;210&amp;lt;/sup&amp;gt;Bi (RaE) || 5,0 (ngày) || &amp;amp;beta;&amp;lt;sup&amp;gt;-&amp;lt;/sup&amp;gt;, &amp;amp;gamma;(&amp;amp;alpha;) || || style=&amp;quot;border-style: none solid none solid;&amp;quot; |&lt;br /&gt;
|-&lt;br /&gt;
| &amp;lt;sup&amp;gt;210&amp;lt;/sup&amp;gt;Pb (RaD) || 22,3 (năm) || &amp;amp;beta;&amp;lt;sup&amp;gt;-&amp;lt;/sup&amp;gt;, &amp;amp;gamma;, e&amp;lt;sup&amp;gt;-&amp;lt;/sup&amp;gt;(&amp;amp;alpha;) || || style=&amp;quot;border-style: none solid none solid;&amp;quot; |&lt;br /&gt;
|-&lt;br /&gt;
| &amp;lt;sup&amp;gt;235&amp;lt;/sup&amp;gt;U (AcU=Actinourani) ||  7,04.10&amp;lt;sup&amp;gt;4&amp;lt;/sup&amp;gt;(năm) || &amp;amp;alpha;, &amp;amp;gamma; (sf) || 0,720 || style=&amp;quot;border-style: solid solid none solid;&amp;quot; |&lt;br /&gt;
|-&lt;br /&gt;
| &amp;lt;sup&amp;gt;231&amp;lt;/sup&amp;gt;Th (UY) || 25,5 (giờ) || &amp;amp;beta;&amp;lt;sup&amp;gt;-&amp;lt;/sup&amp;gt;, &amp;amp;gamma; || || style=&amp;quot;border-style: none solid none solid;&amp;quot; |&lt;br /&gt;
|-&lt;br /&gt;
| &amp;lt;sup&amp;gt;231&amp;lt;/sup&amp;gt;Pa (Protactini) || 3,28.10&amp;lt;sup&amp;gt;4&amp;lt;/sup&amp;gt;(năm) || &amp;amp;alpha;, &amp;amp;gamma; || || style=&amp;quot;border-style: none solid none solid;&amp;quot; | Họ actini&lt;br /&gt;
|-&lt;br /&gt;
| &amp;lt;sup&amp;gt;227&amp;lt;/sup&amp;gt;Th (RdAc=Radioactini) || 18,72 (ngày) || &amp;amp;alpha;, &amp;amp;gamma;, e&amp;lt;sup&amp;gt;-&amp;lt;/sup&amp;gt; || || style=&amp;quot;border-style: none solid none solid;&amp;quot; |&lt;br /&gt;
|-&lt;br /&gt;
| &amp;lt;sup&amp;gt;227&amp;lt;/sup&amp;gt;Ac (Actini) || 21,6 (năm) || &amp;amp;beta;&amp;lt;sup&amp;gt;-&amp;lt;/sup&amp;gt;, &amp;amp;gamma;, e&amp;lt;sup&amp;gt;-&amp;lt;/sup&amp;gt;(&amp;amp;alpha;) || || style=&amp;quot;border-style: none solid none solid;&amp;quot; |&lt;br /&gt;
|-&lt;br /&gt;
| &amp;lt;sup&amp;gt;223&amp;lt;/sup&amp;gt;Ra (AcX=Actini X) || 11,43 (ngày) || &amp;amp;alpha;, &amp;amp;gamma; || || style=&amp;quot;border-style: none solid solid solid;&amp;quot; |&lt;br /&gt;
|-&lt;br /&gt;
| &amp;lt;sup&amp;gt;232&amp;lt;/sup&amp;gt;Th (Thori) || 1,405.10&amp;lt;sup&amp;gt;10&amp;lt;/sup&amp;gt; (năm) || &amp;amp;alpha;, &amp;amp;gamma;, e&amp;lt;sup&amp;gt;-&amp;lt;/sup&amp;gt;(sf) || 100 || style=&amp;quot;border-style: none solid none solid;&amp;quot; |&lt;br /&gt;
|-&lt;br /&gt;
| &amp;lt;sup&amp;gt;228&amp;lt;/sup&amp;gt;Th (RdTh=Radiothori) || 1,91.10&amp;lt;sup&amp;gt;9&amp;lt;/sup&amp;gt;(năm) || &amp;amp;alpha;, &amp;amp;gamma;, e&amp;lt;sup&amp;gt;-&amp;lt;/sup&amp;gt; || || style=&amp;quot;border-style: none solid none solid;&amp;quot; |&lt;br /&gt;
|-&lt;br /&gt;
| &amp;lt;sup&amp;gt;228&amp;lt;/sup&amp;gt;Ra (MsTh1=Mesothori 1) || 5,75 (năm) ||&amp;amp;beta;&amp;lt;sup&amp;gt;-&amp;lt;/sup&amp;gt;, &amp;amp;gamma;, e&amp;lt;sup&amp;gt;-&amp;lt;/sup&amp;gt; || || style=&amp;quot;border-style: none solid none solid;&amp;quot; | Họ thori&lt;br /&gt;
|-&lt;br /&gt;
| &amp;lt;sup&amp;gt;224&amp;lt;/sup&amp;gt;Ra (ThX=Thori X) || 3,66 (ngày) || &amp;amp;alpha;, &amp;amp;gamma; || || style=&amp;quot;border-style: none solid solid solid;&amp;quot; |&lt;br /&gt;
|-&lt;br /&gt;
| &amp;lt;sup&amp;gt;204&amp;lt;/sup&amp;gt;Pb || 1,4.10&amp;lt;sup&amp;gt;17&amp;lt;/sup&amp;gt; (năm) || &amp;amp;alpha; || 1,4 || &lt;br /&gt;
|-&lt;br /&gt;
| &amp;lt;sup&amp;gt;190&amp;lt;/sup&amp;gt;Pt || 6,1.10&amp;lt;sup&amp;gt;11&amp;lt;/sup&amp;gt; (năm) || &amp;amp;alpha; || 0,0127 ||&lt;br /&gt;
|-&lt;br /&gt;
| &amp;lt;sup&amp;gt;186&amp;lt;/sup&amp;gt;Os || 2,0.10&amp;lt;sup&amp;gt;15&amp;lt;/sup&amp;gt; (năm) || &amp;amp;alpha; || 1,6 ||&lt;br /&gt;
|-&lt;br /&gt;
| &amp;lt;sup&amp;gt;187&amp;lt;/sup&amp;gt;Re || 5.10&amp;lt;sup&amp;gt;10&amp;lt;/sup&amp;gt; (năm) || &amp;amp;beta;&amp;lt;sup&amp;gt;-&amp;lt;/sup&amp;gt; || 62,60 ||&lt;br /&gt;
|-&lt;br /&gt;
| &amp;lt;sup&amp;gt;174&amp;lt;/sup&amp;gt;Hf || 2,0.10&amp;lt;sup&amp;gt;15&amp;lt;/sup&amp;gt; (năm) || &amp;amp;alpha; || 0,18 ||&lt;br /&gt;
|-&lt;br /&gt;
| &amp;lt;sup&amp;gt;176&amp;lt;/sup&amp;gt;Lu || 3,6.10&amp;lt;sup&amp;gt;9&amp;lt;/sup&amp;gt;(năm) || &amp;amp;beta;&amp;lt;sup&amp;gt;-&amp;lt;/sup&amp;gt;, &amp;amp;gamma;, e&amp;lt;sup&amp;gt;-&amp;lt;/sup&amp;gt; || 2,60 ||&lt;br /&gt;
|-&lt;br /&gt;
| &amp;lt;sup&amp;gt;152&amp;lt;/sup&amp;gt;Gd || 1,1.10&amp;lt;sup&amp;gt;14&amp;lt;/sup&amp;gt; (năm) || &amp;amp;alpha; || 0,20 ||&lt;br /&gt;
|-&lt;br /&gt;
| &amp;lt;sup&amp;gt;147&amp;lt;/sup&amp;gt;Sm || 1,05.10&amp;lt;sup&amp;gt;11&amp;lt;/sup&amp;gt; (năm) || &amp;amp;alpha; || 15,0 ||&lt;br /&gt;
|-&lt;br /&gt;
| &amp;lt;sup&amp;gt;148&amp;lt;/sup&amp;gt;Sm || 7.10&amp;lt;sup&amp;gt;15&amp;lt;/sup&amp;gt; (năm) || &amp;amp;alpha; || 11,2 ||&lt;br /&gt;
|-&lt;br /&gt;
| &amp;lt;sup&amp;gt;144&amp;lt;/sup&amp;gt;Nd || 2,1.10&amp;lt;sup&amp;gt;15&amp;lt;/sup&amp;gt; (năm) || &amp;amp;alpha; || 23,9 ||&lt;br /&gt;
|-&lt;br /&gt;
| &amp;lt;sup&amp;gt;138&amp;lt;/sup&amp;gt;La || 1,35.10&amp;lt;sup&amp;gt;11&amp;lt;/sup&amp;gt; (năm) || &amp;amp;epsilon;, &amp;amp;beta;&amp;lt;sup&amp;gt;-&amp;lt;/sup&amp;gt;, &amp;amp;gamma; || 0,09 ||&lt;br /&gt;
|-&lt;br /&gt;
| &amp;lt;sup&amp;gt;123&amp;lt;/sup&amp;gt;Te || 1,24.10&amp;lt;sup&amp;gt;13&amp;lt;/sup&amp;gt; (năm) || &amp;amp;epsilon; || 0,87 ||&lt;br /&gt;
|-&lt;br /&gt;
| &amp;lt;sup&amp;gt;115&amp;lt;/sup&amp;gt;In || 5,1.10&amp;lt;sup&amp;gt;15&amp;lt;/sup&amp;gt; (năm) || &amp;amp;beta;&amp;lt;sup&amp;gt;-&amp;lt;/sup&amp;gt; || 95,7 ||&lt;br /&gt;
|-&lt;br /&gt;
| &amp;lt;sup&amp;gt;113&amp;lt;/sup&amp;gt;Cd || 9.10&amp;lt;sup&amp;gt;15&amp;lt;/sup&amp;gt; (năm) || &amp;amp;beta;&amp;lt;sup&amp;gt;-&amp;lt;/sup&amp;gt; || 12,3 ||&lt;br /&gt;
|-&lt;br /&gt;
| &amp;lt;sup&amp;gt;87&amp;lt;/sup&amp;gt;Rb || 4,7.10&amp;lt;sup&amp;gt;10&amp;lt;/sup&amp;gt; (năm) || &amp;amp;beta;&amp;lt;sup&amp;gt;-&amp;lt;/sup&amp;gt; || 27,83 ||&lt;br /&gt;
|-&lt;br /&gt;
| &amp;lt;sup&amp;gt;40&amp;lt;/sup&amp;gt;K || 1,28.10&amp;lt;sup&amp;gt;9&amp;lt;/sup&amp;gt;(năm) || &amp;amp;beta;&amp;lt;sup&amp;gt;-&amp;lt;/sup&amp;gt;, &amp;amp;epsilon;, &amp;amp;beta;&amp;lt;sup&amp;gt;+&amp;lt;/sup&amp;gt;, &amp;amp;gamma; || 0,012 ||&lt;br /&gt;
|-&lt;br /&gt;
| &amp;lt;sup&amp;gt;14&amp;lt;/sup&amp;gt;C || 5730 (năm) || &amp;amp;beta;&amp;lt;sup&amp;gt;-&amp;lt;/sup&amp;gt; || || style=&amp;quot;border-style: none solid none solid;&amp;quot; |&lt;br /&gt;
|-&lt;br /&gt;
| &amp;lt;sup&amp;gt;10&amp;lt;/sup&amp;gt;Be || 1,6.10&amp;lt;sup&amp;gt;6&amp;lt;/sup&amp;gt; (năm) || &amp;amp;beta;&amp;lt;sup&amp;gt;-&amp;lt;/sup&amp;gt; || || style=&amp;quot;border-style: none solid none solid;&amp;quot; | Xuất hiện trong khí quyển do các tia vũ trụ&lt;br /&gt;
|-&lt;br /&gt;
| &amp;lt;sup&amp;gt;7&amp;lt;/sup&amp;gt;Be || 53,4 (ngày) || &amp;amp;epsilon;, &amp;amp;gamma; || || style=&amp;quot;border-style: none solid none solid;&amp;quot; |&lt;br /&gt;
|-&lt;br /&gt;
| &amp;lt;sup&amp;gt;3&amp;lt;/sup&amp;gt;H || 12,346 (năm) || &amp;amp;beta;&amp;lt;sup&amp;gt;-&amp;lt;/sup&amp;gt; || || style=&amp;quot;border-style: none solid solid solid;&amp;quot; |&lt;br /&gt;
|}&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Nguồn gốc và phân bố NTPXTN==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Dễ dàng thấy rằng phần lớn các nguyên tố phóng xạ tự nhiên là các nguyên tố nặng, phân bố rộng rãi trong thạch quyển, quan trọng nhất là quặng urani, quặng thori, bao gồm cả các sản phẩm phân rã của urani và thori, các mỏ muối kali. (Bảng 3.)&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
{| class=&amp;quot;wikitable&amp;quot; style=&amp;quot;margin-left: auto; margin-right: auto; border: none;&amp;quot;&lt;br /&gt;
|+ Bảng 3. Các khoáng vật của urani và thori&lt;br /&gt;
|-&lt;br /&gt;
! Khoáng vật !! Thành phần hoá học !! Hàm lượng Urani (%) !! Hàm lượng Thori (%) !! Mỏ&lt;br /&gt;
|-&lt;br /&gt;
| Pitchblende || U&amp;lt;sub&amp;gt;3&amp;lt;/sub&amp;gt;O&amp;lt;sub&amp;gt;3&amp;lt;/sub&amp;gt; || 60 - 90 ||  || Bohemia, Congo, Colorado (Mỹ)&lt;br /&gt;
|-&lt;br /&gt;
| Becquerelit || 2UO&amp;lt;sub&amp;gt;3&amp;lt;/sub&amp;gt;.3H&amp;lt;sub&amp;gt;2&amp;lt;/sub&amp;gt;O || 74 ||  || Bayern (Đức), Congo&lt;br /&gt;
|-&lt;br /&gt;
| Uraninit || rowspan=&amp;quot;3&amp;quot; | UO&amp;lt;sub&amp;gt;2&amp;lt;/sub&amp;gt;.UO&amp;lt;sub&amp;gt;3&amp;lt;/sub&amp;gt; || 65 - 75 || 0,5 - 10 || Nhật, Mỹ, Canađa&lt;br /&gt;
|-&lt;br /&gt;
| Broeggerit || 48 - 75 || 6 - 12 || Na-uy&lt;br /&gt;
|-&lt;br /&gt;
| Cleveit || 48 - 66 || 3,5 - 4,5 || Na-uy, Nhật, Texas (Mỹ)&lt;br /&gt;
|-&lt;br /&gt;
| Autunit || Ca(UO&amp;lt;sub&amp;gt;2&amp;lt;/sub&amp;gt;)&amp;lt;sub&amp;gt;2&amp;lt;/sub&amp;gt;(PO&amp;lt;sub&amp;gt;4&amp;lt;/sub&amp;gt;)&amp;lt;sub&amp;gt;2&amp;lt;/sub&amp;gt;.nH&amp;lt;sub&amp;gt;2&amp;lt;/sub&amp;gt;O || 50-60 ||  || Pháp, Mađagasca, Bồ-đào-nha, Mỹ&lt;br /&gt;
|-&lt;br /&gt;
| Cacnotit || K(UO&amp;lt;sub&amp;gt;2&amp;lt;/sub&amp;gt;)&amp;lt;sub&amp;gt;2&amp;lt;/sub&amp;gt;(VO&amp;lt;sub&amp;gt;4&amp;lt;/sub&amp;gt;)nH&amp;lt;sub&amp;gt;2&amp;lt;/sub&amp;gt;O || &amp;amp;asymp;45 ||  || Mỹ, Congo, Nga, Úc&lt;br /&gt;
|-&lt;br /&gt;
| Casolit || PbO.UO&amp;lt;sub&amp;gt;3&amp;lt;/sub&amp;gt;.SiO&amp;lt;sub&amp;gt;2&amp;lt;/sub&amp;gt;.H&amp;lt;sub&amp;gt;2&amp;lt;/sub&amp;gt;O || &amp;amp;asymp;40 || || Congo&lt;br /&gt;
|-&lt;br /&gt;
| Liebigit || Carbonat của U và Ca || &amp;amp;asymp;30 || || Nga, Australia&lt;br /&gt;
|-&lt;br /&gt;
| Thorianit || (Th,U)O&amp;lt;sub&amp;gt;2&amp;lt;/sub&amp;gt; || 4 - 28 || 60 - 90 || Xaylan, Mađagasca &lt;br /&gt;
|-&lt;br /&gt;
| Thorit || ThSiO&amp;lt;sub&amp;gt;4&amp;lt;/sub&amp;gt;.H&amp;lt;sub&amp;gt;2&amp;lt;/sub&amp;gt;O || 1 - 19 || 40 - 70 || Na-uy, Mỹ.&lt;br /&gt;
|-&lt;br /&gt;
| Monazit || Photphat của Th và đất hiếm ||  || 0,1 - 15 || Brazin, Ấn Độ, Nga, Na-uy, Mađagasca&lt;br /&gt;
|}&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Người ta cho rằng năng lượng kèm theo sự phân rã của các chất phóng xạ tự nhiên đóng góp một phần vào nhiệt độ của vỏ trái đất. Nhiệt độ tương đối caom vào khoảng 30&amp;amp;deg;C ở độ sâu từ 1 đến một vài km tính từ bề mặt trái đất, được giải thích bởi năng lương phân rã của các chất phóng xạ tự nhiên, chẳng hạn trong đá granit.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Do những rạn vỡ của vỏ trái đất và quá trình phong hoá, các nguyên tố phóng xạ di chuyển đi nơi khác và các cân bằng phóng xạ bị vi phạm. Các nguyên tố phóng xạ tách khỏi đất đá chứa các nguyên tố mẹ - urani và thori. Các nguyên tố phóng xạ ngắn ngày nhanh chóng biến mất, chỉ còn lại các nguyên tố phóng xạ dài ngày như &amp;lt;sup&amp;gt;230&amp;lt;/sup&amp;gt;Th, &amp;lt;sup&amp;gt;231&amp;lt;/sup&amp;gt;Pa và &amp;lt;sup&amp;gt;226&amp;lt;/sup&amp;gt;Ra. Nhưng các nguyên tố dài ngày này tạo thành những thể sa lắng thứ cấp, chẳng hạt các lớp sét màu xám và các bùn lắng trong hồ nước chứa Ra. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Ra có mặt trong đất, nước sông và nước biển. Do sự hiện diện rộng rãi của Ra trong tự nhiên, các hồ nước và khí quyển đều chứa các sản phẩm phân rã của nguyên tố này như: radon, thoron và actinon. Các sản phẩm khác của sự xạ khí , như các đồng vị của thali, chì, bismur, polonium và astatin, tồn tại ở trạng thái bụi trong không khí hoặc hoà tan trong nước.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Các nguyên tố phóng xạ tự nhiên chuyển từ đất vào thực vật và sau đó vào cơ thể động vật. Hàm lượng urani trong cây cối khoảng từ 10&amp;lt;sup&amp;gt;-5&amp;lt;/sup&amp;gt; đến 10&amp;lt;sup&amp;gt;-8&amp;lt;/sup&amp;gt;%, của radi khoảng 10&amp;lt;sup&amp;gt;-12&amp;lt;/sup&amp;gt;%. Hàm lương radi trong cơ thể động vật chừng 10-12%.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Ngoài urani, thori và các sản phẩm phân rã của chúng, trong tự nhiên cũng tồn tại các nguyên tố phóng xạ khác như các đồng vị phóng xạ của kali, canxi, rubidi...(xem bảng 2.). Hàm lượng của các nguyên tố này trong vỏ trái đất vào khoảng 0,1%. Cũng vì vậy trong cây cối và cơ thể động vật, ngoài urani, thori, radi và các sản phẩm phân rã của chúng, còn có các nguyên tố phóng xạ khác, chẳng hạn một lượng đáng kể đồng vị &amp;lt;sup&amp;gt;40&amp;lt;/sup&amp;gt;K.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Ngoài các quá trình phân rã phóng xạ tạo ra đồng vị thuộc các họ urani, actino-urani và thori, trong tự nhiên còn diễn ra nhiều quá trình hạt nhân dẫn đến sự hình thành các đồng vị phóng xạ. Hành tinh của chúng ta, các thiên thể khác cùng với không gian vũ trụ có thể xem là một phòng thí nghiệm đặc biệt, ở đó luôn diễn ra vô số các phản ứng hạt nhân với sự tạo thành nhiều đồng vị phóng xạ.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Các tia vũ trụ tác động lên không khí (hỗn hợp nitơ và oxi) có thể kích hoạt hạt nhân nguyên tử của chúng mà kết quả là xuất hiện các nơtron nhanh. Neutron bắn phá các hạt nhân nitơ tạo thành đồng vị &amp;lt;sup&amp;gt;14&amp;lt;/sup&amp;gt;C do phản ứng &amp;lt;sup&amp;gt;14&amp;lt;/sup&amp;gt;&amp;lt;sub&amp;gt;7&amp;lt;/sub&amp;gt;N(n,p)&amp;lt;sup&amp;gt;14&amp;lt;/sup&amp;gt;&amp;lt;sub&amp;gt;6&amp;lt;/sub&amp;gt;C. Quá trình ấy tạo ra một lượng lớn &amp;lt;sup&amp;gt;14&amp;lt;/sup&amp;gt;C trong khí quyển nằm dưới dạng phân tử carbon dioxide (CO&amp;lt;sub&amp;gt;2&amp;lt;/sub&amp;gt;) có thời gian bán huỷ là 5760 năm. Trong nhiều thế kỷ, cường độ của các tia vũ trụ hiển nhiên không hề thay đổi. Cacbon dioxide liên tục được tạo thành với tốc độ không đổi trong khí quyển. Sự phân rã &amp;lt;sup&amp;gt;14&amp;lt;/sup&amp;gt;C trong CO&amp;lt;sub&amp;gt;2&amp;lt;/sub&amp;gt; cũng diễn ra với tốc độ không đổi. Kết quả là CO&amp;lt;sub&amp;gt;2&amp;lt;/sub&amp;gt; trong khí quyển chứa một tỷ lệ bất biến CO&amp;lt;sub&amp;gt;2&amp;lt;/sub&amp;gt; phóng xạ. CO&amp;lt;sub&amp;gt;2&amp;lt;/sub&amp;gt; này được cây cối hấp thụ khi quang hợp làm cho hàm lượng cacbon phóng xạ trong động thực cũng không đổi. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Tài liệu tham khảo==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
* Đỗ Quý Sơn, Huỳnh Văn Trung, Cơ sở Hóa học phóng xạ, NXB Khoa học và kỹ thuật, 2008 &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
* K.H. Lieser, Nuclear and Radiochemistry Fundamentals and applications, WILEY-VCH, Weihem, 2001&lt;/div&gt;</summary>
		<author><name>Tttrung</name></author>
	</entry>
	<entry>
		<id>https://bktt.vn/index.php?title=Gi%E1%BA%A3_thuy%E1%BA%BFt_Planck_v%E1%BB%81_l%C6%B0%E1%BB%A3ng_t%E1%BB%AD_n%C4%83ng_l%C6%B0%E1%BB%A3ng&amp;diff=20896</id>
		<title>Giả thuyết Planck về lượng tử năng lượng</title>
		<link rel="alternate" type="text/html" href="https://bktt.vn/index.php?title=Gi%E1%BA%A3_thuy%E1%BA%BFt_Planck_v%E1%BB%81_l%C6%B0%E1%BB%A3ng_t%E1%BB%AD_n%C4%83ng_l%C6%B0%E1%BB%A3ng&amp;diff=20896"/>
		<updated>2022-10-14T07:11:05Z</updated>

		<summary type="html">&lt;p&gt;Tttrung: &lt;/p&gt;
&lt;hr /&gt;
&lt;div&gt;{{mới}}&lt;br /&gt;
'''Giả thuyết Planck về lượng tử năng lượng''' là giả thuyết hiện đại về tính chất gián đoạn (lượng tử) của năng lượng [[bức xạ]]. Giả thuyết này đã được nhà Vật lý [[Max Planck]] (Đức) đưa ra năm 1900.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Khủng hoảng tử ngoại==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Vào cuối thế kỷ XIX, các nhà vật lý gặp khó khăn lớn trong việc giải thích dạng của đồ thị biểu diễn sự phụ thuộc của năng suất phát xạ đơn sắc của [[vật đen tuyệt đối]] vào [[bước sóng]] ánh sáng.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Dựa vào lý thuyết phát xạ cổ điển, người ta thấy rằng năng suất phát xạ đơn sắc của vật đen tuyệt đối phải tỷ lệ với bình phương của [[tần số]] (tức là tỷ lệ nghịch với bình phương của bước sóng). Như vậy, khi ''&amp;lt;math&amp;gt; \lambda  \rightarrow 0 &amp;lt;/math&amp;gt;''  thì năng suất phát xạ đơn sắc ''&amp;lt;math&amp;gt; \rho ( \lambda , T ) \rightarrow \infty &amp;lt;/math&amp;gt;''. Điều này hoàn toàn mâu thuẫn với kết quả thực nghiệm. Người ta gọi sự bất lực của lý thuyết phát xạ cổ điển trong trường hợp này là sự ''khủng hoảng tử ngoại''. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Giả thuyết (định luật) Planck==&lt;br /&gt;
Planck cho rằng nguyên nhân cơ bản dẫn đến sự thất bại của lý thuyết phát xạ cổ điển trong sự giải thích các kết quả thực nghiệm về sự bức xạ của vật đen tuyệt đối, là quan niệm sai lầm về độ lớn của năng lượng mà một nguyên tử hoặc phân tử có thể trao đổi với bên ngoài, mỗi lần phát xạ hay hấp thụ bức xạ.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Theo Giả thuyết Planck về lượng tử năng lượng, lượng năng lượng mà một nguyên tử hay phân tử trao đổi mỗi lần phát xạ hay hấp thụ bức xạ có giá trị hoàn toàn xác định, bằng&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
{{NumBlk|::|&amp;lt;math&amp;gt; \varepsilon = h f ,&amp;lt;/math&amp;gt;|{{EquationRef|1}}}}&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
&amp;lt;math&amp;gt; \varepsilon &amp;lt;/math&amp;gt; gọi là lượng tử năng lượng, &amp;lt;math&amp;gt;f&amp;lt;/math&amp;gt; là tần số của bức xạ được phát ra hay bị hấp thụ và ℎ là một hằng số. Sau này người ta đặt tên hằng số đó là [[hằng số Planck]] và đã xác định được chính xác giá trị của nó:&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
{{NumBlk|::|&amp;lt;math&amp;gt; h = 6,625.10^{-34} J.s &amp;lt;/math&amp;gt;|{{EquationRef|2}}}}&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Công thức Planck về bức xạ nhiệt== &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Xuất phát từ Giả thuyết Planck về lượng tử năng lượng nói trên, Planck đã thiết lập được công thức biểu diễn sự phụ thuộc của năng suất phát xạ đơn sắc của vật đen tuyệt đối vào tần số &amp;lt;math&amp;gt;f&amp;lt;/math&amp;gt; và nhiệt độ &amp;lt;math&amp;gt; \rho(f ,T) &amp;lt;/math&amp;gt; (hoặc vào bước sóng và nhiệt độ &amp;lt;math&amp;gt; \rho( \lambda ,T) &amp;lt;/math&amp;gt;. Công thức này được gọi là công thức Planck về bức xạ nhiệt, hay còn gọi là định luật bức xạ Planck, có dạng sau:&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
{{NumBlk|::|&amp;lt;math&amp;gt;\rho(f, T) = \left ( \frac {2\pi f^2}{c^2} \right ) \frac {h f}{(exp\{h f /kT\}-1)},  &amp;lt;/math&amp;gt;|{{EquationRef|3}}}}&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
hay&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
{{NumBlk|::|&amp;lt;math&amp;gt;\rho(\lambda , T) = \frac {2\pi hc^2}{\lambda^5} \frac {1}{(exp\{h c / \lambda kT\}-1)},  &amp;lt;/math&amp;gt;|{{EquationRef|4}}}}&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Hệ quả của công thức Planck về bức xạ nhiệt==&lt;br /&gt;
Từ công thức (3) và (4), ta có thể suy ra các định luật về bức xạ nhiệt của vật đen tuyệt đối. Độ trưng năng lượng toàn phần RT của vật đen tuyệt đối là&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
{{NumBlk|::|&amp;lt;math&amp;gt;R_T = \int\limits_{0}^{\infty} \rho (f, T)df = \sigma T^4 &amp;lt;/math&amp;gt;|{{EquationRef|5}}}}&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
trong đó &amp;lt;math&amp;gt; \sigma = 5,67 . 10^{-8} W / m^2 . K^4 &amp;lt;/math&amp;gt;. Đó là [[định luật Stefan-Boltzmann]].&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Tính đạo hàm của &amp;lt;math&amp;gt; \rho( \lambda , T ) &amp;lt;/math&amp;gt; theo &amp;lt;math&amp;gt; \lambda &amp;lt;/math&amp;gt;, ta thấy đạo hàm này triệt tiêu khi &amp;lt;math&amp;gt; \lambda = \lambda_{max} &amp;lt;/math&amp;gt; , ứng với giá trị cực đại của năng suất phát xạ đơn sắc của vật đen tuyệt đối:&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
{{NumBlk|::|&amp;lt;math&amp;gt; \lambda = \frac{b}{T}, &amp;lt;/math&amp;gt;|{{EquationRef|6}}}}&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
với &amp;lt;math&amp;gt; b = 2,898 . 10^{-3}m.K &amp;lt;/math&amp;gt;. Đó chính là [[định luật dịch chuyển Wien]].&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Tài liệu tham khảo==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
#J.P. Pérez, Thermodynamique, Fondements et applications, Masson, Paris, 1997.&lt;br /&gt;
#Oxford Dictionary of Physics, Alan Isaacs (Ed), Oxford University Press, New York, 2000.&lt;br /&gt;
#D. Haliday, R. Resnick, J. Walker, Fundamentals of Physics, John Wiley Inc., New York, 2014.&lt;/div&gt;</summary>
		<author><name>Tttrung</name></author>
	</entry>
	<entry>
		<id>https://bktt.vn/index.php?title=N%C4%83m_ch%C3%A2u_Phi&amp;diff=20895</id>
		<title>Năm châu Phi</title>
		<link rel="alternate" type="text/html" href="https://bktt.vn/index.php?title=N%C4%83m_ch%C3%A2u_Phi&amp;diff=20895"/>
		<updated>2022-10-14T07:05:34Z</updated>

		<summary type="html">&lt;p&gt;Tttrung: /* Bối cảnh */&lt;/p&gt;
&lt;hr /&gt;
&lt;div&gt;{{mới}}&lt;br /&gt;
[[Hình:Africa independence dates vi.svg|nhỏ|400px|Lược đồ quá trình giành độc lập của các quốc gia [[châu Phi]]]]&lt;br /&gt;
Năm 1960 được gọi là '''Năm châu Phi''' vì đánh dấu bước ngoặt của [[phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc]] của nhân dân [[châu Phi]] với 17 quốc gia giành được độc lập dưới những hình thức và mức độ khác nhau.&lt;br /&gt;
==Bối cảnh và diễn biến==&lt;br /&gt;
Từ cuối thế kỷ XIX, hầu hết các quốc gia ở châu Phi bị chủ nghĩa thực dân phương Tây xâm lược và đô hộ, trong đó [[Anh]] và [[Pháp]] là hai nước có thuộc địa lớn nhất ở châu Phi. Pháp chiếm hầu hết khu vực [[bắc Phi]], [[tây Phi]] và [[châu Phi xích đạo]], gồm: [[Guinea]], [[Tunisia]], [[Marocco]], [[Niger]], [[Trung Phi]], [[Congo]], [[Gabon]], [[Algeria]], [[Senegal]], [[Mauritania]], [[Mali]] và [[Madagascar]]. Anh xâm lược và cai trị hầu hết các quốc gia ở [[đông Phi|đông]] và [[nam Phi]], gồm: [[Nam Phi]], [[Bờ biển Vàng]], [[Botswana]], [[Zambia]], [[Zimbabwe]], [[Soudan]], [[Nigeria]], [[Somalia]], [[Kenya]]. Phần còn lại của châu Phi bị [[Tây Ban Nha]], [[Bồ Đào Nha]], [[Đức]], [[Bỉ]] và [[Italy]] xâm chiếm và đô hộ. Các nước thực dân phương Tây đã tiến hành cai trị, bóc lột kinh tế, đàn áp phong trào đấu tranh của nhân dân châu Phi.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Sau [[Chiến tranh thế giới thứ Hai]], cùng với sự phát triển của phong trào độc lập dân tộc trên thế giới, phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc ở châu Phi phát triển mạnh mẽ. Năm 1951, [[Libya]] là nước đầu tiên giành được độc lập ở châu Phi kể từ sau năm 1945. Năm 1954, chiến thắng vang dội ở [[Điện Biên Phủ]] của nhân dân [[Việt Nam]] đã làm rung chuyển hệ thống thuộc địa của Pháp, cổ vũ mạng mẽ phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc ở các nước châu Phi. Năm 1956, ba nước Marocco, Tunisia, Sudan giành được độc lập. Một năm sau đó, nhân dân Bờ Biển Vàng lật đổ ách thống trị của Anh, thành lập quốc gia độc lập Ghana. Năm 1960, [[Đại hội đồng Liên Hiệp Quốc]] ra văn kiện tuyên bố thủ tiêu hoàn toàn chủ nghĩa thực dân, trao trả độc lập cho các quốc gia và dân tộc thuộc địa. Đây là cơ sở pháp lý, động lực góp phần thúc đẩy phong trào đấu tranh giành độc lập ở các nước [[châu Á|Á]], Phi và [[Mỹ la tinh]].&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==1960==&lt;br /&gt;
Trong bối cảnh đó, năm 1960, phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc lan rộng và bùng lên mạnh mẽ khắp châu Phi. Trong năm 1960, 17 quốc gia ở châu Phi giành được độc lập. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Ngày 1 tháng 1 năm 1960, nhân dân [[Cameroon]] vùng dậy lật đổ ách thống trị của Pháp, thành lập chính quyền cách mạng, mở đầu Năm châu Phi. Gần bốn tháng sau đó, ngày 27 tháng 4 năm 1960, [[Togo]] thuộc Pháp giành được độc lập. Tiếp đó, ngày 20 tháng 6 năm 1960, [[Senegal]] và [[Soudan thuộc Pháp]] giành được độc lập. Hai quốc gia này đã hợp lại thành lập [[Liên bang Mali]]. Tuy nhiên hai tháng sau đó, Senegal tách khỏi Liên bang Mali. Ngày 22 tháng 9 năm 1960, Soudan đổi tên nước thành [[Mali]]. Cũng trong tháng 6 năm 1960, nhân dân [[Madagascar]] thuộc Pháp đã nổi dậy khởi nghĩa và giành được độc lập ngày 26 tháng 6 năm 1960. Ngày 30 tháng 6 năm 1960, [[Congo thuộc Bỉ]] tuyên bố độc lập, thành lập Nhà nước [[Cộng hòa Dân chủ Congo]]. Tháng 7 năm 1960, hai xứ [[Somalia thuộc Italy]] và [[Somalia thuộc Anh]] đều tuyên bố độc lập và thành lập nước [[Cộng hòa Somalia]].&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Trong tháng 8 năm 1960, có tám nước giành được độc lập, gồm: [[Dahomey]], [[Niger]], [[Bờ Biển Ngà]], [[Tchad]], [[Oubangui-Chari]], [[Congo thuộc Pháp]], [[Gabon]], [[Thượng Volta]]. [[Dahomey]] là thuộc địa của Pháp ở tây Phi từ năm 1899. Năm 1946, nước này thuộc [[Liên hiệp Pháp]], từ năm 1958 là quốc gia tự trị, nhưng thuộc Cộng đồng Pháp và chịu ảnh hưởng của Pháp. Ngày 1 tháng 8 năm 1960, Dahomey tuyên bố độc lập hoàn toàn. Năm 1975, quốc gia này đổi tên thành [[Benin]]. [[Niger]] là thuộc địa của Pháp từ năm 1900. Sau Chiến tranh thế giới thứ Hai, Niger nằm trong Liên hiệp Pháp. Năm 1958, quốc gia này giành được quyền tự trị và thuộc Cộng đồng Pháp. Ngày 3 tháng 8 năm 1960, Niger tuyên bố độc lập hoàn toàn. [[Thượng Volta]] ([[Haute-Volta]]) là thuộc địa của Pháp trên cơ sở vùng [[Thượng Senegal]] và [[Thượng Niger]] bị Pháp chiếm làm thuộc địa từ năm 1904. Năm 1958, Thượng Volta trở thành một nước Cộng hòa tự trị thuộc Cộng đồng Pháp. Ngày 5 tháng 8 năm 1960, Thượng Volta tuyên bố độc lập hoàn toàn. Năm 1984, quốc gia này đổi tên thành [[Burkina Faso]]. [[Bờ Biển Ngà]] ([[Cote d’Ivoire]]) là thuộc địa của Pháp từ năm 1893. Xứ này nằm trong Liên hiệp Pháp từ năm 1946 và giành được quyền tự trị vào năm 1958, thuộc Cộng đồng Pháp và phụ thuộc vào Pháp. Bờ Biển Ngà tuyên bố độc lập chính thức vào ngày 7 tháng 8 năm 1960. [[Tchad]] là thuộc địa của Pháp ở châu Phi xích đạo. Quốc gia này giành được độc lập vào ngày 11 tháng 8 năm 1960. [[Oubangui-Chari]] thuộc châu Phi xích đạo, thuộc địa của Pháp từ năm 1899. Năm 1958, Oubangui-Chari giành được quyền tự trị và đổi tên thành [[Cộng hòa Trung Phi]] ([[République Centrafricaine]]), thuộc Cộng đồng Pháp. Ngày 13 tháng 8 năm 1960, Cộng hòa Trung Phi giành được độc lập hoàn toàn. [[Congo]] ở tây Phi, thuộc địa của Pháp từ năm 1891. Năm 1958, Congo giành được quyền tự trị và thuộc Cộng đồng Pháp. Ngày 15 tháng 8 năm 1960, Congo tuyên bố độc lập hoàn toàn, thành lập nước [[Cộng hòa Nhân dân Congo]]. [[Gabon]] thuộc châu Phi xích đạo, thuộc địa của Pháp từ năm 1888. Từ năm 1946, Gabon nằm trong Liên hiệp Pháp. Ngày 17 tháng 8 năm 1960, Gabon giành được độc lập, thành lập nước [[Cộng hòa Gabon]]. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Quốc gia cuối cùng ở châu Phi giành được độc lập trong năm 1960 là [[Nigeria]]. Bị thực dân Anh cai trị, bóc lột từ cuối thế kỷ XIX, phong trào dân tộc ở Nigeria phát triển mạnh mẽ, đặc biệt từ sau năm 1945. Ngày 1 tháng 10 năm 1960, thực dân Anh buộc phải tuyên bố trao trả độc lập cho Nigeria.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
{| class=&amp;quot;wikitable&amp;quot; style=&amp;quot;margin-right:auto;margin-left:auto;&amp;quot;&lt;br /&gt;
|+ Danh sách các quốc gia châu Phi giành được độc lập năm 1960&lt;br /&gt;
|-&lt;br /&gt;
! Số thứ tự !! Tên nước/vùng lãnh thổ !! Thời gian !! Số thứ tự !! Tên nước/vùng lãnh thổ !! Thời gian&lt;br /&gt;
|-&lt;br /&gt;
|1||[[Cameroon]]||1 tháng 1||2||[[Togo thuộc Pháp]]||27 tháng 4 &lt;br /&gt;
|-&lt;br /&gt;
|3||[[Senegal]]||20 tháng 6||4||[[Soudan thuộc Pháp]]||20 tháng 6   &lt;br /&gt;
|-&lt;br /&gt;
|5||[[Madagascar]]||26 tháng 6||6||[[Congo thuộc Bỉ]]||30 tháng 6   &lt;br /&gt;
|-&lt;br /&gt;
|7||[[Somalia thuộc Anh]]||26 tháng 6||8||[[Somalia thuộc Italy]]||01 tháng 7&lt;br /&gt;
|-&lt;br /&gt;
|9||[[Dahomey]]||1 tháng 8||10||[[Niger]]||3 tháng 8  &lt;br /&gt;
|-&lt;br /&gt;
|11||[[Thượng Volta]]||5 tháng 8||12||[[Bờ Biển Ngà]]||7 tháng 8  &lt;br /&gt;
|-&lt;br /&gt;
|13||[[Tchad]]||11 tháng 8||14||[[Trung Phi]]||13 tháng 8&lt;br /&gt;
|-&lt;br /&gt;
|15||[[Congo thuộc Pháp]]||15 tháng 8||16||[[Gabon]]||17 tháng 8&lt;br /&gt;
|-&lt;br /&gt;
|17||[[Nigeria]]||1 tháng 10||  ||  || &lt;br /&gt;
|}&lt;br /&gt;
Thắng lợi của phong trào đấu tranh giành độc lập dân tộc ở châu Phi năm 1960 đã lật đổ được ách thống trị của chủ nghĩa thực dân, đưa tới sự ra đời của hàng loạt các quốc gia độc lập, góp phần quan trọng dẫn tới sự sụp đổ của chủ nghĩa thực dân phương Tây cùng hệ thống thuộc địa của nó ở châu Phi.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Tài liệu tham khảo==&lt;br /&gt;
*Nguyễn Anh Thái (CB), Lịch sử thế giới hiện đại, Nxb Giáo dục, Hà Nội, 2006.&lt;br /&gt;
*Trần Thị Vinh (CB), Lê Văn Anh, Lịch sử thế giới hiện đại (Quyển 2), Nxb Đại học Sư phạm, Hà Nội, 2007.&lt;br /&gt;
*Comité scientifique international pour la rédaction d'une histoire générale de l'Afrique, Histoire générale de l'Afrique, Jeune Afrique, Paris, 1980.&lt;br /&gt;
*Anne Stamm, L’Afrique, de la colonisation à l’indépendance, Éditeurs Presses universitaires de France, 2003.&lt;br /&gt;
*Christian Roche, Cinquante ans d'indépendance dans les anciennes possessions françaises d'Afrique noire, L’Harmattan, Paris, 2011.&lt;/div&gt;</summary>
		<author><name>Tttrung</name></author>
	</entry>
	<entry>
		<id>https://bktt.vn/index.php?title=N%C4%83m_ch%C3%A2u_Phi&amp;diff=20894</id>
		<title>Năm châu Phi</title>
		<link rel="alternate" type="text/html" href="https://bktt.vn/index.php?title=N%C4%83m_ch%C3%A2u_Phi&amp;diff=20894"/>
		<updated>2022-10-14T07:04:51Z</updated>

		<summary type="html">&lt;p&gt;Tttrung: Đã lùi lại sửa đổi của 14.232.183.229 (Thảo luận) quay về phiên bản cuối của Tttrung&lt;/p&gt;
&lt;hr /&gt;
&lt;div&gt;{{mới}}&lt;br /&gt;
[[Hình:Africa independence dates vi.svg|nhỏ|400px|Lược đồ quá trình giành độc lập của các quốc gia [[châu Phi]]]]&lt;br /&gt;
Năm 1960 được gọi là '''Năm châu Phi''' vì đánh dấu bước ngoặt của [[phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc]] của nhân dân [[châu Phi]] với 17 quốc gia giành được độc lập dưới những hình thức và mức độ khác nhau.&lt;br /&gt;
==Bối cảnh==&lt;br /&gt;
Từ cuối thế kỷ XIX, hầu hết các quốc gia ở châu Phi bị chủ nghĩa thực dân phương Tây xâm lược và đô hộ, trong đó [[Anh]] và [[Pháp]] là hai nước có thuộc địa lớn nhất ở châu Phi. Pháp chiếm hầu hết khu vực [[bắc Phi]], [[tây Phi]] và [[châu Phi xích đạo]], gồm: [[Guinea]], [[Tunisia]], [[Marocco]], [[Niger]], [[Trung Phi]], [[Congo]], [[Gabon]], [[Algeria]], [[Senegal]], [[Mauritania]], [[Mali]] và [[Madagascar]]. Anh xâm lược và cai trị hầu hết các quốc gia ở [[đông Phi|đông]] và [[nam Phi]], gồm: [[Nam Phi]], [[Bờ biển Vàng]], [[Botswana]], [[Zambia]], [[Zimbabwe]], [[Soudan]], [[Nigeria]], [[Somalia]], [[Kenya]]. Phần còn lại của châu Phi bị [[Tây Ban Nha]], [[Bồ Đào Nha]], [[Đức]], [[Bỉ]] và [[Italy]] xâm chiếm và đô hộ. Các nước thực dân phương Tây đã tiến hành cai trị, bóc lột kinh tế, đàn áp phong trào đấu tranh của nhân dân châu Phi.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Sau [[Chiến tranh thế giới thứ Hai]], cùng với sự phát triển của phong trào độc lập dân tộc trên thế giới, phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc ở châu Phi phát triển mạnh mẽ. Năm 1951, [[Libya]] là nước đầu tiên giành được độc lập ở châu Phi kể từ sau năm 1945. Năm 1954, chiến thắng vang dội ở [[Điện Biên Phủ]] của nhân dân [[Việt Nam]] đã làm rung chuyển hệ thống thuộc địa của Pháp, cổ vũ mạng mẽ phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc ở các nước châu Phi. Năm 1956, ba nước Marocco, Tunisia, Sudan giành được độc lập. Một năm sau đó, nhân dân Bờ Biển Vàng lật đổ ách thống trị của Anh, thành lập quốc gia độc lập Ghana. Năm 1960, [[Đại hội đồng Liên Hiệp Quốc]] ra văn kiện tuyên bố thủ tiêu hoàn toàn chủ nghĩa thực dân, trao trả độc lập cho các quốc gia và dân tộc thuộc địa. Đây là cơ sở pháp lý, động lực góp phần thúc đẩy phong trào đấu tranh giành độc lập ở các nước [[châu Á|Á]], Phi và [[Mỹ la tinh]].&lt;br /&gt;
==1960==&lt;br /&gt;
Trong bối cảnh đó, năm 1960, phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc lan rộng và bùng lên mạnh mẽ khắp châu Phi. Trong năm 1960, 17 quốc gia ở châu Phi giành được độc lập. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Ngày 1 tháng 1 năm 1960, nhân dân [[Cameroon]] vùng dậy lật đổ ách thống trị của Pháp, thành lập chính quyền cách mạng, mở đầu Năm châu Phi. Gần bốn tháng sau đó, ngày 27 tháng 4 năm 1960, [[Togo]] thuộc Pháp giành được độc lập. Tiếp đó, ngày 20 tháng 6 năm 1960, [[Senegal]] và [[Soudan thuộc Pháp]] giành được độc lập. Hai quốc gia này đã hợp lại thành lập [[Liên bang Mali]]. Tuy nhiên hai tháng sau đó, Senegal tách khỏi Liên bang Mali. Ngày 22 tháng 9 năm 1960, Soudan đổi tên nước thành [[Mali]]. Cũng trong tháng 6 năm 1960, nhân dân [[Madagascar]] thuộc Pháp đã nổi dậy khởi nghĩa và giành được độc lập ngày 26 tháng 6 năm 1960. Ngày 30 tháng 6 năm 1960, [[Congo thuộc Bỉ]] tuyên bố độc lập, thành lập Nhà nước [[Cộng hòa Dân chủ Congo]]. Tháng 7 năm 1960, hai xứ [[Somalia thuộc Italy]] và [[Somalia thuộc Anh]] đều tuyên bố độc lập và thành lập nước [[Cộng hòa Somalia]].&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Trong tháng 8 năm 1960, có tám nước giành được độc lập, gồm: [[Dahomey]], [[Niger]], [[Bờ Biển Ngà]], [[Tchad]], [[Oubangui-Chari]], [[Congo thuộc Pháp]], [[Gabon]], [[Thượng Volta]]. [[Dahomey]] là thuộc địa của Pháp ở tây Phi từ năm 1899. Năm 1946, nước này thuộc [[Liên hiệp Pháp]], từ năm 1958 là quốc gia tự trị, nhưng thuộc Cộng đồng Pháp và chịu ảnh hưởng của Pháp. Ngày 1 tháng 8 năm 1960, Dahomey tuyên bố độc lập hoàn toàn. Năm 1975, quốc gia này đổi tên thành [[Benin]]. [[Niger]] là thuộc địa của Pháp từ năm 1900. Sau Chiến tranh thế giới thứ Hai, Niger nằm trong Liên hiệp Pháp. Năm 1958, quốc gia này giành được quyền tự trị và thuộc Cộng đồng Pháp. Ngày 3 tháng 8 năm 1960, Niger tuyên bố độc lập hoàn toàn. [[Thượng Volta]] ([[Haute-Volta]]) là thuộc địa của Pháp trên cơ sở vùng [[Thượng Senegal]] và [[Thượng Niger]] bị Pháp chiếm làm thuộc địa từ năm 1904. Năm 1958, Thượng Volta trở thành một nước Cộng hòa tự trị thuộc Cộng đồng Pháp. Ngày 5 tháng 8 năm 1960, Thượng Volta tuyên bố độc lập hoàn toàn. Năm 1984, quốc gia này đổi tên thành [[Burkina Faso]]. [[Bờ Biển Ngà]] ([[Cote d’Ivoire]]) là thuộc địa của Pháp từ năm 1893. Xứ này nằm trong Liên hiệp Pháp từ năm 1946 và giành được quyền tự trị vào năm 1958, thuộc Cộng đồng Pháp và phụ thuộc vào Pháp. Bờ Biển Ngà tuyên bố độc lập chính thức vào ngày 7 tháng 8 năm 1960. [[Tchad]] là thuộc địa của Pháp ở châu Phi xích đạo. Quốc gia này giành được độc lập vào ngày 11 tháng 8 năm 1960. [[Oubangui-Chari]] thuộc châu Phi xích đạo, thuộc địa của Pháp từ năm 1899. Năm 1958, Oubangui-Chari giành được quyền tự trị và đổi tên thành [[Cộng hòa Trung Phi]] ([[République Centrafricaine]]), thuộc Cộng đồng Pháp. Ngày 13 tháng 8 năm 1960, Cộng hòa Trung Phi giành được độc lập hoàn toàn. [[Congo]] ở tây Phi, thuộc địa của Pháp từ năm 1891. Năm 1958, Congo giành được quyền tự trị và thuộc Cộng đồng Pháp. Ngày 15 tháng 8 năm 1960, Congo tuyên bố độc lập hoàn toàn, thành lập nước [[Cộng hòa Nhân dân Congo]]. [[Gabon]] thuộc châu Phi xích đạo, thuộc địa của Pháp từ năm 1888. Từ năm 1946, Gabon nằm trong Liên hiệp Pháp. Ngày 17 tháng 8 năm 1960, Gabon giành được độc lập, thành lập nước [[Cộng hòa Gabon]]. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Quốc gia cuối cùng ở châu Phi giành được độc lập trong năm 1960 là [[Nigeria]]. Bị thực dân Anh cai trị, bóc lột từ cuối thế kỷ XIX, phong trào dân tộc ở Nigeria phát triển mạnh mẽ, đặc biệt từ sau năm 1945. Ngày 1 tháng 10 năm 1960, thực dân Anh buộc phải tuyên bố trao trả độc lập cho Nigeria.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
{| class=&amp;quot;wikitable&amp;quot; style=&amp;quot;margin-right:auto;margin-left:auto;&amp;quot;&lt;br /&gt;
|+ Danh sách các quốc gia châu Phi giành được độc lập năm 1960&lt;br /&gt;
|-&lt;br /&gt;
! Số thứ tự !! Tên nước/vùng lãnh thổ !! Thời gian !! Số thứ tự !! Tên nước/vùng lãnh thổ !! Thời gian&lt;br /&gt;
|-&lt;br /&gt;
|1||[[Cameroon]]||1 tháng 1||2||[[Togo thuộc Pháp]]||27 tháng 4 &lt;br /&gt;
|-&lt;br /&gt;
|3||[[Senegal]]||20 tháng 6||4||[[Soudan thuộc Pháp]]||20 tháng 6   &lt;br /&gt;
|-&lt;br /&gt;
|5||[[Madagascar]]||26 tháng 6||6||[[Congo thuộc Bỉ]]||30 tháng 6   &lt;br /&gt;
|-&lt;br /&gt;
|7||[[Somalia thuộc Anh]]||26 tháng 6||8||[[Somalia thuộc Italy]]||01 tháng 7&lt;br /&gt;
|-&lt;br /&gt;
|9||[[Dahomey]]||1 tháng 8||10||[[Niger]]||3 tháng 8  &lt;br /&gt;
|-&lt;br /&gt;
|11||[[Thượng Volta]]||5 tháng 8||12||[[Bờ Biển Ngà]]||7 tháng 8  &lt;br /&gt;
|-&lt;br /&gt;
|13||[[Tchad]]||11 tháng 8||14||[[Trung Phi]]||13 tháng 8&lt;br /&gt;
|-&lt;br /&gt;
|15||[[Congo thuộc Pháp]]||15 tháng 8||16||[[Gabon]]||17 tháng 8&lt;br /&gt;
|-&lt;br /&gt;
|17||[[Nigeria]]||1 tháng 10||  ||  || &lt;br /&gt;
|}&lt;br /&gt;
Thắng lợi của phong trào đấu tranh giành độc lập dân tộc ở châu Phi năm 1960 đã lật đổ được ách thống trị của chủ nghĩa thực dân, đưa tới sự ra đời của hàng loạt các quốc gia độc lập, góp phần quan trọng dẫn tới sự sụp đổ của chủ nghĩa thực dân phương Tây cùng hệ thống thuộc địa của nó ở châu Phi.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Tài liệu tham khảo==&lt;br /&gt;
*Nguyễn Anh Thái (CB), Lịch sử thế giới hiện đại, Nxb Giáo dục, Hà Nội, 2006.&lt;br /&gt;
*Trần Thị Vinh (CB), Lê Văn Anh, Lịch sử thế giới hiện đại (Quyển 2), Nxb Đại học Sư phạm, Hà Nội, 2007.&lt;br /&gt;
*Comité scientifique international pour la rédaction d'une histoire générale de l'Afrique, Histoire générale de l'Afrique, Jeune Afrique, Paris, 1980.&lt;br /&gt;
*Anne Stamm, L’Afrique, de la colonisation à l’indépendance, Éditeurs Presses universitaires de France, 2003.&lt;br /&gt;
*Christian Roche, Cinquante ans d'indépendance dans les anciennes possessions françaises d'Afrique noire, L’Harmattan, Paris, 2011.&lt;/div&gt;</summary>
		<author><name>Tttrung</name></author>
	</entry>
	<entry>
		<id>https://bktt.vn/index.php?title=Bi%E1%BA%BFn_%C4%91%E1%BB%95i_%E1%BA%A3nh_s%E1%BB%91&amp;diff=20888</id>
		<title>Biến đổi ảnh số</title>
		<link rel="alternate" type="text/html" href="https://bktt.vn/index.php?title=Bi%E1%BA%BFn_%C4%91%E1%BB%95i_%E1%BA%A3nh_s%E1%BB%91&amp;diff=20888"/>
		<updated>2022-10-13T02:31:24Z</updated>

		<summary type="html">&lt;p&gt;Tttrung: &lt;/p&gt;
&lt;hr /&gt;
&lt;div&gt;{{mới}}&lt;br /&gt;
'''Biến đổi ảnh số''' là quá trình biến đổi từ miền biểu diễn này sang miền biểu diễn khác của ảnh. Thông thường hình ảnh được biểu diễn trong miền quan sát (cg. miền không gian). Nếu biến đổi hình ảnh từ miền quan sát sang miền tần số hay sang miền không gian khác (vd. không gian Hough) thì có thể tự động nhận biết các đặc trưng hình ảnh mà chúng không thể dễ dàng nhận biết trong miền quan sát. Biến đổi ảnh số được sử dụng trong phân tích, xử lý hình ảnh và thị giác máy tính.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Mục đích của biến đổi ảnh số là để làm lộ ra hoặc làm nổi bật một số thông tin mong muốn có trên hình ảnh. Các phép biến đổi hình ảnh thông dụng bao gồm [[biến đổi Hough]], [[biến đổi Fourier rời rạc]], [[biến đổi cosin rời rạc]], [[biến đổi wavelet rời rạc]] và [[biến đổi khoảng cách]].&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Các loại biến đổi==&lt;br /&gt;
===Biến đổi Hough===&lt;br /&gt;
[[File:Hough transform diagram.svg|nhỏ|phải|350px|Một ví dụ bước đầu tiên của biến đổi Hough, cho 3 điểm, với 5 nhóm góc khả dĩ.]]&lt;br /&gt;
[[Biến đổi Hough]] là một kỹ thuật trích chọn đặc trưng hình ảnh. Biến đổi Hough cổ điển được Paul Hough đề xuất năm 1962, để nhận biết vị trí các đoạn thẳng trên ảnh số. Vào năm 1972, Richard Duda và Peter Har đã mở rộng biến đổi Hough cổ điển để có khả năng nhận biết vị trí của hình dạng bất kỳ trên ảnh số như hình tròn, hình elip, đường cong tham số... Biến đổi Hough thực hiện chuyển đổi một hình ảnh từ tọa độ Descartes sang hệ tọa độ cực. Mỗi điểm bất kỳ trong không gian ảnh được biểu diễn bởi đường cong hình sin trong không gian Hough. Hơn nữa, hai điểm trên cùng đoạn thẳng sẽ tạo ra hai đường cong và chúng cắt nhau tại vị trí tương ứng với nơi đoạn thẳng đi qua trong không gian ảnh. Mô hình biến đổi Hough đơn giản nhưng tính toán khá phức tạp, đặc biệt trong trường hợp ảnh có nhiễu hay hình dạng không đầy đủ..&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
===Biến đổi Fourier===&lt;br /&gt;
[[File:Chest radiograph 2D Fourier Spectrum.jpg|nhỏ|trái|Bên trái là một ảnh chụp phổi, bên phải là biểu diễn biến đổi Fourier 2 chiều của ảnh này]]&lt;br /&gt;
[[Biến đổi Fourier]] là hàm toán học tách tín hiệu dạng sóng (còn gọi là hàm [[thời gian]]) thành các [[tần số]] tạo nên nó. Ảnh số được xem như hàm biến đổi, tuy nhiên nó không biến đổi theo thời gian mà biến đổi theo hai chiều không gian của hình ảnh. Ví dụ với ảnh số đa cấp xám thì mỗi điểm ảnh có giá trị từ 0 đến 255 để biểu diễn độ xám (hay [[cường độ]]) của điểm ảnh. Vậy, mức xám của điểm ảnh là hàm số của tọa độ điểm ảnh đó. Biến đổi Fourier rời rạc là dạng số của biến đổi Fourier áp dụng cho ảnh số, được sử dụng để tách hình ảnh trong miền không gian thành các thành phần tần số. Biến đổi Fourier rời rạc là biến đổi Fourier áp dụng cho các điểm mẫu, do vậy nó không cho lại toàn bộ tần số để hình thành ảnh số mà chỉ cho lại tập điểm mẫu đủ lớn với khả năng mô tả đầy đủ hình ảnh trong miền không gian. Tổng số tần số tương ứng với tổng số điểm ảnh trong miền không gian. Biến đổi Fourier rời rạc thường được sử dụng để lọc nhiễu hay làm nét hình ảnh. Một hình thức của biến đổi Fourier rời rạc là biến đổi cosin rời rạc. Tương tự như biến đổi Fourier rời rạc, nó được sử dụng để biểu diễn dữ liệu dạng sóng, nhưng chỉ sử dụng phần số thực (thành phần cosin). Biến đổi cosin rời rạc phù hợp với nén ảnh (vd. [[JPEG]]) và nén video vì thông tin của ảnh có xu hướng tập trung vào một vài thành phần tần số thấp của biến đổi cosin rời rạc. Ta có thể áp dụng biến đổi cosin rời rạc ngược (IDCT) để có được hình ảnh trong miền thời gian từ hình ảnh trong miền tần số.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
===Biến đổi sóng con===&lt;br /&gt;
[[Biến đổi sóng con]] (biến đổi wavelet) được đề xuất để giải quyết những vấn đề tồn tại của biến đổi Fourier. Biến đổi Fourier cho biết phổ tần số của tín hiệu, nhưng không cho ta biết tần số nào xảy ra vào thời điểm nào. Để giải quyết vấn đề này có thể chia tín hiệu thành các đoạn nhỏ, sau đó áp dụng biến đổi Fourier cho chúng. Nếu ta sử dụng cửa sổ thời gian lớn hơn cho tần số thấp và cửa sổ nhỏ hơn cho tần số cao, thì đó là ý tưởng của biến đổi sóng con. Tương tự như biến đổi Fourier rời rạc, nhiều nhà toán học đã đề xuất biến đổi sóng con rời rạc (DWT) khác nhau để giảm nhiễu (vd. nhiễu Gauss) hay nén ảnh số (vd. JPEG2000).&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
===Biến đổi khoảng cách===&lt;br /&gt;
Biến đổi khoảng cách ảnh số là kỹ thuật tạo ra bản đồ khoảng cách từ một điểm bất kỳ đến một điểm thuộc loại khác (vd. biên của đối tượng) gần nhất trên hình ảnh. Ví dụ biến đổi khoảng cách của ảnh nhị phân là tạo ra bản đồ khoảng cách trong đó với mỗi điểm ảnh sẽ được gán một số là khoảng cách giữa nó tới điểm ảnh gần nhất có giá trị khác không. Biến đổi khoảng cách thường được sử dụng để xác định độ dày của đặc trưng trong ảnh.&lt;br /&gt;
===Biến đổi hình học===&lt;br /&gt;
Biến đổi hình học (cg. biến đổi không gian) ảnh số là sự sắp xếp lại các điểm ảnh trong hình ảnh. Nói cách khác, biến đổi hình học là một hàm ánh xạ tập điểm ảnh này sang tập điểm ảnh khác theo một số thao tác nào đó. Có bốn loại biến đổi hình học cơ sở, đó là dịch chuyển, co giãn, xoay và phản chiếu. Biến đổi hình học ảnh được sử dụng để loại bỏ sự biến dạng hình học của các đối tượng trên ảnh.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Lịch sử==&lt;br /&gt;
Phương pháp biến đổi Hough do Paul Hough phát minh năm 1962 được Hoa Kỳ cấp chứng nhận bản quyền số US3069654A “Phương pháp và công cụ nhận dạng mẫu phức tạp”. Năm 1972 Richard Duda và Peter Hart đã khái quát hóa biến đổi Hough trong bài báo có tên “Biến đổi Hough tổng quát”. Năm 1981 Dana Ballard đã tổng kết biến đổi Hough trong bài báo khoa học “Tổng quát hóa biến đổi Hough để nhận dạng hình dạng bất kỳ” với khả năng phát hiện các hình dạng có thể biểu diễn bằng tham số trên ảnh số.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Nhà toán học và vật lý học người Pháp Jean-Baptiste Joseph Fourier (1768-1830) đã phát minh ra chuỗi số có thể áp dụng phân tích các hài tín hiệu. Nó là nền tảng cho các thuật toán biến đổi ảnh số như biến đổi Fourier rời rạc, biến đổi cosin rời rạc... được áp dụng rộng rãi trong xử lý ảnh và thị giác máy tính. Năm 1972 Nasir Ahmed, lần đầu tiên đưa ra khái niệm biến đổi cosin rời rạc để áp dụng cho nén ảnh số. Đến 1974 Nasir Ahmed cùng Natarajan và Rao công bố bài báo đầu tiên về biến đổi cosin rời rạc, được nhiều nhà khoa học tham khảo. Năm 1992 bài báo này được xem như nền tảng để nhóm Joint Photographic Experts Group lựa chọn thuật toán xây dựng lược đồ nén ảnh số hao hụt thông tin JPEG (cg. chuẩn JPEG).&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Nhà toán học Hungary Alfréd Haar phát minh ra biến đổi sóng con rời rạc đầu tiên vào năm 1909. Biến đổi sóng con Haar được sử dụng trong nén ảnh và ngày nay còn được sử dụng nhiều trong giảng dạy. Nhà toán học người Bỉ Ingrid Daubechies (sinh năm 1954) đã đề xuất một họ biến đổi sóng con trực giao làm cho biến đổi sóng con rời rạc có khả năng ứng dụng thực tế cao hơn. Năm 1992, Daubechies cùng Cohen và Feauveau đề xuất biến đổi sóng con CDF 9/7. Năm 1988, LeGall-Tabatabai đề xuất biến đổi sóng con LGT 5/3. Chuẩn nén ảnh và video JPEG 2000 sử dụng LGT 5/3 để nén hao hụt thông tin và CDF 9/7 để nén không hao hụt thông tin.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Biến đổi ảnh số là nền tảng của xử lý ảnh số, được sử dụng vào loại bỏ nhiễu trên ảnh, nâng cao chất lượng ảnh thông qua bộ lọc thông thấp hay bộ lọc thông cao. Biến đổi ảnh số được sử dụng trong các lược đồ nén ảnh và trích chọn các đặc trưng trên ảnh như tách cạnh, tách góc đối tượng trên ảnh. Ngoài ra, Biến đổi ảnh số còn được sử dụng để nắn chỉnh, loại bỏ biến dạng hình ảnh.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Tài liệu tham khảo==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
* Borko Furht, Esad Akar, Whitney A. Andrews, Digital Image Processing: Practical Approach, Springer Nature Switzerland, 2018&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
* Rafael C. Gonzalez, Richard E. Woods, Digital Image Processing, Fourth Edition, Pearson Education, 2018.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
* Solomon Chris, Breckon Toby, Fundamentals of digital image processing: a practical approach with examples in Matlab, John Wiley &amp;amp; Sons, 2011&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
* William K. Pratt, Introduction to Digital Image Processing, Taylor &amp;amp; Francis Group, 2014&lt;/div&gt;</summary>
		<author><name>Tttrung</name></author>
	</entry>
	<entry>
		<id>https://bktt.vn/index.php?title=Bi%E1%BA%BFn_%C4%91%E1%BB%95i_%E1%BA%A3nh_s%E1%BB%91&amp;diff=20887</id>
		<title>Biến đổi ảnh số</title>
		<link rel="alternate" type="text/html" href="https://bktt.vn/index.php?title=Bi%E1%BA%BFn_%C4%91%E1%BB%95i_%E1%BA%A3nh_s%E1%BB%91&amp;diff=20887"/>
		<updated>2022-10-13T02:30:52Z</updated>

		<summary type="html">&lt;p&gt;Tttrung: /* Biến đổi sóng con */&lt;/p&gt;
&lt;hr /&gt;
&lt;div&gt;{{mới}}&lt;br /&gt;
'''Biến đổi ảnh số''' là quá trình biến đổi từ miền biểu diễn này sang miền biểu diễn khác của ảnh. Thông thường hình ảnh được biểu diễn trong miền quan sát (cg. miền không gian). Nếu biến đổi hình ảnh từ miền quan sát sang miền tần số hay sang miền không gian khác (vd. không gian Hough) thì có thể tự động nhận biết các đặc trưng hình ảnh mà chúng không thể dễ dàng nhận biết trong miền quan sát. Biến đổi ảnh số được sử dụng trong phân tích, xử lý hình ảnh và thị giác máy tính.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Mục đích của biến đổi ảnh số là để làm lộ ra hoặc làm nổi bật một số thông tin mong muốn có trên hình ảnh. Các phép biến đổi hình ảnh thông dụng bao gồm biến đổi Hough, biến đổi Fourier rời rạc, biến đổi Cosin rời rạc, biến đổi Wavelet rời rạc và biến đổi khoảng cách.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Các loại biến đổi==&lt;br /&gt;
===Biến đổi Hough===&lt;br /&gt;
[[File:Hough transform diagram.svg|nhỏ|phải|350px|Một ví dụ bước đầu tiên của biến đổi Hough, cho 3 điểm, với 5 nhóm góc khả dĩ.]]&lt;br /&gt;
[[Biến đổi Hough]] là một kỹ thuật trích chọn đặc trưng hình ảnh. Biến đổi Hough cổ điển được Paul Hough đề xuất năm 1962, để nhận biết vị trí các đoạn thẳng trên ảnh số. Vào năm 1972, Richard Duda và Peter Har đã mở rộng biến đổi Hough cổ điển để có khả năng nhận biết vị trí của hình dạng bất kỳ trên ảnh số như hình tròn, hình elip, đường cong tham số... Biến đổi Hough thực hiện chuyển đổi một hình ảnh từ tọa độ Descartes sang hệ tọa độ cực. Mỗi điểm bất kỳ trong không gian ảnh được biểu diễn bởi đường cong hình sin trong không gian Hough. Hơn nữa, hai điểm trên cùng đoạn thẳng sẽ tạo ra hai đường cong và chúng cắt nhau tại vị trí tương ứng với nơi đoạn thẳng đi qua trong không gian ảnh. Mô hình biến đổi Hough đơn giản nhưng tính toán khá phức tạp, đặc biệt trong trường hợp ảnh có nhiễu hay hình dạng không đầy đủ..&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
===Biến đổi Fourier===&lt;br /&gt;
[[File:Chest radiograph 2D Fourier Spectrum.jpg|nhỏ|trái|Bên trái là một ảnh chụp phổi, bên phải là biểu diễn biến đổi Fourier 2 chiều của ảnh này]]&lt;br /&gt;
[[Biến đổi Fourier]] là hàm toán học tách tín hiệu dạng sóng (còn gọi là hàm [[thời gian]]) thành các [[tần số]] tạo nên nó. Ảnh số được xem như hàm biến đổi, tuy nhiên nó không biến đổi theo thời gian mà biến đổi theo hai chiều không gian của hình ảnh. Ví dụ với ảnh số đa cấp xám thì mỗi điểm ảnh có giá trị từ 0 đến 255 để biểu diễn độ xám (hay [[cường độ]]) của điểm ảnh. Vậy, mức xám của điểm ảnh là hàm số của tọa độ điểm ảnh đó. Biến đổi Fourier rời rạc là dạng số của biến đổi Fourier áp dụng cho ảnh số, được sử dụng để tách hình ảnh trong miền không gian thành các thành phần tần số. Biến đổi Fourier rời rạc là biến đổi Fourier áp dụng cho các điểm mẫu, do vậy nó không cho lại toàn bộ tần số để hình thành ảnh số mà chỉ cho lại tập điểm mẫu đủ lớn với khả năng mô tả đầy đủ hình ảnh trong miền không gian. Tổng số tần số tương ứng với tổng số điểm ảnh trong miền không gian. Biến đổi Fourier rời rạc thường được sử dụng để lọc nhiễu hay làm nét hình ảnh. Một hình thức của biến đổi Fourier rời rạc là biến đổi cosin rời rạc. Tương tự như biến đổi Fourier rời rạc, nó được sử dụng để biểu diễn dữ liệu dạng sóng, nhưng chỉ sử dụng phần số thực (thành phần cosin). Biến đổi cosin rời rạc phù hợp với nén ảnh (vd. [[JPEG]]) và nén video vì thông tin của ảnh có xu hướng tập trung vào một vài thành phần tần số thấp của biến đổi cosin rời rạc. Ta có thể áp dụng biến đổi cosin rời rạc ngược (IDCT) để có được hình ảnh trong miền thời gian từ hình ảnh trong miền tần số.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
===Biến đổi sóng con===&lt;br /&gt;
[[Biến đổi sóng con]] (biến đổi wavelet) được đề xuất để giải quyết những vấn đề tồn tại của biến đổi Fourier. Biến đổi Fourier cho biết phổ tần số của tín hiệu, nhưng không cho ta biết tần số nào xảy ra vào thời điểm nào. Để giải quyết vấn đề này có thể chia tín hiệu thành các đoạn nhỏ, sau đó áp dụng biến đổi Fourier cho chúng. Nếu ta sử dụng cửa sổ thời gian lớn hơn cho tần số thấp và cửa sổ nhỏ hơn cho tần số cao, thì đó là ý tưởng của biến đổi sóng con. Tương tự như biến đổi Fourier rời rạc, nhiều nhà toán học đã đề xuất biến đổi sóng con rời rạc (DWT) khác nhau để giảm nhiễu (vd. nhiễu Gauss) hay nén ảnh số (vd. JPEG2000).&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
===Biến đổi khoảng cách===&lt;br /&gt;
Biến đổi khoảng cách ảnh số là kỹ thuật tạo ra bản đồ khoảng cách từ một điểm bất kỳ đến một điểm thuộc loại khác (vd. biên của đối tượng) gần nhất trên hình ảnh. Ví dụ biến đổi khoảng cách của ảnh nhị phân là tạo ra bản đồ khoảng cách trong đó với mỗi điểm ảnh sẽ được gán một số là khoảng cách giữa nó tới điểm ảnh gần nhất có giá trị khác không. Biến đổi khoảng cách thường được sử dụng để xác định độ dày của đặc trưng trong ảnh.&lt;br /&gt;
===Biến đổi hình học===&lt;br /&gt;
Biến đổi hình học (cg. biến đổi không gian) ảnh số là sự sắp xếp lại các điểm ảnh trong hình ảnh. Nói cách khác, biến đổi hình học là một hàm ánh xạ tập điểm ảnh này sang tập điểm ảnh khác theo một số thao tác nào đó. Có bốn loại biến đổi hình học cơ sở, đó là dịch chuyển, co giãn, xoay và phản chiếu. Biến đổi hình học ảnh được sử dụng để loại bỏ sự biến dạng hình học của các đối tượng trên ảnh.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Lịch sử==&lt;br /&gt;
Phương pháp biến đổi Hough do Paul Hough phát minh năm 1962 được Hoa Kỳ cấp chứng nhận bản quyền số US3069654A “Phương pháp và công cụ nhận dạng mẫu phức tạp”. Năm 1972 Richard Duda và Peter Hart đã khái quát hóa biến đổi Hough trong bài báo có tên “Biến đổi Hough tổng quát”. Năm 1981 Dana Ballard đã tổng kết biến đổi Hough trong bài báo khoa học “Tổng quát hóa biến đổi Hough để nhận dạng hình dạng bất kỳ” với khả năng phát hiện các hình dạng có thể biểu diễn bằng tham số trên ảnh số.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Nhà toán học và vật lý học người Pháp Jean-Baptiste Joseph Fourier (1768-1830) đã phát minh ra chuỗi số có thể áp dụng phân tích các hài tín hiệu. Nó là nền tảng cho các thuật toán biến đổi ảnh số như biến đổi Fourier rời rạc, biến đổi cosin rời rạc... được áp dụng rộng rãi trong xử lý ảnh và thị giác máy tính. Năm 1972 Nasir Ahmed, lần đầu tiên đưa ra khái niệm biến đổi cosin rời rạc để áp dụng cho nén ảnh số. Đến 1974 Nasir Ahmed cùng Natarajan và Rao công bố bài báo đầu tiên về biến đổi cosin rời rạc, được nhiều nhà khoa học tham khảo. Năm 1992 bài báo này được xem như nền tảng để nhóm Joint Photographic Experts Group lựa chọn thuật toán xây dựng lược đồ nén ảnh số hao hụt thông tin JPEG (cg. chuẩn JPEG).&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Nhà toán học Hungary Alfréd Haar phát minh ra biến đổi sóng con rời rạc đầu tiên vào năm 1909. Biến đổi sóng con Haar được sử dụng trong nén ảnh và ngày nay còn được sử dụng nhiều trong giảng dạy. Nhà toán học người Bỉ Ingrid Daubechies (sinh năm 1954) đã đề xuất một họ biến đổi sóng con trực giao làm cho biến đổi sóng con rời rạc có khả năng ứng dụng thực tế cao hơn. Năm 1992, Daubechies cùng Cohen và Feauveau đề xuất biến đổi sóng con CDF 9/7. Năm 1988, LeGall-Tabatabai đề xuất biến đổi sóng con LGT 5/3. Chuẩn nén ảnh và video JPEG 2000 sử dụng LGT 5/3 để nén hao hụt thông tin và CDF 9/7 để nén không hao hụt thông tin.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Biến đổi ảnh số là nền tảng của xử lý ảnh số, được sử dụng vào loại bỏ nhiễu trên ảnh, nâng cao chất lượng ảnh thông qua bộ lọc thông thấp hay bộ lọc thông cao. Biến đổi ảnh số được sử dụng trong các lược đồ nén ảnh và trích chọn các đặc trưng trên ảnh như tách cạnh, tách góc đối tượng trên ảnh. Ngoài ra, Biến đổi ảnh số còn được sử dụng để nắn chỉnh, loại bỏ biến dạng hình ảnh.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Tài liệu tham khảo==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
* Borko Furht, Esad Akar, Whitney A. Andrews, Digital Image Processing: Practical Approach, Springer Nature Switzerland, 2018&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
* Rafael C. Gonzalez, Richard E. Woods, Digital Image Processing, Fourth Edition, Pearson Education, 2018.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
* Solomon Chris, Breckon Toby, Fundamentals of digital image processing: a practical approach with examples in Matlab, John Wiley &amp;amp; Sons, 2011&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
* William K. Pratt, Introduction to Digital Image Processing, Taylor &amp;amp; Francis Group, 2014&lt;/div&gt;</summary>
		<author><name>Tttrung</name></author>
	</entry>
	<entry>
		<id>https://bktt.vn/index.php?title=Bi%E1%BA%BFn_%C4%91%E1%BB%95i_%E1%BA%A3nh_s%E1%BB%91&amp;diff=20886</id>
		<title>Biến đổi ảnh số</title>
		<link rel="alternate" type="text/html" href="https://bktt.vn/index.php?title=Bi%E1%BA%BFn_%C4%91%E1%BB%95i_%E1%BA%A3nh_s%E1%BB%91&amp;diff=20886"/>
		<updated>2022-10-13T02:30:05Z</updated>

		<summary type="html">&lt;p&gt;Tttrung: /* Biến đổi Fourier */&lt;/p&gt;
&lt;hr /&gt;
&lt;div&gt;{{mới}}&lt;br /&gt;
'''Biến đổi ảnh số''' là quá trình biến đổi từ miền biểu diễn này sang miền biểu diễn khác của ảnh. Thông thường hình ảnh được biểu diễn trong miền quan sát (cg. miền không gian). Nếu biến đổi hình ảnh từ miền quan sát sang miền tần số hay sang miền không gian khác (vd. không gian Hough) thì có thể tự động nhận biết các đặc trưng hình ảnh mà chúng không thể dễ dàng nhận biết trong miền quan sát. Biến đổi ảnh số được sử dụng trong phân tích, xử lý hình ảnh và thị giác máy tính.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Mục đích của biến đổi ảnh số là để làm lộ ra hoặc làm nổi bật một số thông tin mong muốn có trên hình ảnh. Các phép biến đổi hình ảnh thông dụng bao gồm biến đổi Hough, biến đổi Fourier rời rạc, biến đổi Cosin rời rạc, biến đổi Wavelet rời rạc và biến đổi khoảng cách.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Các loại biến đổi==&lt;br /&gt;
===Biến đổi Hough===&lt;br /&gt;
[[File:Hough transform diagram.svg|nhỏ|phải|350px|Một ví dụ bước đầu tiên của biến đổi Hough, cho 3 điểm, với 5 nhóm góc khả dĩ.]]&lt;br /&gt;
[[Biến đổi Hough]] là một kỹ thuật trích chọn đặc trưng hình ảnh. Biến đổi Hough cổ điển được Paul Hough đề xuất năm 1962, để nhận biết vị trí các đoạn thẳng trên ảnh số. Vào năm 1972, Richard Duda và Peter Har đã mở rộng biến đổi Hough cổ điển để có khả năng nhận biết vị trí của hình dạng bất kỳ trên ảnh số như hình tròn, hình elip, đường cong tham số... Biến đổi Hough thực hiện chuyển đổi một hình ảnh từ tọa độ Descartes sang hệ tọa độ cực. Mỗi điểm bất kỳ trong không gian ảnh được biểu diễn bởi đường cong hình sin trong không gian Hough. Hơn nữa, hai điểm trên cùng đoạn thẳng sẽ tạo ra hai đường cong và chúng cắt nhau tại vị trí tương ứng với nơi đoạn thẳng đi qua trong không gian ảnh. Mô hình biến đổi Hough đơn giản nhưng tính toán khá phức tạp, đặc biệt trong trường hợp ảnh có nhiễu hay hình dạng không đầy đủ..&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
===Biến đổi Fourier===&lt;br /&gt;
[[File:Chest radiograph 2D Fourier Spectrum.jpg|nhỏ|trái|Bên trái là một ảnh chụp phổi, bên phải là biểu diễn biến đổi Fourier 2 chiều của ảnh này]]&lt;br /&gt;
[[Biến đổi Fourier]] là hàm toán học tách tín hiệu dạng sóng (còn gọi là hàm [[thời gian]]) thành các [[tần số]] tạo nên nó. Ảnh số được xem như hàm biến đổi, tuy nhiên nó không biến đổi theo thời gian mà biến đổi theo hai chiều không gian của hình ảnh. Ví dụ với ảnh số đa cấp xám thì mỗi điểm ảnh có giá trị từ 0 đến 255 để biểu diễn độ xám (hay [[cường độ]]) của điểm ảnh. Vậy, mức xám của điểm ảnh là hàm số của tọa độ điểm ảnh đó. Biến đổi Fourier rời rạc là dạng số của biến đổi Fourier áp dụng cho ảnh số, được sử dụng để tách hình ảnh trong miền không gian thành các thành phần tần số. Biến đổi Fourier rời rạc là biến đổi Fourier áp dụng cho các điểm mẫu, do vậy nó không cho lại toàn bộ tần số để hình thành ảnh số mà chỉ cho lại tập điểm mẫu đủ lớn với khả năng mô tả đầy đủ hình ảnh trong miền không gian. Tổng số tần số tương ứng với tổng số điểm ảnh trong miền không gian. Biến đổi Fourier rời rạc thường được sử dụng để lọc nhiễu hay làm nét hình ảnh. Một hình thức của biến đổi Fourier rời rạc là biến đổi cosin rời rạc. Tương tự như biến đổi Fourier rời rạc, nó được sử dụng để biểu diễn dữ liệu dạng sóng, nhưng chỉ sử dụng phần số thực (thành phần cosin). Biến đổi cosin rời rạc phù hợp với nén ảnh (vd. [[JPEG]]) và nén video vì thông tin của ảnh có xu hướng tập trung vào một vài thành phần tần số thấp của biến đổi cosin rời rạc. Ta có thể áp dụng biến đổi cosin rời rạc ngược (IDCT) để có được hình ảnh trong miền thời gian từ hình ảnh trong miền tần số.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
===Biến đổi sóng con===&lt;br /&gt;
Biến đổi sóng con được đề xuất để giải quyết những vấn đề tồn tại của biến đổi Fourier. Biến đổi Fourier cho biết phổ tần số của tín hiệu, nhưng không cho ta biết tần số nào xảy ra vào thời điểm nào. Để giải quyết vấn đề này có thể chia tín hiệu thành các đoạn nhỏ, sau đó áp dụng biến đổi Fourier cho chúng. Nếu ta sử dụng cửa sổ thời gian lớn hơn cho tần số thấp và cửa sổ nhỏ hơn cho tần số cao, thì đó là ý tưởng của biến đổi sóng con. Tương tự như biến đổi Fourier rời rạc, nhiều nhà toán học đã đề xuất biến đổi sóng con rời rạc (DWT) khác nhau để giảm nhiễu (vd. nhiễu Gauss) hay nén ảnh số (vd. JPEG2000).&lt;br /&gt;
===Biến đổi khoảng cách===&lt;br /&gt;
Biến đổi khoảng cách ảnh số là kỹ thuật tạo ra bản đồ khoảng cách từ một điểm bất kỳ đến một điểm thuộc loại khác (vd. biên của đối tượng) gần nhất trên hình ảnh. Ví dụ biến đổi khoảng cách của ảnh nhị phân là tạo ra bản đồ khoảng cách trong đó với mỗi điểm ảnh sẽ được gán một số là khoảng cách giữa nó tới điểm ảnh gần nhất có giá trị khác không. Biến đổi khoảng cách thường được sử dụng để xác định độ dày của đặc trưng trong ảnh.&lt;br /&gt;
===Biến đổi hình học===&lt;br /&gt;
Biến đổi hình học (cg. biến đổi không gian) ảnh số là sự sắp xếp lại các điểm ảnh trong hình ảnh. Nói cách khác, biến đổi hình học là một hàm ánh xạ tập điểm ảnh này sang tập điểm ảnh khác theo một số thao tác nào đó. Có bốn loại biến đổi hình học cơ sở, đó là dịch chuyển, co giãn, xoay và phản chiếu. Biến đổi hình học ảnh được sử dụng để loại bỏ sự biến dạng hình học của các đối tượng trên ảnh.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Lịch sử==&lt;br /&gt;
Phương pháp biến đổi Hough do Paul Hough phát minh năm 1962 được Hoa Kỳ cấp chứng nhận bản quyền số US3069654A “Phương pháp và công cụ nhận dạng mẫu phức tạp”. Năm 1972 Richard Duda và Peter Hart đã khái quát hóa biến đổi Hough trong bài báo có tên “Biến đổi Hough tổng quát”. Năm 1981 Dana Ballard đã tổng kết biến đổi Hough trong bài báo khoa học “Tổng quát hóa biến đổi Hough để nhận dạng hình dạng bất kỳ” với khả năng phát hiện các hình dạng có thể biểu diễn bằng tham số trên ảnh số.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Nhà toán học và vật lý học người Pháp Jean-Baptiste Joseph Fourier (1768-1830) đã phát minh ra chuỗi số có thể áp dụng phân tích các hài tín hiệu. Nó là nền tảng cho các thuật toán biến đổi ảnh số như biến đổi Fourier rời rạc, biến đổi cosin rời rạc... được áp dụng rộng rãi trong xử lý ảnh và thị giác máy tính. Năm 1972 Nasir Ahmed, lần đầu tiên đưa ra khái niệm biến đổi cosin rời rạc để áp dụng cho nén ảnh số. Đến 1974 Nasir Ahmed cùng Natarajan và Rao công bố bài báo đầu tiên về biến đổi cosin rời rạc, được nhiều nhà khoa học tham khảo. Năm 1992 bài báo này được xem như nền tảng để nhóm Joint Photographic Experts Group lựa chọn thuật toán xây dựng lược đồ nén ảnh số hao hụt thông tin JPEG (cg. chuẩn JPEG).&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Nhà toán học Hungary Alfréd Haar phát minh ra biến đổi sóng con rời rạc đầu tiên vào năm 1909. Biến đổi sóng con Haar được sử dụng trong nén ảnh và ngày nay còn được sử dụng nhiều trong giảng dạy. Nhà toán học người Bỉ Ingrid Daubechies (sinh năm 1954) đã đề xuất một họ biến đổi sóng con trực giao làm cho biến đổi sóng con rời rạc có khả năng ứng dụng thực tế cao hơn. Năm 1992, Daubechies cùng Cohen và Feauveau đề xuất biến đổi sóng con CDF 9/7. Năm 1988, LeGall-Tabatabai đề xuất biến đổi sóng con LGT 5/3. Chuẩn nén ảnh và video JPEG 2000 sử dụng LGT 5/3 để nén hao hụt thông tin và CDF 9/7 để nén không hao hụt thông tin.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Biến đổi ảnh số là nền tảng của xử lý ảnh số, được sử dụng vào loại bỏ nhiễu trên ảnh, nâng cao chất lượng ảnh thông qua bộ lọc thông thấp hay bộ lọc thông cao. Biến đổi ảnh số được sử dụng trong các lược đồ nén ảnh và trích chọn các đặc trưng trên ảnh như tách cạnh, tách góc đối tượng trên ảnh. Ngoài ra, Biến đổi ảnh số còn được sử dụng để nắn chỉnh, loại bỏ biến dạng hình ảnh.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Tài liệu tham khảo==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
* Borko Furht, Esad Akar, Whitney A. Andrews, Digital Image Processing: Practical Approach, Springer Nature Switzerland, 2018&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
* Rafael C. Gonzalez, Richard E. Woods, Digital Image Processing, Fourth Edition, Pearson Education, 2018.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
* Solomon Chris, Breckon Toby, Fundamentals of digital image processing: a practical approach with examples in Matlab, John Wiley &amp;amp; Sons, 2011&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
* William K. Pratt, Introduction to Digital Image Processing, Taylor &amp;amp; Francis Group, 2014&lt;/div&gt;</summary>
		<author><name>Tttrung</name></author>
	</entry>
	<entry>
		<id>https://bktt.vn/index.php?title=Bi%E1%BA%BFn_%C4%91%E1%BB%95i_%E1%BA%A3nh_s%E1%BB%91&amp;diff=20885</id>
		<title>Biến đổi ảnh số</title>
		<link rel="alternate" type="text/html" href="https://bktt.vn/index.php?title=Bi%E1%BA%BFn_%C4%91%E1%BB%95i_%E1%BA%A3nh_s%E1%BB%91&amp;diff=20885"/>
		<updated>2022-10-13T02:15:56Z</updated>

		<summary type="html">&lt;p&gt;Tttrung: /* Các thể loại biến đổi ảnh số */&lt;/p&gt;
&lt;hr /&gt;
&lt;div&gt;{{mới}}&lt;br /&gt;
'''Biến đổi ảnh số''' là quá trình biến đổi từ miền biểu diễn này sang miền biểu diễn khác của ảnh. Thông thường hình ảnh được biểu diễn trong miền quan sát (cg. miền không gian). Nếu biến đổi hình ảnh từ miền quan sát sang miền tần số hay sang miền không gian khác (vd. không gian Hough) thì có thể tự động nhận biết các đặc trưng hình ảnh mà chúng không thể dễ dàng nhận biết trong miền quan sát. Biến đổi ảnh số được sử dụng trong phân tích, xử lý hình ảnh và thị giác máy tính.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Mục đích của biến đổi ảnh số là để làm lộ ra hoặc làm nổi bật một số thông tin mong muốn có trên hình ảnh. Các phép biến đổi hình ảnh thông dụng bao gồm biến đổi Hough, biến đổi Fourier rời rạc, biến đổi Cosin rời rạc, biến đổi Wavelet rời rạc và biến đổi khoảng cách.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Các loại biến đổi==&lt;br /&gt;
===Biến đổi Hough===&lt;br /&gt;
[[File:Hough transform diagram.svg|nhỏ|phải|350px|Một ví dụ bước đầu tiên của biến đổi Hough, cho 3 điểm, với 5 nhóm góc khả dĩ.]]&lt;br /&gt;
[[Biến đổi Hough]] là một kỹ thuật trích chọn đặc trưng hình ảnh. Biến đổi Hough cổ điển được Paul Hough đề xuất năm 1962, để nhận biết vị trí các đoạn thẳng trên ảnh số. Vào năm 1972, Richard Duda và Peter Har đã mở rộng biến đổi Hough cổ điển để có khả năng nhận biết vị trí của hình dạng bất kỳ trên ảnh số như hình tròn, hình elip, đường cong tham số... Biến đổi Hough thực hiện chuyển đổi một hình ảnh từ tọa độ Descartes sang hệ tọa độ cực. Mỗi điểm bất kỳ trong không gian ảnh được biểu diễn bởi đường cong hình sin trong không gian Hough. Hơn nữa, hai điểm trên cùng đoạn thẳng sẽ tạo ra hai đường cong và chúng cắt nhau tại vị trí tương ứng với nơi đoạn thẳng đi qua trong không gian ảnh. Mô hình biến đổi Hough đơn giản nhưng tính toán khá phức tạp, đặc biệt trong trường hợp ảnh có nhiễu hay hình dạng không đầy đủ..&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
===Biến đổi Fourier===&lt;br /&gt;
Biến đổi Fourier là hàm toán học tách tín hiệu dạng sóng (cg. hàm thời gian) thành các tần số tạo nên nó. Ảnh số được xem như hàm biến đổi, tuy nhiên nó không biến đổi theo thời gian mà biến đổi theo hai chiều không gian của hình ảnh. Ví dụ với ảnh số đa cấp xám thì mỗi điểm ảnh có giá trị từ 0 đến 255 để biểu diễn độ xám (cg. cường độ) của điểm ảnh. Vậy, mức xám của điểm ảnh là hàm số của tọa độ điểm ảnh đó. Biến đổi Fourier rời rạc là dạng số của biến đổi Fourier áp dụng cho ảnh số, được sử dụng để tách hình ảnh trong miền không gian thành các thành phần tần số. Biến đổi Fourier rời rạc là biến đổi Fourier áp dụng cho các điểm mẫu, do vậy nó không cho lại toàn bộ tần số để hình thành ảnh số mà chỉ cho lại tập điểm mẫu đủ lớn với khả năng mô tả đầy đủ hình ảnh trong miền không gian. Tổng số tần số tương ứng với tổng số điểm ảnh trong miền không gian. Biến đổi Fourier rời rạc thường được sử dụng để lọc nhiễu hay làm nét hình ảnh. Một hình thức của biến đổi Fourier rời rạc là biến đổi cosin rời rạc. Tương tự như biến đổi Fourier rời rạc, nó được sử dụng để biểu diễn dữ liệu dạng sóng, nhưng chỉ sử dụng phần số thực (thành phần cosin). Biến đổi cosin rời rạc phù hợp với nén ảnh (vd. JPEG) và nén video vì thông tin của ảnh có xu hướng tập trung vào một vài thành phần tần số thấp của biến đổi cosin rời rạc. Ta có thể áp dụng biến đổi cosin rời rạc ngược (IDCT) để có được hình ảnh trong miền thời gian từ hình ảnh trong miền tần số.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
===Biến đổi sóng con===&lt;br /&gt;
Biến đổi sóng con được đề xuất để giải quyết những vấn đề tồn tại của biến đổi Fourier. Biến đổi Fourier cho biết phổ tần số của tín hiệu, nhưng không cho ta biết tần số nào xảy ra vào thời điểm nào. Để giải quyết vấn đề này có thể chia tín hiệu thành các đoạn nhỏ, sau đó áp dụng biến đổi Fourier cho chúng. Nếu ta sử dụng cửa sổ thời gian lớn hơn cho tần số thấp và cửa sổ nhỏ hơn cho tần số cao, thì đó là ý tưởng của biến đổi sóng con. Tương tự như biến đổi Fourier rời rạc, nhiều nhà toán học đã đề xuất biến đổi sóng con rời rạc (DWT) khác nhau để giảm nhiễu (vd. nhiễu Gauss) hay nén ảnh số (vd. JPEG2000).&lt;br /&gt;
===Biến đổi khoảng cách===&lt;br /&gt;
Biến đổi khoảng cách ảnh số là kỹ thuật tạo ra bản đồ khoảng cách từ một điểm bất kỳ đến một điểm thuộc loại khác (vd. biên của đối tượng) gần nhất trên hình ảnh. Ví dụ biến đổi khoảng cách của ảnh nhị phân là tạo ra bản đồ khoảng cách trong đó với mỗi điểm ảnh sẽ được gán một số là khoảng cách giữa nó tới điểm ảnh gần nhất có giá trị khác không. Biến đổi khoảng cách thường được sử dụng để xác định độ dày của đặc trưng trong ảnh.&lt;br /&gt;
===Biến đổi hình học===&lt;br /&gt;
Biến đổi hình học (cg. biến đổi không gian) ảnh số là sự sắp xếp lại các điểm ảnh trong hình ảnh. Nói cách khác, biến đổi hình học là một hàm ánh xạ tập điểm ảnh này sang tập điểm ảnh khác theo một số thao tác nào đó. Có bốn loại biến đổi hình học cơ sở, đó là dịch chuyển, co giãn, xoay và phản chiếu. Biến đổi hình học ảnh được sử dụng để loại bỏ sự biến dạng hình học của các đối tượng trên ảnh.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Lịch sử==&lt;br /&gt;
Phương pháp biến đổi Hough do Paul Hough phát minh năm 1962 được Hoa Kỳ cấp chứng nhận bản quyền số US3069654A “Phương pháp và công cụ nhận dạng mẫu phức tạp”. Năm 1972 Richard Duda và Peter Hart đã khái quát hóa biến đổi Hough trong bài báo có tên “Biến đổi Hough tổng quát”. Năm 1981 Dana Ballard đã tổng kết biến đổi Hough trong bài báo khoa học “Tổng quát hóa biến đổi Hough để nhận dạng hình dạng bất kỳ” với khả năng phát hiện các hình dạng có thể biểu diễn bằng tham số trên ảnh số.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Nhà toán học và vật lý học người Pháp Jean-Baptiste Joseph Fourier (1768-1830) đã phát minh ra chuỗi số có thể áp dụng phân tích các hài tín hiệu. Nó là nền tảng cho các thuật toán biến đổi ảnh số như biến đổi Fourier rời rạc, biến đổi cosin rời rạc... được áp dụng rộng rãi trong xử lý ảnh và thị giác máy tính. Năm 1972 Nasir Ahmed, lần đầu tiên đưa ra khái niệm biến đổi cosin rời rạc để áp dụng cho nén ảnh số. Đến 1974 Nasir Ahmed cùng Natarajan và Rao công bố bài báo đầu tiên về biến đổi cosin rời rạc, được nhiều nhà khoa học tham khảo. Năm 1992 bài báo này được xem như nền tảng để nhóm Joint Photographic Experts Group lựa chọn thuật toán xây dựng lược đồ nén ảnh số hao hụt thông tin JPEG (cg. chuẩn JPEG).&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Nhà toán học Hungary Alfréd Haar phát minh ra biến đổi sóng con rời rạc đầu tiên vào năm 1909. Biến đổi sóng con Haar được sử dụng trong nén ảnh và ngày nay còn được sử dụng nhiều trong giảng dạy. Nhà toán học người Bỉ Ingrid Daubechies (sinh năm 1954) đã đề xuất một họ biến đổi sóng con trực giao làm cho biến đổi sóng con rời rạc có khả năng ứng dụng thực tế cao hơn. Năm 1992, Daubechies cùng Cohen và Feauveau đề xuất biến đổi sóng con CDF 9/7. Năm 1988, LeGall-Tabatabai đề xuất biến đổi sóng con LGT 5/3. Chuẩn nén ảnh và video JPEG 2000 sử dụng LGT 5/3 để nén hao hụt thông tin và CDF 9/7 để nén không hao hụt thông tin.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Biến đổi ảnh số là nền tảng của xử lý ảnh số, được sử dụng vào loại bỏ nhiễu trên ảnh, nâng cao chất lượng ảnh thông qua bộ lọc thông thấp hay bộ lọc thông cao. Biến đổi ảnh số được sử dụng trong các lược đồ nén ảnh và trích chọn các đặc trưng trên ảnh như tách cạnh, tách góc đối tượng trên ảnh. Ngoài ra, Biến đổi ảnh số còn được sử dụng để nắn chỉnh, loại bỏ biến dạng hình ảnh.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Tài liệu tham khảo==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
* Borko Furht, Esad Akar, Whitney A. Andrews, Digital Image Processing: Practical Approach, Springer Nature Switzerland, 2018&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
* Rafael C. Gonzalez, Richard E. Woods, Digital Image Processing, Fourth Edition, Pearson Education, 2018.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
* Solomon Chris, Breckon Toby, Fundamentals of digital image processing: a practical approach with examples in Matlab, John Wiley &amp;amp; Sons, 2011&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
* William K. Pratt, Introduction to Digital Image Processing, Taylor &amp;amp; Francis Group, 2014&lt;/div&gt;</summary>
		<author><name>Tttrung</name></author>
	</entry>
	<entry>
		<id>https://bktt.vn/index.php?title=Bi%E1%BA%BFn_%C4%91%E1%BB%95i_%E1%BA%A3nh_s%E1%BB%91&amp;diff=20884</id>
		<title>Biến đổi ảnh số</title>
		<link rel="alternate" type="text/html" href="https://bktt.vn/index.php?title=Bi%E1%BA%BFn_%C4%91%E1%BB%95i_%E1%BA%A3nh_s%E1%BB%91&amp;diff=20884"/>
		<updated>2022-10-13T02:15:34Z</updated>

		<summary type="html">&lt;p&gt;Tttrung: /* Biến đổi sóng con */&lt;/p&gt;
&lt;hr /&gt;
&lt;div&gt;{{mới}}&lt;br /&gt;
'''Biến đổi ảnh số''' là quá trình biến đổi từ miền biểu diễn này sang miền biểu diễn khác của ảnh. Thông thường hình ảnh được biểu diễn trong miền quan sát (cg. miền không gian). Nếu biến đổi hình ảnh từ miền quan sát sang miền tần số hay sang miền không gian khác (vd. không gian Hough) thì có thể tự động nhận biết các đặc trưng hình ảnh mà chúng không thể dễ dàng nhận biết trong miền quan sát. Biến đổi ảnh số được sử dụng trong phân tích, xử lý hình ảnh và thị giác máy tính.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Mục đích của biến đổi ảnh số là để làm lộ ra hoặc làm nổi bật một số thông tin mong muốn có trên hình ảnh. Các phép biến đổi hình ảnh thông dụng bao gồm biến đổi Hough, biến đổi Fourier rời rạc, biến đổi Cosin rời rạc, biến đổi Wavelet rời rạc và biến đổi khoảng cách.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Các thể loại biến đổi ảnh số==&lt;br /&gt;
===Biến đổi Hough===&lt;br /&gt;
[[File:Hough transform diagram.svg|nhỏ|phải|350px|Một ví dụ bước đầu tiên của biến đổi Hough, cho 3 điểm, với 5 nhóm góc khả dĩ.]]&lt;br /&gt;
[[Biến đổi Hough]] là một kỹ thuật trích chọn đặc trưng hình ảnh. Biến đổi Hough cổ điển được Paul Hough đề xuất năm 1962, để nhận biết vị trí các đoạn thẳng trên ảnh số. Vào năm 1972, Richard Duda và Peter Har đã mở rộng biến đổi Hough cổ điển để có khả năng nhận biết vị trí của hình dạng bất kỳ trên ảnh số như hình tròn, hình elip, đường cong tham số... Biến đổi Hough thực hiện chuyển đổi một hình ảnh từ tọa độ Descartes sang hệ tọa độ cực. Mỗi điểm bất kỳ trong không gian ảnh được biểu diễn bởi đường cong hình sin trong không gian Hough. Hơn nữa, hai điểm trên cùng đoạn thẳng sẽ tạo ra hai đường cong và chúng cắt nhau tại vị trí tương ứng với nơi đoạn thẳng đi qua trong không gian ảnh. Mô hình biến đổi Hough đơn giản nhưng tính toán khá phức tạp, đặc biệt trong trường hợp ảnh có nhiễu hay hình dạng không đầy đủ..&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
===Biến đổi Fourier===&lt;br /&gt;
Biến đổi Fourier là hàm toán học tách tín hiệu dạng sóng (cg. hàm thời gian) thành các tần số tạo nên nó. Ảnh số được xem như hàm biến đổi, tuy nhiên nó không biến đổi theo thời gian mà biến đổi theo hai chiều không gian của hình ảnh. Ví dụ với ảnh số đa cấp xám thì mỗi điểm ảnh có giá trị từ 0 đến 255 để biểu diễn độ xám (cg. cường độ) của điểm ảnh. Vậy, mức xám của điểm ảnh là hàm số của tọa độ điểm ảnh đó. Biến đổi Fourier rời rạc là dạng số của biến đổi Fourier áp dụng cho ảnh số, được sử dụng để tách hình ảnh trong miền không gian thành các thành phần tần số. Biến đổi Fourier rời rạc là biến đổi Fourier áp dụng cho các điểm mẫu, do vậy nó không cho lại toàn bộ tần số để hình thành ảnh số mà chỉ cho lại tập điểm mẫu đủ lớn với khả năng mô tả đầy đủ hình ảnh trong miền không gian. Tổng số tần số tương ứng với tổng số điểm ảnh trong miền không gian. Biến đổi Fourier rời rạc thường được sử dụng để lọc nhiễu hay làm nét hình ảnh. Một hình thức của biến đổi Fourier rời rạc là biến đổi cosin rời rạc. Tương tự như biến đổi Fourier rời rạc, nó được sử dụng để biểu diễn dữ liệu dạng sóng, nhưng chỉ sử dụng phần số thực (thành phần cosin). Biến đổi cosin rời rạc phù hợp với nén ảnh (vd. JPEG) và nén video vì thông tin của ảnh có xu hướng tập trung vào một vài thành phần tần số thấp của biến đổi cosin rời rạc. Ta có thể áp dụng biến đổi cosin rời rạc ngược (IDCT) để có được hình ảnh trong miền thời gian từ hình ảnh trong miền tần số.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
===Biến đổi sóng con===&lt;br /&gt;
Biến đổi sóng con được đề xuất để giải quyết những vấn đề tồn tại của biến đổi Fourier. Biến đổi Fourier cho biết phổ tần số của tín hiệu, nhưng không cho ta biết tần số nào xảy ra vào thời điểm nào. Để giải quyết vấn đề này có thể chia tín hiệu thành các đoạn nhỏ, sau đó áp dụng biến đổi Fourier cho chúng. Nếu ta sử dụng cửa sổ thời gian lớn hơn cho tần số thấp và cửa sổ nhỏ hơn cho tần số cao, thì đó là ý tưởng của biến đổi sóng con. Tương tự như biến đổi Fourier rời rạc, nhiều nhà toán học đã đề xuất biến đổi sóng con rời rạc (DWT) khác nhau để giảm nhiễu (vd. nhiễu Gauss) hay nén ảnh số (vd. JPEG2000).&lt;br /&gt;
===Biến đổi khoảng cách===&lt;br /&gt;
Biến đổi khoảng cách ảnh số là kỹ thuật tạo ra bản đồ khoảng cách từ một điểm bất kỳ đến một điểm thuộc loại khác (vd. biên của đối tượng) gần nhất trên hình ảnh. Ví dụ biến đổi khoảng cách của ảnh nhị phân là tạo ra bản đồ khoảng cách trong đó với mỗi điểm ảnh sẽ được gán một số là khoảng cách giữa nó tới điểm ảnh gần nhất có giá trị khác không. Biến đổi khoảng cách thường được sử dụng để xác định độ dày của đặc trưng trong ảnh.&lt;br /&gt;
===Biến đổi hình học===&lt;br /&gt;
Biến đổi hình học (cg. biến đổi không gian) ảnh số là sự sắp xếp lại các điểm ảnh trong hình ảnh. Nói cách khác, biến đổi hình học là một hàm ánh xạ tập điểm ảnh này sang tập điểm ảnh khác theo một số thao tác nào đó. Có bốn loại biến đổi hình học cơ sở, đó là dịch chuyển, co giãn, xoay và phản chiếu. Biến đổi hình học ảnh được sử dụng để loại bỏ sự biến dạng hình học của các đối tượng trên ảnh.&lt;br /&gt;
==Lịch sử==&lt;br /&gt;
Phương pháp biến đổi Hough do Paul Hough phát minh năm 1962 được Hoa Kỳ cấp chứng nhận bản quyền số US3069654A “Phương pháp và công cụ nhận dạng mẫu phức tạp”. Năm 1972 Richard Duda và Peter Hart đã khái quát hóa biến đổi Hough trong bài báo có tên “Biến đổi Hough tổng quát”. Năm 1981 Dana Ballard đã tổng kết biến đổi Hough trong bài báo khoa học “Tổng quát hóa biến đổi Hough để nhận dạng hình dạng bất kỳ” với khả năng phát hiện các hình dạng có thể biểu diễn bằng tham số trên ảnh số.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Nhà toán học và vật lý học người Pháp Jean-Baptiste Joseph Fourier (1768-1830) đã phát minh ra chuỗi số có thể áp dụng phân tích các hài tín hiệu. Nó là nền tảng cho các thuật toán biến đổi ảnh số như biến đổi Fourier rời rạc, biến đổi cosin rời rạc... được áp dụng rộng rãi trong xử lý ảnh và thị giác máy tính. Năm 1972 Nasir Ahmed, lần đầu tiên đưa ra khái niệm biến đổi cosin rời rạc để áp dụng cho nén ảnh số. Đến 1974 Nasir Ahmed cùng Natarajan và Rao công bố bài báo đầu tiên về biến đổi cosin rời rạc, được nhiều nhà khoa học tham khảo. Năm 1992 bài báo này được xem như nền tảng để nhóm Joint Photographic Experts Group lựa chọn thuật toán xây dựng lược đồ nén ảnh số hao hụt thông tin JPEG (cg. chuẩn JPEG).&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Nhà toán học Hungary Alfréd Haar phát minh ra biến đổi sóng con rời rạc đầu tiên vào năm 1909. Biến đổi sóng con Haar được sử dụng trong nén ảnh và ngày nay còn được sử dụng nhiều trong giảng dạy. Nhà toán học người Bỉ Ingrid Daubechies (sinh năm 1954) đã đề xuất một họ biến đổi sóng con trực giao làm cho biến đổi sóng con rời rạc có khả năng ứng dụng thực tế cao hơn. Năm 1992, Daubechies cùng Cohen và Feauveau đề xuất biến đổi sóng con CDF 9/7. Năm 1988, LeGall-Tabatabai đề xuất biến đổi sóng con LGT 5/3. Chuẩn nén ảnh và video JPEG 2000 sử dụng LGT 5/3 để nén hao hụt thông tin và CDF 9/7 để nén không hao hụt thông tin.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Biến đổi ảnh số là nền tảng của xử lý ảnh số, được sử dụng vào loại bỏ nhiễu trên ảnh, nâng cao chất lượng ảnh thông qua bộ lọc thông thấp hay bộ lọc thông cao. Biến đổi ảnh số được sử dụng trong các lược đồ nén ảnh và trích chọn các đặc trưng trên ảnh như tách cạnh, tách góc đối tượng trên ảnh. Ngoài ra, Biến đổi ảnh số còn được sử dụng để nắn chỉnh, loại bỏ biến dạng hình ảnh.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Tài liệu tham khảo==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
* Borko Furht, Esad Akar, Whitney A. Andrews, Digital Image Processing: Practical Approach, Springer Nature Switzerland, 2018&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
* Rafael C. Gonzalez, Richard E. Woods, Digital Image Processing, Fourth Edition, Pearson Education, 2018.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
* Solomon Chris, Breckon Toby, Fundamentals of digital image processing: a practical approach with examples in Matlab, John Wiley &amp;amp; Sons, 2011&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
* William K. Pratt, Introduction to Digital Image Processing, Taylor &amp;amp; Francis Group, 2014&lt;/div&gt;</summary>
		<author><name>Tttrung</name></author>
	</entry>
	<entry>
		<id>https://bktt.vn/index.php?title=Bi%E1%BA%BFn_%C4%91%E1%BB%95i_%E1%BA%A3nh_s%E1%BB%91&amp;diff=20883</id>
		<title>Biến đổi ảnh số</title>
		<link rel="alternate" type="text/html" href="https://bktt.vn/index.php?title=Bi%E1%BA%BFn_%C4%91%E1%BB%95i_%E1%BA%A3nh_s%E1%BB%91&amp;diff=20883"/>
		<updated>2022-10-13T02:14:07Z</updated>

		<summary type="html">&lt;p&gt;Tttrung: /* Biến đổi Hough */&lt;/p&gt;
&lt;hr /&gt;
&lt;div&gt;{{mới}}&lt;br /&gt;
'''Biến đổi ảnh số''' là quá trình biến đổi từ miền biểu diễn này sang miền biểu diễn khác của ảnh. Thông thường hình ảnh được biểu diễn trong miền quan sát (cg. miền không gian). Nếu biến đổi hình ảnh từ miền quan sát sang miền tần số hay sang miền không gian khác (vd. không gian Hough) thì có thể tự động nhận biết các đặc trưng hình ảnh mà chúng không thể dễ dàng nhận biết trong miền quan sát. Biến đổi ảnh số được sử dụng trong phân tích, xử lý hình ảnh và thị giác máy tính.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Mục đích của biến đổi ảnh số là để làm lộ ra hoặc làm nổi bật một số thông tin mong muốn có trên hình ảnh. Các phép biến đổi hình ảnh thông dụng bao gồm biến đổi Hough, biến đổi Fourier rời rạc, biến đổi Cosin rời rạc, biến đổi Wavelet rời rạc và biến đổi khoảng cách.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Các thể loại biến đổi ảnh số==&lt;br /&gt;
===Biến đổi Hough===&lt;br /&gt;
[[File:Hough transform diagram.svg|nhỏ|phải|350px|Một ví dụ bước đầu tiên của biến đổi Hough, cho 3 điểm, với 5 nhóm góc khả dĩ.]]&lt;br /&gt;
[[Biến đổi Hough]] là một kỹ thuật trích chọn đặc trưng hình ảnh. Biến đổi Hough cổ điển được Paul Hough đề xuất năm 1962, để nhận biết vị trí các đoạn thẳng trên ảnh số. Vào năm 1972, Richard Duda và Peter Har đã mở rộng biến đổi Hough cổ điển để có khả năng nhận biết vị trí của hình dạng bất kỳ trên ảnh số như hình tròn, hình elip, đường cong tham số... Biến đổi Hough thực hiện chuyển đổi một hình ảnh từ tọa độ Descartes sang hệ tọa độ cực. Mỗi điểm bất kỳ trong không gian ảnh được biểu diễn bởi đường cong hình sin trong không gian Hough. Hơn nữa, hai điểm trên cùng đoạn thẳng sẽ tạo ra hai đường cong và chúng cắt nhau tại vị trí tương ứng với nơi đoạn thẳng đi qua trong không gian ảnh. Mô hình biến đổi Hough đơn giản nhưng tính toán khá phức tạp, đặc biệt trong trường hợp ảnh có nhiễu hay hình dạng không đầy đủ..&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
===Biến đổi Fourier===&lt;br /&gt;
Biến đổi Fourier là hàm toán học tách tín hiệu dạng sóng (cg. hàm thời gian) thành các tần số tạo nên nó. Ảnh số được xem như hàm biến đổi, tuy nhiên nó không biến đổi theo thời gian mà biến đổi theo hai chiều không gian của hình ảnh. Ví dụ với ảnh số đa cấp xám thì mỗi điểm ảnh có giá trị từ 0 đến 255 để biểu diễn độ xám (cg. cường độ) của điểm ảnh. Vậy, mức xám của điểm ảnh là hàm số của tọa độ điểm ảnh đó. Biến đổi Fourier rời rạc là dạng số của biến đổi Fourier áp dụng cho ảnh số, được sử dụng để tách hình ảnh trong miền không gian thành các thành phần tần số. Biến đổi Fourier rời rạc là biến đổi Fourier áp dụng cho các điểm mẫu, do vậy nó không cho lại toàn bộ tần số để hình thành ảnh số mà chỉ cho lại tập điểm mẫu đủ lớn với khả năng mô tả đầy đủ hình ảnh trong miền không gian. Tổng số tần số tương ứng với tổng số điểm ảnh trong miền không gian. Biến đổi Fourier rời rạc thường được sử dụng để lọc nhiễu hay làm nét hình ảnh. Một hình thức của biến đổi Fourier rời rạc là biến đổi cosin rời rạc. Tương tự như biến đổi Fourier rời rạc, nó được sử dụng để biểu diễn dữ liệu dạng sóng, nhưng chỉ sử dụng phần số thực (thành phần cosin). Biến đổi cosin rời rạc phù hợp với nén ảnh (vd. JPEG) và nén video vì thông tin của ảnh có xu hướng tập trung vào một vài thành phần tần số thấp của biến đổi cosin rời rạc. Ta có thể áp dụng biến đổi cosin rời rạc ngược (IDCT) để có được hình ảnh trong miền thời gian từ hình ảnh trong miền tần số.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
===Biến đổi sóng con===&lt;br /&gt;
Biến đổi sóng con được đề xuất để giải quyết những vấn đề tồn tại của biến đổi Fourier. Biến đổi Fourier cho biết phổ tần số của tín hiệu, nhưng không cho ta biết tần số nào xảy ra vào thời điểm nào. Để giải quyết vấn đề này có thể chia tín hiệu thành các đoạn nhỏ, sau đó áp dụng biến đổi Fourier cho chúng. Nếu ta sử dụng cửa sổ thời gian lớn hơn cho tần số thấp và cửa sổ nhỏ hơn cho tần số cao, thì đó là ý tưởng của biến đổi sóng con. Tương tự như biến đổi Fourier rời rạc, nhiều nhà toán học đã đề xuất biến đổi sóng con rời rạc (DWT) khác nhau để giảm nhiễu (vd. nhiễu Gauss) hay nén ảnh số (vd. JPEG2000).&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Biến đổi khoảng cách ảnh số là kỹ thuật tạo ra bản đồ khoảng cách từ một điểm bất kỳ đến một điểm thuộc loại khác (vd. biên của đối tượng) gần nhất trên hình ảnh. Ví dụ biến đổi khoảng cách của ảnh nhị phân là tạo ra bản đồ khoảng cách trong đó với mỗi điểm ảnh sẽ được gán một số là khoảng cách giữa nó tới điểm ảnh gần nhất có giá trị khác không. Biến đổi khoảng cách thường được sử dụng để xác định độ dày của đặc trưng trong ảnh.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Biến đổi hình học (cg. biến đổi không gian) ảnh số là sự sắp xếp lại các điểm ảnh trong hình ảnh. Nói cách khác, biến đổi hình học là một hàm ánh xạ tập điểm ảnh này sang tập điểm ảnh khác theo một số thao tác nào đó. Có bốn loại biến đổi hình học cơ sở, đó là dịch chuyển, co giãn, xoay và phản chiếu. Biến đổi hình học ảnh được sử dụng để loại bỏ sự biến dạng hình học của các đối tượng trên ảnh.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Phương pháp biến đổi Hough do Paul Hough phát minh năm 1962 được Hoa Kỳ cấp chứng nhận bản quyền số US3069654A “Phương pháp và công cụ nhận dạng mẫu phức tạp”. Năm 1972 Richard Duda và Peter Hart đã khái quát hóa biến đổi Hough trong bài báo có tên “Biến đổi Hough tổng quát”. Năm 1981 Dana Ballard đã tổng kết biến đổi Hough trong bài báo khoa học “Tổng quát hóa biến đổi Hough để nhận dạng hình dạng bất kỳ” với khả năng phát hiện các hình dạng có thể biểu diễn bằng tham số trên ảnh số.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Nhà toán học và vật lý học người Pháp Jean-Baptiste Joseph Fourier (1768-1830) đã phát minh ra chuỗi số có thể áp dụng phân tích các hài tín hiệu. Nó là nền tảng cho các thuật toán biến đổi ảnh số như biến đổi Fourier rời rạc, biến đổi cosin rời rạc... được áp dụng rộng rãi trong xử lý ảnh và thị giác máy tính. Năm 1972 Nasir Ahmed, lần đầu tiên đưa ra khái niệm biến đổi cosin rời rạc để áp dụng cho nén ảnh số. Đến 1974 Nasir Ahmed cùng Natarajan và Rao công bố bài báo đầu tiên về biến đổi cosin rời rạc, được nhiều nhà khoa học tham khảo. Năm 1992 bài báo này được xem như nền tảng để nhóm Joint Photographic Experts Group lựa chọn thuật toán xây dựng lược đồ nén ảnh số hao hụt thông tin JPEG (cg. chuẩn JPEG).&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Nhà toán học Hungary Alfréd Haar phát minh ra biến đổi sóng con rời rạc đầu tiên vào năm 1909. Biến đổi sóng con Haar được sử dụng trong nén ảnh và ngày nay còn được sử dụng nhiều trong giảng dạy. Nhà toán học người Bỉ Ingrid Daubechies (sinh năm 1954) đã đề xuất một họ biến đổi sóng con trực giao làm cho biến đổi sóng con rời rạc có khả năng ứng dụng thực tế cao hơn. Năm 1992, Daubechies cùng Cohen và Feauveau đề xuất biến đổi sóng con CDF 9/7. Năm 1988, LeGall-Tabatabai đề xuất biến đổi sóng con LGT 5/3. Chuẩn nén ảnh và video JPEG 2000 sử dụng LGT 5/3 để nén hao hụt thông tin và CDF 9/7 để nén không hao hụt thông tin.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Biến đổi ảnh số là nền tảng của xử lý ảnh số, được sử dụng vào loại bỏ nhiễu trên ảnh, nâng cao chất lượng ảnh thông qua bộ lọc thông thấp hay bộ lọc thông cao. Biến đổi ảnh số được sử dụng trong các lược đồ nén ảnh và trích chọn các đặc trưng trên ảnh như tách cạnh, tách góc đối tượng trên ảnh. Ngoài ra, Biến đổi ảnh số còn được sử dụng để nắn chỉnh, loại bỏ biến dạng hình ảnh.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Tài liệu tham khảo==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
* Borko Furht, Esad Akar, Whitney A. Andrews, Digital Image Processing: Practical Approach, Springer Nature Switzerland, 2018&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
* Rafael C. Gonzalez, Richard E. Woods, Digital Image Processing, Fourth Edition, Pearson Education, 2018.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
* Solomon Chris, Breckon Toby, Fundamentals of digital image processing: a practical approach with examples in Matlab, John Wiley &amp;amp; Sons, 2011&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
* William K. Pratt, Introduction to Digital Image Processing, Taylor &amp;amp; Francis Group, 2014&lt;/div&gt;</summary>
		<author><name>Tttrung</name></author>
	</entry>
	<entry>
		<id>https://bktt.vn/index.php?title=Ki%E1%BA%BFn_tr%C3%BAc_Neumann&amp;diff=20882</id>
		<title>Kiến trúc Neumann</title>
		<link rel="alternate" type="text/html" href="https://bktt.vn/index.php?title=Ki%E1%BA%BFn_tr%C3%BAc_Neumann&amp;diff=20882"/>
		<updated>2022-10-13T02:10:21Z</updated>

		<summary type="html">&lt;p&gt;Tttrung: &lt;/p&gt;
&lt;hr /&gt;
&lt;div&gt;{{mới}}&lt;br /&gt;
'''Kiến trúc Neumann''' là kiểu kiến trúc máy tính do [[von Neumann]] đưa ra bao gồm các thành phần: &lt;br /&gt;
# Bộ số học/logic (ALU); &lt;br /&gt;
# Bộ nhớ (Memory Unit); &lt;br /&gt;
# Bộ điều khiển (CU); &lt;br /&gt;
# Thiết bị vào/ra (Input/Output Devices).&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
[[File:Von Neumann Architecture.svg|right|Sơ đồ kiến trúc Neumann]]&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Bộ số học và bộ điều khiển là các cấu phần quan trọng nhất tạo thành [[bộ xử lý trung tâm]] (CPU) của các máy tính theo kiến trúc von Neumann, đặc biệt là các máy vi tính (xt. Bộ xử lý trung tâm)&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Điểm đáng chú ý nhất trong kiến trúc Neumann là khái niệm &amp;quot;Chương trình được lưu trữ&amp;quot; (stored-program) xác định dữ liệu (data) cùng với lệnh (instruction) được dùng để xử lý dữ liệu đó có thể được lưu giữ trên cùng một vùng nhớ của máy tính. Đây là ý tưởng hoàn toàn khác biệt với cấu trúc của các máy tính ra đời trước đó như ENIAC (xt. ENIAC).&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Do dữ liệu và các lệnh được lưu trong cùng một vùng nhớ (thực chất là RAM, xt. Bộ nhớ máy tính) nên cần thiết phải phân biệt chúng vì giá trị trên vùng nhớ chỉ là dãy các số nhị phân 0 và 1. Trong kiến trúc Neumann, bộ điều khiển đảm nhận việc phân biệt phần nào là dữ liệu, phần nào là lệnh được lưu trong bộ nhớ. Khi bắt đầu gọi một lệnh để xử lí, bộ điều khiển sẽ gọi tới bộ đếm chương trình (program counter) để trỏ tới địa chỉ của lệnh trong bộ nhớ, lệnh này sẽ được nạp và thực thi. Địa chỉ của dữ liệu cần xử lý được chứa trong chính lệnh cần thực thi, dữ liệu sẽ được nạp/ghi (read/write) theo yêu cầu của câu lệnh đó. Trong khi tìm nạp và thực thị lệnh, bộ đếm chương trình sẽ tăng lên để trỏ tới lệnh tiếp theo cần thực thi. Như vậy,việc thực thi các lệnh là một quá trình tuần tự, tại mỗi thời điểm chỉ có một lệnh được thực thi. Đây là đặc điểm tiêu biểu của kiến trúc Neumann.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Kiến trúc Neumann được đề cập lần đầu tiên vào năm 1945 trong một tài liệu có tính bước ngoặt với tựa đề: &amp;quot;Bản thảo đầu tiên về máy tính EDVAC&amp;quot; (&amp;quot;The First Draft of a Report on the EDVAC&amp;quot;) được viết trong quá trình triển khai dự án chế tạo máy tính EDVAC hiện đại hơn so với máy tính ENIAC ra đời trước đó một năm. Tài liệu đó mô tả kiến trúc thiết kế cho một máy tính điện tử kỹ thuật số. Tài liệu này ban đầu được von Neumann trao đổi giới hạn với các thành viên trong nhóm tham gia dự án, tuy nhiên, sau đó nó đã được phổ biến rộng rãi, đem đến những ảnh hưởng hết sức to lớn tới sự phát triển của máy tính ở Hoa Kì và thế giới.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Khi bộ xử lý trung tâm tìm nạp lệnh từ bộ nhớ (fetching an instruction) thì nó không thể đọc/ghi dữ liệu (read/write memory). ngược lại, khi đọc/ghi dữ liệu trên bộ nhớ thì nó không thể tìm nạp lệnh do cả hai thao tác cùng sử dụng chung một đường truyền (bus). Nói cách khác, hai thao tác trên không thể nào thực hiện đồng thời. Điều này, dẫn tới tình trạng được gọi là tình trạng &amp;quot;Thắt cổ chai Von Neumann&amp;quot; (Von Neumann bottleneck) làm hạn chế tốc độ hệ thống do tốc độ thực thi của bộ xử lý trung tâm nhanh hơn tốc độ cung cấp thông tin cho bộ xử lý trung tâm từ bộ nhớ (tốc độ truy cập bộ nhớ). Ngày nay, có nhiều kỹ thuật đã được sử dụng như tăng độ rộng bus hay dùng [[bộ nhớ đệm]] nhằm giúp hạn chế tình trạng này.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Khác với kiến trúc Neumann, một kiến trúc máy tính khá phổ biến khác cũng ra đời trong giai đoạn những năm đầu 1940, kiến trúc Harvard cho phép thực hiện cả hai thao tác tìm nạp lệnh và xử lý dữ liệu (xt. Kiến trúc Harvard). Tuy nhiên, do các máy tính theo kiến trúc Harvard đều cồng kềnh và thiết kế phức tạp cho nên kiến trúc máy tính dựa trên KTNM vẫn là kiến trúc máy tính phổ biến nhất hiện nay. Phần lớn các máy tính hiện nay, đặc biệt là các máy tính cá nhân đều được thiết kế trên cơ sở KTNM (xt. Máy tính cá nhân).&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Tài liệu tham khảo==&lt;br /&gt;
* Von Neumann, John (1945). First Draft of a Report on the EDVAC (PDF). retrieved August 24, 2011.&lt;br /&gt;
* Linda Null, Julia Lobbur. The Essentials of Computer Organization and Architecture. Jones &amp;amp; Bartlett Pub., 2003.&lt;br /&gt;
* Blaauw, Gerrit A., and Frederick P. Brooks Jr. Computer architecture: concepts and evolution. Addison-Wesley Longman Publishing Co., Inc., 1997.&lt;br /&gt;
* John L. Hennessy and David Patterson (2006). Computer Architecture: A Quantitative Approach (Fourth ed. ). Morgan Kaufmann. ISBN 978-0-12-370490-0.&lt;br /&gt;
* Bell, C. Gordon; and Newell, Allen (1971). Computer Structures: Readings and Examples, McGraw-Hill.&lt;br /&gt;
* Tanenbaum, Andrew S. (1979). Structured Computer Organization. Englewood Cliffs, New Jersey: Prentice-Hall. ISBN 0-13-148521-0.&lt;/div&gt;</summary>
		<author><name>Tttrung</name></author>
	</entry>
	<entry>
		<id>https://bktt.vn/index.php?title=B%C3%A1nh_ch%C6%B0ng,_b%C3%A1nh_d%E1%BA%A7y&amp;diff=20881</id>
		<title>Bánh chưng, bánh dầy</title>
		<link rel="alternate" type="text/html" href="https://bktt.vn/index.php?title=B%C3%A1nh_ch%C6%B0ng,_b%C3%A1nh_d%E1%BA%A7y&amp;diff=20881"/>
		<updated>2022-10-13T02:09:13Z</updated>

		<summary type="html">&lt;p&gt;Tttrung: &lt;/p&gt;
&lt;hr /&gt;
&lt;div&gt;[[File:Bánh chưng bánh giầy mang theo giá trị bản sắc văn hóa Việt Nam.jpg|thumb|Bánh chưng bánh dầy mang theo giá trị bản sắc văn hóa Việt Nam.]][[File:Gia đình cùng nhau gói bánh chưng ngày Tết.webp|thumb|Gia đình cùng nhau gói bánh chưng ngày Tết]]{{sơ}}'''Bánh chưng, bánh dầy''' những loại bánh truyền thống được dùng làm lễ vật cúng tế vào các dịp như: Tết Nguyên đán, giỗ Tổ Hùng Vương để bày tỏ tấm lòng thành kính, biết ơn của các thế hệ con cháu đối với tổ tiên và đất trời.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Người dân Việt Nam rất quen thuộc với sự tích bánh chưng bánh dầy - một truyền thuyết thời Văn Lang, được ghi chép đầu tiên trong Lĩnh Nam chích quái, mục &amp;quot;Truyện bánh chưng&amp;quot; (Chưng bính truyện): Sau khi Vua Hùng đã phá được quân nhà Ân, trong nước trở nên vô sự. Vua có ý muốn truyền ngôi cho con, bèn họp 22 vị quan lang công tử lại, bảo rằng: “Ai trong các con có thể làm theo ý nguyện của ta, cuối năm đem của ngon vật lạ đến tiến cúng tiên vương, để tròn đạo hiếu, thì ta sẽ truyền ngôi cho”. Các công tử bèn đua nhau đi tìm của ngon vật lạ khắp nơi, những thứ tìm được nhiều không đếm xuể. Riêng người con trai thứ 18 là Lang Liêu, mẹ hàn vi, đã bị bệnh qua đời, chung quanh ít người giúp đỡ nên ngày đêm lo lắng, ăn ngủ không yên. Bỗng một hôm Lang Liêu được thần nhân mách bảo rằng: “Các vật trong trời đất, riêng gạo là quý. Gạo là thứ nuôi dân, làm cho con người khỏe mạnh mà ăn lại không bao giờ chán, chẳng vật nào hơn được. Nếu lấy gạo nếp làm bánh, hoặc giã cho dẻo, nặn thành hình tròn tượng trưng cho trời, hoặc lấy lá gói thành hình vuông tượng trưng cho đất, ở giữa kèm thức ăn ngon, bắt chước cảnh trạng trời đất chứa đựng muôn loài, ngụ ý công ơn nuôi nấng to lớn của bố mẹ, thì bố mẹ có thể vui lòng, ngôi cao khả dĩ được truyền”. Theo lời mách bảo của thần, Lang Liêu chọn thứ gạo nếp trắng tinh, tròn mẩy không vỡ, vo thật kĩ, gói thành hình vuông, đặt đồ ăn ngon trong đó, nấu cho chín để tượng trưng cho đất, gọi là bánh chưng. Lại lấy gạo nếp đồ cho chín, giã rồi nhào nặn thành hình tròn để tượng trưng cho trời, gọi là bánh dày. Đến hẹn, vua họp các con lại. Vua xem qua khắp lượt, thấy đồ hiến dâng của các công tử không thiếu vật gì. Duy có Lang Liêu làm bánh hình vuông, hình tròn để tiến cúng. Vua lấy làm lạ, hỏi Lang Liêu. Lang Liêu đáp như lời thần nhân bảo. Vua nếm bánh, thấy trăm vị đều có, ngon miệng mà không chán. Các thứ trình dâng khác, chẳng thứ nào hơn được. Vua tấm tắc khen rồi cho Lang Liêu được nhất. Lễ tết cuối năm, vua bắt phải làm thứ bánh ấy để cúng bố mẹ. Thiên hạ bắt chước, truyền mãi đến ngày nay.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Theo quan niệm phổ biến hiện nay, sự tích bánh chưng bánh dầy phản ánh vũ trụ quan của người Việt cổ: Bánh dầy hình tròn tượng trưng cho trời, còn bánh chưng hình vuông tượng trưng cho đất. Tuy nhiên, theo nhà sử học Trần Quốc Vượng (2001, 2010), thoạt kỳ thủy, bánh chưng không được gói vuông như bây giờ mà có hình tròn, dài, giống như bánh tét - loại bánh thay thế vị trí của bánh chưng vào các dịp Tết trong cộng đồng người Việt ở Nam Bộ. Thập niên 80 của thế kỉ trước, người dân Cổ Loa, Đông Anh (ngoại thành Hà Nội), vẫn gói bánh chưng như đòn bánh tét và vẫn gọi nó là bánh chưng, thi thoảng mới gói thêm bánh chưng vuông. Vì vậy, triết lý bánh chưng vuông tượng đất, bánh dầy tròn tượng trời không phải là triết lý dân gian mà thực chất là một triết lý Trung Hoa sau này hội nhập vào Việt Nam. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Sách Lịch sử Văn hóa Trung Quốc cho biết: ở Trung Hoa, trước thời Chiến Quốc (403 - 221 trước Công Nguyên) đã sớm có thuyết về trời tròn đất vuông. Đến thời Chiến Quốc, người ta đã nêu nghi vấn về thuyết này. Quyển “Thiên Văn chí” của Tấn Thư (biên soạn vào thế kỉ thứ VII) giới thiệu thuyết trời tròn đất vuông (thiên viên địa phương) và cho rằng thuyết này bắt nguồn từ thuyết cái thiên (hình thành từ thời Đông Chu, thế kỉ V trước CN với quan niệm trời như cái nắp đậy). “Trời tròn đất vuông” còn được bắt gặp trong một bài ca xuất hiện ở hồi thứ 37 của truyện Tam quốc diễn nghĩa (thế kỉ XV): &amp;quot;Giời xanh như tán lọng tròn/ Đất kia chằn chặn như bàn cờ vuông&amp;quot;.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Như vậy, quan niệm bánh dầy tròn tượng trời, bánh chưng vuông tượng đất được ghi chép trong Lĩnh Nam chích quái, thực chất là quan niệm của nhà nho Việt Nam (chịu ảnh hưởng từ triết lý Trung Hoa cổ), chứ chưa hẳn đã là quan niệm của dân gian. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Theo Trần Quốc Vượng, bánh chưng nguyên thủy tròn, dài tượng trưng cho dương vật, như cái chày, cái nõ; bánh dầy tròn, dẹt tượng trưng cho âm vật, như cái cối, cái nường. Đó là triết lý nõ - nường, chày - cối của dân gian, là tín ngưỡng phồn thực dân gian, và nó cũng phù hợp với ước vọng về sự sinh sôi, no đủ cũng như cái nhìn và tâm thức rất đỗi hồn nhiên của người Việt cổ. Ngay cả khi đã chuyển sang gói bánh chưng vuông, dân gian ngày trước, với tư duy cặp đôi, vẫn có tục lệ buộc hay ấp hai chiếc bánh (một sấp, một ngửa) đặt trên bàn thờ và khi biếu họ hàng, khách khứa thì luôn biếu một cặp, chứ không bao giờ biếu một chiếc. Như thế, lúc đầu tiên, dân gian quan niệm về bánh chưng, bánh dầy theo tín ngưỡng phồn thực. Dần dần, do tác động của sách vở, của giáo dục phổ thông, ít nhất cũng khoảng một vài thế kỉ nay, dân ta quan niệm bánh dầy tượng trời, bánh trưng tượng đất và làm hai loại bánh với hình dáng vuông, tròn ấy. Bánh chưng gói ghém trong nó cả một nền văn minh nông nghiệp lúa gạo, thể hiện thế ứng xử vừa hòa hợp, vừa khai thác tự nhiên của cư dân Việt xưa. Lá dong riềng lấy sẵn từ thiên nhiên. Còn bánh chưng (với những nguyên liệu chính: gạo nếp, đỗ xanh, thịt lợn…) là sản phẩm của nền trồng trọt và chăn nuôi Việt Nam. Cái đặc sắc, độc đáo của bánh chưng không chỉ là và chủ yếu không phải là ở từng yếu tố hợp thành cái bánh mà chính là ở cơ cấu của bánh: nó tạo nên nét khác biệt trong hình khối, màu sắc, hương vị của bánh chưng so với hàng chục loại xôi đỗ và bánh nếp khác, vốn được dùng hằng ngày như quà và trong các dịp cưới xin, giỗ, tết như lễ phẩm.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Tuy nhiên, theo nhiều nhà nghiên cứu lịch sử và văn hóa, nó không phải là lễ vật và món ăn độc đáo của Việt Nam theo nghĩa chỉ riêng Việt Nam mới có. Ở Tứ Xuyên (Trung Quốc) cũng có loại bánh lễ gần giống như bánh tét, gọi theo âm Hán Việt là &amp;quot;tông bính&amp;quot;. Còn loại bánh mochi làm từ gạo nếp hạt ngắn đem đồ lên đến khi chín mềm rồi giã nóng bằng chày, được bày trên bàn thờ tổ tiên trong dịp lễ tết của người Nhật Bản cũng chính là món bánh dầy. Vì thế, không hề vô cớ để nói rằng bánh chưng bánh dầy chính là sản phẩm của một vùng văn minh lúa gạo rộng lớn ở Đông Á và Đông Nam Á. Tuy vậy, những loại bánh đó vẫn luôn là lễ vật, là món ăn cổ truyền điển hình của ngày Tết Việt Nam, và hơn thế, là một biểu tượng văn hóa mang tính thiêng, có chức năng hình thành và nuôi dưỡng ở tất cả những người dân Việt Nam một suy tưởng chung về dân tộc, Tổ quốc.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Là những loại bánh có lịch sử lâu đời trong ẩm thực và văn hóa truyền thống, được xem như là một đại diện của bản sắc, cội nguồn Việt Nam, bánh chưng bánh dầy, vì thế, có một vị trí vô cùng đặc biệt trong tâm thức dân gian và đóng vai trò như một sợi dây kết nối các cộng đồng người Việt Nam trên toàn thế giới.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
== Tài liệu tham khảo ==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
#	Phan Kế Bính, Việt Nam phong tục, Nxb.Thành phố Hồ Chí Minh, Thành phố Hồ Chí Minh, tái bản, 1992.&lt;br /&gt;
#	Viện Nghiên cứu Hán Nôm, Tổng tập tiểu thuyết chữ Hán Việt Nam, tập 1, Nxb. Thế giới, 1997.&lt;br /&gt;
#	Trần Quốc Vượng, Văn hóa ẩm thực Việt Nam, tập 1, Nxb. Thanh niên, 2001.&lt;br /&gt;
#	Vũ Ngọc Khánh, Văn hóa ẩm thực Việt Nam, Nxb. Lao động, 2002.&lt;br /&gt;
#	La Quán Trung, Tam Quốc diễn nghĩa, tập 1, Nxb. Văn hóa Sài Gòn, 2006.&lt;br /&gt;
#	Mai Viên Đoàn Triển, An Nam phong tục sách, Nxb. Hà Nội, 2008.&lt;br /&gt;
#	Trần Quốc Vượng, Nguyễn Thị Bảy, Văn hóa ẩm thực nhìn từ lí luận và thực tiễn, Nxb. Từ điển bách khoa và Viện Văn hóa xb, 2010.&lt;br /&gt;
#	Nguyễn Xuân Kính (chủ biên), Lịch sử văn hóa Việt Nam, Nxb. Khoa học xã hội, 2015.&lt;br /&gt;
#	Nhất Thanh, Đất lề quê thói - phong tục Việt Nam, Nxb.Văn học, Hà Nội, 2016.&lt;br /&gt;
#	Ngô Đức Thịnh, Khám phá ẩm thực truyền thống Việt Nam, Nxb. Đại học Quốc gia, 2019.&lt;/div&gt;</summary>
		<author><name>Tttrung</name></author>
	</entry>
	<entry>
		<id>https://bktt.vn/index.php?title=B%C3%A1nh_d%E1%BA%A7y&amp;diff=20880</id>
		<title>Bánh dầy</title>
		<link rel="alternate" type="text/html" href="https://bktt.vn/index.php?title=B%C3%A1nh_d%E1%BA%A7y&amp;diff=20880"/>
		<updated>2022-10-13T02:08:52Z</updated>

		<summary type="html">&lt;p&gt;Tttrung: Đổi hướng đến Bánh chưng, bánh dầy&lt;/p&gt;
&lt;hr /&gt;
&lt;div&gt;#đổi [[Bánh chưng, bánh dầy]]&lt;/div&gt;</summary>
		<author><name>Tttrung</name></author>
	</entry>
	<entry>
		<id>https://bktt.vn/index.php?title=B%C3%A1nh_ch%C6%B0ng&amp;diff=20879</id>
		<title>Bánh chưng</title>
		<link rel="alternate" type="text/html" href="https://bktt.vn/index.php?title=B%C3%A1nh_ch%C6%B0ng&amp;diff=20879"/>
		<updated>2022-10-13T02:08:41Z</updated>

		<summary type="html">&lt;p&gt;Tttrung: Đổi hướng đến Bánh chưng, bánh dầy&lt;/p&gt;
&lt;hr /&gt;
&lt;div&gt;#đổi [[Bánh chưng, bánh dầy]]&lt;/div&gt;</summary>
		<author><name>Tttrung</name></author>
	</entry>
	<entry>
		<id>https://bktt.vn/index.php?title=T%C3%A2m_l%C3%BD_h%E1%BB%8Dc_d%C3%A2n_t%E1%BB%99c&amp;diff=20433</id>
		<title>Tâm lý học dân tộc</title>
		<link rel="alternate" type="text/html" href="https://bktt.vn/index.php?title=T%C3%A2m_l%C3%BD_h%E1%BB%8Dc_d%C3%A2n_t%E1%BB%99c&amp;diff=20433"/>
		<updated>2022-09-26T08:27:10Z</updated>

		<summary type="html">&lt;p&gt;Tttrung: &lt;/p&gt;
&lt;hr /&gt;
&lt;div&gt;{{mới}}&lt;br /&gt;
'''Tâm lý học dân tộc''' là bộ môn khoa học nghiên cứu về bản chất của [[tinh thần dân tộc]], phát hiện các qui luật chi phối hoạt động nội tâm của mỗi [[dân tộc]] và tìm ra các qui luật chủ yếu dẫn tới sự xuất hiện, phát triển và diệt vong những đặc trưng tâm lý nào đó của dân tộc.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Lịch sử phát triển==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
===Tiền đề===&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Những tư tưởng về tâm lý học dân tộc đã có từ thời cổ đại. Quá trình hình thành Tâm lý học dân tộc trong lòng khoa học lịch sử và khoa học triết học cổ đại (T.G. Stefanenko, 2003). Những tư tưởng về Tâm lý học dân tộc đã xuất hiện trong các công trình của các nhà lịch sử và triết học thời kỳ cổ đại như : Herodot, Hypocrat, Taxit, Xtrabon,  M. Kooyl...(Koyl, 1997).&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Đến thế kỷ thứ XVIII, sự phát triển của Tâm lý học dân tộc bước sang một giai đoạn mới khi dân tộc được xem là đối tượng nghiên cứu một cách khoa học. Song, trong thời gian này các nhà tư tưởng vẫn cho rằng môi trường sống và khí hậu tạo nên sự khác biệt về lối sống và tính cách của các dân tộc. Chẳng hạn, khi giải thích sự khác biệt trí tuệ của các dân tộc người ta đã dựa vào điều kiện khí hậu, nhất là nhiệt độ. Khí hậu ôn đới của Trung Đông và Tây Âu đã tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển trí tuệ và sự văn minh hơn so với khí hậu vùng nhiệt đới mà ở đó cái nóng làm nghẹt thở và tiêu hao nhiều sức lực của con người.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
====Pháp====&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Vào thế kỷ XVIII, các nhà tư tưởng Pháp đã đưa ra khái niệm tinh thần dân tộc và cố gắng giải thích khái niệm này bằng yếu tố địa lý. Montersquieub (1689 – 1755) là đại diện của xu hướng này. Ông cho rằng: con người bị qui định bởi nhiều yếu tố như khí hậu, tôn giáo, chuẩn mực, nguyên tắc điều hành, những tấm gương của quá khứ, phong tục, tập quán và từ đó hình thành nên tinh thần dân tộc.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
====Đức====&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Vào thế kỷ XVIII, các nhà triết học Đức cũng quan tâm đến vấn đề tinh thần dân tộc. Đại diện của hướng nghiên cứu này là I.G. Herder (1744 – 1808). Theo ông tinh thần dân tộc không phải là cái gì rõ ràng mà nó đồng nhất với các khái niệm “tâm hồn dân tộc”, “tính cách dân tộc”. Herder cho rằng nghiên cứu các yếu tố tâm lý dân tộc đặc trưng là vấn đề rất phức tạp. Ông nhấn mạnh đến sự ảnh hưởng của khí hậu, môi trường sống tự nhiên đến tâm lý dân tộc, song ông lại bỏ qua ảnh hưởng của các yếu tố xã hội như lối sống, giáo dục, cấu trúc xã hội và lịch sử đến tâm lý dân tộc.&lt;br /&gt;
====Khu vực khác====&lt;br /&gt;
Vào thời kỳ này cần kể đến một số nhà triết học lớn khác của châu Âu quan tâm đến tâm lý dân tộc như nhà triết học người Anh D. Yung, các nhà tư tưởng Đức vĩ đại như I. Kant, Hêghen. Họ đã chỉ ra các yếu tố ảnh hưởng đến tinh thần dân tộc và mô tả “chân dung tâm lý ’’ của các dân tộc.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
===Trở thành khoa học độc lập===&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Sự phát triển của hàng loạt các ngành khoa học trước hết là dân tộc học, ngôn ngữ học đã dẫn tới sự hình thành tâm lý học dân tộc như một ngành khoa học độc lập vào giữa thế kỷ XIX.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Một mốc quan trọng để đánh dấu sự hình thành Tâm lý học dân tộc là việc xuất bản Tạp chí Tâm lý học dân tộc vào năm 1859 của M. Lazarus và H. Steinthal. Morit Lazarus (1824-1903) là nhà tâm lý học người Đức. Trong nghiên cứu tâm lý dân tộc, ông nhấn mạnh đến các giá trị dân tộc. Heymann Steinthal (1823-1899) là nhà triết học người Đức. Ông nghiên cứu về tư duy của nhóm. Cùng với Lazarus ông sáng lập ra tâm lý học dân tộc. Hai ông được xem là “cha đẻ” của Tâm lý học dân tộc. Theo những người sáng lập Tâm lý học dân tộc thì đối tượng nghiên cứu của Tâm lý học dân tộc là tinh thần dân tộc. Những nhiệm vụ nghiên cứu cơ bản của Tâm lý học dân tộc theo M. Lazarus và H. Steinthal là : 1) Nhận thức bản chất của tinh thần dân tộc; 2) Phát hiện các qui luật chi phối hoạt động nội tâm của mỗi dân tộc; 3) Tìm ra các qui luật chủ yếu dẫn tới sự xuất hiện, phát triển và diệt vong những đặc trưng tâm lý nào đó của dân tộc.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Trong thế kỷ XX, Tâm lý học dân tộc phát triển mạnh ở Nga, Đức, Pháp, Mỹ và một số quốc gia khác.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
====Việt Nam====&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Sự hình thành Tâm lý học dân tộc tộc ở Việt Nam dựa trên một số tiền đề cơ bản sau: những nghiên cứu tâm lý dân tộc từ góc độ sử học, dân tộc học, kinh tế, xã hội học, văn hóa học; những nghiên cứu bước đầu về tâm lý dân tộc.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Từ các tiền đề trên, tâm lý học dân tộc đã trở thành phân ngành tâm lý học ở Việt Nam. Suốt gần nửa thế kỷ, những nghiên cứu của các nhà sử học, dân tộc học, kinh tế học, văn hoá học, xã hội học, triết học, tâm lý học...về những khía cạnh của tâm lý dân tộc đã đặt một tiền đề quan trọng cho những nghiên cứu chính thức về tâm lý học dân tộc sau này và từ đó hình thành phân ngành Tâm lý học dân tộc ở nước ta. Một số dấu ấn quan trọng đối với việc hình thành phân ngành tâm lý học này ở nước ta là: 1) Những nghiên cứu chính thức đầu tiên về tâm lý dân tộc ; 2) Thành lập Phòng tâm lý học dân tộc tại Viện Tâm lý học ; 3) Tâm lý học dân tộc được giảng dạy trong trường đại học ; 4) Sự đăng tải các bài báo khoa học về tâm lý dân tộc trên Tạp chí Tâm lý học.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Hướng nghiên cứu hiện đại==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Trong những thập kỷ cuối của thế kỷ XX và thập kỷ đầu của thế kỷ XXI, những vấn đề của tâm lý dân tộc đã thu hút được sự quan tâm của các nhà tâm lý học, dân tộc học, các nhà nghiên cứu văn hoá...Đặc biệt, khi xung đột dân tộc, định kiến dân tộc và phong trào ly khai của các dân tộc xuất hiện và phát triển có xu hướng tăng ở các châu lục thì tâm lý dân tộc càng được nghiên cứu nhiều hơn, nhìn nhận nhiều hơn ở các góc độ khác nhau. Có thể nêu ra một số công trình nghiên cứu về tâm lý dân tộc sau: Nghiên cứu tâm lý dân tộc theo hướng giao thoa văn hóa; Nghiên cứu tâm trạng và bản sắc dân tộc; Nghiên cứu về định kiến, tri giác dân tộc; Nghiên cứu thái độ và xung đột dân tộc.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Tài liệu tham khảo==&lt;br /&gt;
#Vũ Dũng. Tâm lý học dân tộc, Nhà xuất bản Từ điển bách khoa, Hà Nội 2009&lt;br /&gt;
#Vũ Dũng (chủ biên), Từ điển Tâm lý học, Nhà xuất bản Từ điển bách khoa, Hà Nội 2008.&lt;br /&gt;
#Alan E. Kazdin Editor  in Chief,  Encyclopedia of Psychology, volume 5, Oxford University Press, 2000.&lt;/div&gt;</summary>
		<author><name>Tttrung</name></author>
	</entry>
	<entry>
		<id>https://bktt.vn/index.php?title=Ch%E1%BB%A7_ngh%C4%A9a_%C4%91a_ph%C6%B0%C6%A1ng&amp;diff=20427</id>
		<title>Chủ nghĩa đa phương</title>
		<link rel="alternate" type="text/html" href="https://bktt.vn/index.php?title=Ch%E1%BB%A7_ngh%C4%A9a_%C4%91a_ph%C6%B0%C6%A1ng&amp;diff=20427"/>
		<updated>2022-09-26T08:01:00Z</updated>

		<summary type="html">&lt;p&gt;Tttrung: /* Tranh luận */&lt;/p&gt;
&lt;hr /&gt;
&lt;div&gt;{{mới}}&lt;br /&gt;
'''Chủ nghĩa đa phương''' (tiếng Anh ''multilateralism'') là khuynh hướng ngày càng có ảnh hưởng trong nền [[ngoại giao]] thế giới, cùng với các khuynh hướng truyền thống như chủ nghĩa đơn phương (''unilateralism'') và chủ nghĩa song phương (''bilateralism''). Chủ nghĩa đa phương tên gốc tiếng Anh là “multilateralism” và một số tên gọi liên quan như '''ngoại giao đa phương''' (''multilateral diplomacy'') và '''đối ngoại đa phương'''.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Robert Keohane (học giả nổi tiếng, người Mỹ) định nghĩa chủ nghĩa đa phương là: (i) hoạt động phối hợp chính sách quốc gia của một nhóm ba hay nhiều nước với nhau thông qua những dàn xếp mang tính thời vụ hoặc các công cụ mang tính thể chế; (ii) hành động tập thể được thể chế hóa do một nhóm các quốc gia độc lập cùng tiến hành; và (iii) những luật lệ mang tính bền vững, chặt chẽ, có thể chính thức hoặc không chính thức, kiểm soát hoạt động, định hướng kỳ vọng và quy định vai trò của các quốc gia trong quan hệ quốc tế. Tựu chung lại, đa phương là hoạt động phối hợp chính sách quốc gia của một nhóm ba hay nhiều nước với nhau thông qua các công cụ thể chế để đạt tới các mục tiêu chung.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Từ định nghĩa này có thể thấy quan niệm về chủ nghĩa đa phương có liên quan đến khía cạnh hợp tác quốc tế. Theo nghĩa hẹp, chủ nghĩa đa phương là mối quan hệ phối hợp giữa ba hay nhiều quốc gia nhưng phải theo các nguyên tắc nhất định điều phối cách thức quan hệ hợp tác giữa họ, trong đó nổi lên các thành tố chính như sau: (i) Chủ thể: ba nước trở lên (phân biệt với song phương - hai nước, và đơn phương - một nước); (ii) Hành vi: phối hợp chính sách quốc gia; (iii) Môi trường hoạt động: thể chế quốc tế. Chủ nghĩa đa phương hàm ý chỉ những dàn xếp mang tính thể chế có vai trò xác định và bình ổn quyền sở hữu/chủ quyền của các quốc gia, kiểm soát và giải quyết các vấn đề nảy sinh trong quá trình phối hợp; (iv) Phương thức: phối hợp hoạt động giữa các chủ thể.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Trong khi định nghĩa của Keohane được xem là thuộc dạng thức “chủ nghĩa đa phương tối thiểu” cả ở phương diện định lượng (nhóm 3 nước trở lên) lẫn định tính (các thể chế đa phương được xác định đơn giản là “các dàn xếp đa phương theo những tập hợp quy tắc nhất định”), John Ruggie lại nhấn mạnh hơn đến nội dung và chất lượng của các thể chế đa phương. Miles Kahler trong khi đó cho rằng chủ nghĩa đa phương là việc “số nhiều” tham gia vào công việc quản trị quốc tế với nguyên tắc cơ bản là nhằm chống lại những dàn xếp song phương mang tính chất phân biệt đối xử, vốn được xem là công cụ tăng cường quyền lực của nước mạnh đối với nước yếu và là nguyên nhân làm gia tăng xung đột quốc tế. Theo đó, chủ nghĩa đa phương là nhằm thúc đẩy dân chủ và công bằng trong quan hệ quốc tế, theo đó các nước có thể bị ràng buộc bởi đa phương và các nước nhỏ có thể lợi dụng nguồn lực của thể chế đa phương để cải thiện thế và lực của mình.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Tóm lại, chủ nghĩa đa phương, hiểu một cách chung nhất, là một hay nhiều bộ nguyên tắc, luật lệ và các dàn xếp mang tính thể chế được thỏa thuận để điều chỉnh và định hướng hành vi của các quốc gia và các thực thể quốc tế khác trong quá trình tạo dựng luật chơi và đàm phán các giải pháp có sự tham gia của ba bên trở lên để phối hợp xử lý các vấn đề toàn cầu, khu vực và của từng quốc gia.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Như vậy, chủ nghĩa đa phương là những hành động mang tính hợp tác tập thể giữa các quốc gia - cùng với các chủ thể phi nhà nước, trong trường hợp cần thiết, nhằm ứng phó với những thách thức và vấn đề chung khi việc ứng phó tập thể ở cấp độ quốc tế giúp kiểm soát những thách thức và vấn đề này một cách tốt nhất. Trong khi đó, thuật ngữ ngoại giao đa phương có thể hiểu là việc đàm phán để đạt được thỏa thuận và  triển khai các hoạt động hợp tác tập thể giữa các chủ thể nhà nước và phi nhà nước trong các khuôn khổ đa phương. Ngoại giao đa phương do đó còn được định nghĩa là hoạt động bởi nhiều hơn hai bên hoặc hai quốc gia trong quá trình tìm và đạt giải pháp ngoại giao trong các thể chế đa phương nhằm giải quyết các vấn đề chung giữa các quốc gia/chủ thể đó.&lt;br /&gt;
==Việt Nam==&lt;br /&gt;
Trong bối cảnh hoạch định và triển khai chính sách đối ngoại Việt Nam, đối ngoại đa phương theo nghĩa hẹp là các hoạt động tại các cơ chế, diễn đàn đa phương; theo nghĩa rộng thì bao hàm tất cả các hoạt động liên quan đến cơ chế, diễn đàn đa phương. Hiểu một cách chung nhất, đối ngoại đa phương là một bộ phận quan trọng của công tác đối ngoại, bao gồm các hoạt động liên quan tới hai hay nhiều đối tác nước ngoài, chủ yếu được triển khai bởi các chủ thể nhà nước và tại các cơ chế đa phương nhằm thực hiện, tham gia xây dựng các quy tắc, luật pháp quốc tế và chuẩn mực trong quan hệ quốc tế và giải quyết các vấn đề chung của cộng đồng quốc tế, góp phần nâng cao vị thế, thúc đẩy phát triển và đảm bảo an ninh của đất nước.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Định nghĩa trên đã khái quát tiến trình đổi mới tư duy của Đảng Cộng sản Việt Nam về công tác đối ngoại đa phương, định hình và định hướng cho việc hoạch định và triển khai công tác đối ngoại đa phương của Việt Nam. Cho đến nay, đối ngoại đa phương Việt nam đã trở thành một bộ phận quan trọng trong công tác đối ngoại của đất nước, với sự tham gia của toàn bộ hệ thống chính trị, trên tất cả các lĩnh vực của đời sống chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, góp phần quan trọng vào công cuộc đổi mới của đất nước.&lt;br /&gt;
==Lịch sử==&lt;br /&gt;
Nguồn gốc và lịch sử phát triển. Các nghiên cứu về chủ nghĩa đa phương đến nay đều thống nhất ở quan điểm rằng cội nguồn của chủ nghĩa đa phương gắn liền với sự hình thành hệ thống quốc gia-dân tộc sau Hiệp ước Westphalia năm 1648. Các hình thức sơ khởi của ngoại giao đa phương bắt nguồn từ quan hệ quốc tế ở châu Âu thế kỷ XVII, XVIII. Tuy nhiên không có tổ chức quốc tế nào được thành lập trong suốt hai thế kỷ này. Chỉ khi xã hội loài người bước vào giai đoạn cách mạng công nghiệp và phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa thắng thế, chủ nghĩa đa phương mới phát triển trên nhiều lĩnh vực. Theo Mác và Ăng-ghen, đại công nghiệp sẽ tạo ra những tiền đề chín muồi cho tính chất xã hội hóa ngày càng cao của lực lượng sản xuất và theo đó là quá trình quốc tế hóa và toàn cầu hóa, thể hiện qua sự hình thành các tổ chức sở hữu - sản xuất xuyên biên giới và các nhóm lợi ích - giai cấp xuyên quốc gia. Kế thừa di sản trên, Lê nin đã đưa ra những luận giải quan trọng về sự phát triển của các hình thức sản xuất đa quốc gia cũng như những mối liên hệ đa phương trong quá trình chủ nghĩa tư bản phát triển thành chủ nghĩa đế quốc và trong vận động của phong trào cộng sản và công nhân quốc tế.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Đến cuối thế kỷ XIX, sự tăng cường kết nối giữa các khu vực địa lý và quá trình mở rộng buôn bán thương mại quốc tế cùng với việc xuất hiện các vấn đề xuyên quốc gia khó có thể được giải quyết trong nội bộ hoặc cơ chế song phương đã thúc đẩy sự hình thành và phát triển của chủ nghĩa đa phương. Các cơ chế đa phương do đó đã hình thành như là một hình thức hợp tác giữa các quốc gia để thể chế hóa hợp tác quốc tế và thay thế cho tình trạng vô chính phủ, thể hiện rõ nhất là thông qua việc thành lập một loạt các tổ chức quốc tế liên chính phủ (IGOs) và phi chính phủ (NGOs) quốc tế trong thế kỷ XIX.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Ngoại giao đa phương đã trở thành một kênh ngoại giao chính thức của các quốc gia-dân tộc cùng với sự ra đời của Hội Quốc Liên năm 1919 và sau này là Liên Hiệp Quốc năm 1945. Hai cuộc chiến tranh thế giới đã gây ra những tổn thất to lớn cho toàn nhân loại và để ngăn chặn các cuộc chiến tranh mới, một số cơ chế đa phương cần phải được xây dựng. Sau sự thành lập Liên Hiệp Quốc và các thể chế Bretton Woods năm 1945, ngoại giao đa phương đã được phổ biến trên toàn cầu. Ngày nay, chủ nghĩa đa phương đã trở thành một hình thái kiến trúc không thể thiếu của nền Ngoại giao thế giới.&lt;br /&gt;
==Tranh luận==&lt;br /&gt;
Mặc dù đã có một số định nghĩa như trên về khái niệm và nội hàm của chủ nghĩa đa phương, tuy nhiên cho đến nay giới học thuật quốc tế vẫn còn một số tranh luận. James Caporaso phàn nàn rằng chủ nghĩa đa phương đã được sử dụng để mô tả một loạt các hình thức hợp tác quốc tế khác nhau, nhưng vẫn chưa được khái niệm hoá một cách thỏa đáng. Một mặt, chủ nghĩa đa phương thường được dùng lẫn với các khái niệm liên quan như ''globalism'' ([[chủ nghĩa toàn cầu]]), và ''regionalism'' ([[chủ nghĩa khu vực]]). Các khái niệm này đều hàm ý về những hoạt động đối ngoại có sự tham gia của ba chủ thể trở lên trên các cấp độ địa lý khác nhau. Mặt khác, chủ nghĩa đa phương thường được dùng thay thế với ngoại giao đa phương và tổ chức quốc tế. Tuy nhiên, theo Caporaso, chủ nghĩa đa phương có phạm vi rộng hơn ngoại giao đa phương vốn gắn liền với các hoạt động của ngoại giao nhà nước ở cấp độ đa phương. Chủ nghĩa đa phương cũng không hoàn toàn đồng nhất với các tổ chức quốc tế ở chỗ chủ nghĩa đa phương không chỉ là các tổ chức cụ thể có trụ sở, nhân viên, ban thư kí… mà đó là khái niệm về cách thế giới được tổ chức như thế nào, hay rộng hơn là một lý tưởng để theo đuổi. Do đó việc xuất hiện nhiều tổ chức đa phương không đồng nghĩa với việc chủ nghĩa đa phương rất phát triển.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Ngoài ra, vẫn còn những tranh luận giữa các trường phái lý thuyết quan hệ quốc tế về tầm quan trọng của chủ nghĩa đa phương, thể hiện qua vai trò của các thể chế quốc tế. Các lý thuyết quan hệ quốc tế đều thống nhất ở chỗ cho rằng các thể chế quốc tế ban đầu đều là sản phẩm được lập ra bởi ý chí chủ quan của các quốc gia, dựa trên những tính toán lợi ích riêng và mong muốn đạt được những lợi ích riêng đó thông qua hợp tác đa phương trong khuôn khổ thể chế. Tuy nhiên, các lý thuyết lại có cách nhìn nhận khác nhau việc chủ nghĩa đa phương được sử dung như là phương tiện hay mục tiêu để thực hiện chính sách của các quốc gia. Thuyết hiện thực cho rằng thể chế đa phương là công cụ quyền lực của các nước lớn, nhất là để giữ vững bá quyền của nước bá chủ. Thể chế quốc tế, do đó, không có vai trò gì lớn và sẽ suy yếu hoặc giải thể nếu không có sự ủng hộ hoặc tham gia của các nước lớn. Thuyết Mác-xít cũng coi chủ nghĩa đa phương là công cụ chính sách nhưng cho rằng việc tham gia các tổ chức quốc tế sẽ đem lại quyền lực cho nước yếu nhằm chống lại sự chi phối của nước mạnh. Trong khi đó, thuyết tự do và thuyết kiến tạo lại cho rằng các thể chế quốc tế sau khi được thành lập và vận hành sẽ có sự tồn tại độc lập và ảnh hưởng nhất định đối với các nước thành viên. Chủ nghĩa đa phương, theo hai cách tiếp cận này, được xem như là một mục tiêu cần đạt được, dựa trên những tính toán về khả năng tác động và ảnh hưởng ngược lại của các thể chế đa phương đối với cách hành xử cũng như quan niệm về lợi ích và kỳ vọng giữa các quốc gia với nhau.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Gần đây đã xuất hiện một số công trình về đa phương dựa trên sự phê phán các mạch lý luận được coi là quá thiên vào vai trò quyết định của các nước lớn và thế giới phương Tây (Eurocentric), do đó không phản ánh được sự phát triển của tiến trình ngoại giao đa phương ở một số khu vực khác với những đặc thù riêng biệt về ngoại giao đa phương. Điển hình là phân tích về tiến trình ngoại giao đa phương của các nước ASEAN. Theo nhận xét của Amitav Acharya, ASEAN hoạt động không theo hình thức bỏ phiếu theo đa số như ở các tổ chức đa phương khác mà dựa trên nguyên tắc “đồng thuận” và “phương cách ASEAN”. Xét rộng hơn, hợp tác đa phương ở khu vực Châu Á - Thái Bình Dương mang hai đặc điểm chính là ‘thể chế mềm’ (''soft institutionalism'') và ‘chủ nghĩa khu vực mở’ (''open regionalism'') dựa trên các thể chế do ASEAN - một tập hợp của các nước vừa và nhỏ - điều phối, khác với sự thể chế hoá ở mức độ cao trong hợp tác đa phương của EU. Nói cách khác, Amitav Acharya (1997) cho rằng “có một phương cách của châu Á (Asian Way) về chủ nghĩa đa phương.” Đây là những công trình quan trọng, mở ra hướng nghiên cứu so sánh giữa các khu vực khác nhau về quá trình hợp tác đa phương, dựa trên các điều kiện không gian và thời gian đặc thù. Tuy mức độ khái quát hóa có thể giảm đi nhưng lý thuyết về đa phương cũng bớt trừu tượng và bất cập hơn trước sự vận động liên tục của quan hệ quốc tế.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Ngoài ra, việc chủ nghĩa đa phương quy mô lớn (đàm phán WTO, các hội nghị COP của Liên Hợp Quốc về chống biến đổi khí hậu…) gặp một số khó khăn, đình trệ từ sau khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2008-2009 đã thúc đẩy sự phát triển của những hình thức đa phương mới như “tiểu đa phương” (''minilateralism'') chỉ gồm ít bên tham gia như khối BRICS (Brazil-Nga-Ấn Độ-Trung Quốc-Nam Phi) hay Bộ tứ Mỹ-Nhật-Ấn-Úc… và “đa phương hẹp” (''plurilateralism'') như nhóm G-20 nhằm đối phó nhanh chóng và hiệu quả hơn với các thách thức quản trị toàn cầu và khu vực.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Tài liệu tham khảo==&lt;br /&gt;
#C. Mác và Ph. Ăng-ghen, Toàn tập, NXB Chính trị Quốc gia, 1994.&lt;br /&gt;
#Đặng Đình Quý (chủ biên), Chủ nghĩa đa phương trên thế giới và đối ngoại đa phương của Việt Nam, NXB. Chính trị Quốc gia – Sự thật, Hà Nội: 2019.&lt;br /&gt;
#Andrew F. Cooper và cộng sự (chủ biên), The Oxford handbook of modern diplomacy, Oxford University Press, 2013.&lt;br /&gt;
#Amitav Acharya, &amp;quot;Ideas, identity, and institution building: From the ‘ASEAN way’ to the ‘Asia - Pacific way'?.&amp;quot; The Pacific Review 10, no. 3 (1997): 319-346.&lt;br /&gt;
#James A. Caporaso, &amp;quot;International Relations Theory and Multilateralism: the search for Foundations.&amp;quot; International Organization vol. 46, no. 3 (1992): 599-632.&lt;br /&gt;
#John Ruggie, “Multilateralism: The Anatomy of An Institution,” International Organization, Vol. 46, No. 3, Summer 1992, 573.&lt;br /&gt;
#Miles Kahler, “Multilateralism with Small and Large Numbers,” International Organization, Vol. 46, No. 3, Summer 1992, 681.&lt;br /&gt;
#Robert Keohane, “Multilateralism: An Agenda for Research,” International Journal, Vol. 25, Autumn 1990, 731-33.&lt;/div&gt;</summary>
		<author><name>Tttrung</name></author>
	</entry>
	<entry>
		<id>https://bktt.vn/index.php?title=Ch%E1%BB%A7_ngh%C4%A9a_%C4%91a_ph%C6%B0%C6%A1ng&amp;diff=20425</id>
		<title>Chủ nghĩa đa phương</title>
		<link rel="alternate" type="text/html" href="https://bktt.vn/index.php?title=Ch%E1%BB%A7_ngh%C4%A9a_%C4%91a_ph%C6%B0%C6%A1ng&amp;diff=20425"/>
		<updated>2022-09-26T08:00:19Z</updated>

		<summary type="html">&lt;p&gt;Tttrung: /* Tranh luận */&lt;/p&gt;
&lt;hr /&gt;
&lt;div&gt;{{mới}}&lt;br /&gt;
'''Chủ nghĩa đa phương''' (tiếng Anh ''multilateralism'') là khuynh hướng ngày càng có ảnh hưởng trong nền [[ngoại giao]] thế giới, cùng với các khuynh hướng truyền thống như chủ nghĩa đơn phương (''unilateralism'') và chủ nghĩa song phương (''bilateralism''). Chủ nghĩa đa phương tên gốc tiếng Anh là “multilateralism” và một số tên gọi liên quan như '''ngoại giao đa phương''' (''multilateral diplomacy'') và '''đối ngoại đa phương'''.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Robert Keohane (học giả nổi tiếng, người Mỹ) định nghĩa chủ nghĩa đa phương là: (i) hoạt động phối hợp chính sách quốc gia của một nhóm ba hay nhiều nước với nhau thông qua những dàn xếp mang tính thời vụ hoặc các công cụ mang tính thể chế; (ii) hành động tập thể được thể chế hóa do một nhóm các quốc gia độc lập cùng tiến hành; và (iii) những luật lệ mang tính bền vững, chặt chẽ, có thể chính thức hoặc không chính thức, kiểm soát hoạt động, định hướng kỳ vọng và quy định vai trò của các quốc gia trong quan hệ quốc tế. Tựu chung lại, đa phương là hoạt động phối hợp chính sách quốc gia của một nhóm ba hay nhiều nước với nhau thông qua các công cụ thể chế để đạt tới các mục tiêu chung.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Từ định nghĩa này có thể thấy quan niệm về chủ nghĩa đa phương có liên quan đến khía cạnh hợp tác quốc tế. Theo nghĩa hẹp, chủ nghĩa đa phương là mối quan hệ phối hợp giữa ba hay nhiều quốc gia nhưng phải theo các nguyên tắc nhất định điều phối cách thức quan hệ hợp tác giữa họ, trong đó nổi lên các thành tố chính như sau: (i) Chủ thể: ba nước trở lên (phân biệt với song phương - hai nước, và đơn phương - một nước); (ii) Hành vi: phối hợp chính sách quốc gia; (iii) Môi trường hoạt động: thể chế quốc tế. Chủ nghĩa đa phương hàm ý chỉ những dàn xếp mang tính thể chế có vai trò xác định và bình ổn quyền sở hữu/chủ quyền của các quốc gia, kiểm soát và giải quyết các vấn đề nảy sinh trong quá trình phối hợp; (iv) Phương thức: phối hợp hoạt động giữa các chủ thể.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Trong khi định nghĩa của Keohane được xem là thuộc dạng thức “chủ nghĩa đa phương tối thiểu” cả ở phương diện định lượng (nhóm 3 nước trở lên) lẫn định tính (các thể chế đa phương được xác định đơn giản là “các dàn xếp đa phương theo những tập hợp quy tắc nhất định”), John Ruggie lại nhấn mạnh hơn đến nội dung và chất lượng của các thể chế đa phương. Miles Kahler trong khi đó cho rằng chủ nghĩa đa phương là việc “số nhiều” tham gia vào công việc quản trị quốc tế với nguyên tắc cơ bản là nhằm chống lại những dàn xếp song phương mang tính chất phân biệt đối xử, vốn được xem là công cụ tăng cường quyền lực của nước mạnh đối với nước yếu và là nguyên nhân làm gia tăng xung đột quốc tế. Theo đó, chủ nghĩa đa phương là nhằm thúc đẩy dân chủ và công bằng trong quan hệ quốc tế, theo đó các nước có thể bị ràng buộc bởi đa phương và các nước nhỏ có thể lợi dụng nguồn lực của thể chế đa phương để cải thiện thế và lực của mình.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Tóm lại, chủ nghĩa đa phương, hiểu một cách chung nhất, là một hay nhiều bộ nguyên tắc, luật lệ và các dàn xếp mang tính thể chế được thỏa thuận để điều chỉnh và định hướng hành vi của các quốc gia và các thực thể quốc tế khác trong quá trình tạo dựng luật chơi và đàm phán các giải pháp có sự tham gia của ba bên trở lên để phối hợp xử lý các vấn đề toàn cầu, khu vực và của từng quốc gia.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Như vậy, chủ nghĩa đa phương là những hành động mang tính hợp tác tập thể giữa các quốc gia - cùng với các chủ thể phi nhà nước, trong trường hợp cần thiết, nhằm ứng phó với những thách thức và vấn đề chung khi việc ứng phó tập thể ở cấp độ quốc tế giúp kiểm soát những thách thức và vấn đề này một cách tốt nhất. Trong khi đó, thuật ngữ ngoại giao đa phương có thể hiểu là việc đàm phán để đạt được thỏa thuận và  triển khai các hoạt động hợp tác tập thể giữa các chủ thể nhà nước và phi nhà nước trong các khuôn khổ đa phương. Ngoại giao đa phương do đó còn được định nghĩa là hoạt động bởi nhiều hơn hai bên hoặc hai quốc gia trong quá trình tìm và đạt giải pháp ngoại giao trong các thể chế đa phương nhằm giải quyết các vấn đề chung giữa các quốc gia/chủ thể đó.&lt;br /&gt;
==Việt Nam==&lt;br /&gt;
Trong bối cảnh hoạch định và triển khai chính sách đối ngoại Việt Nam, đối ngoại đa phương theo nghĩa hẹp là các hoạt động tại các cơ chế, diễn đàn đa phương; theo nghĩa rộng thì bao hàm tất cả các hoạt động liên quan đến cơ chế, diễn đàn đa phương. Hiểu một cách chung nhất, đối ngoại đa phương là một bộ phận quan trọng của công tác đối ngoại, bao gồm các hoạt động liên quan tới hai hay nhiều đối tác nước ngoài, chủ yếu được triển khai bởi các chủ thể nhà nước và tại các cơ chế đa phương nhằm thực hiện, tham gia xây dựng các quy tắc, luật pháp quốc tế và chuẩn mực trong quan hệ quốc tế và giải quyết các vấn đề chung của cộng đồng quốc tế, góp phần nâng cao vị thế, thúc đẩy phát triển và đảm bảo an ninh của đất nước.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Định nghĩa trên đã khái quát tiến trình đổi mới tư duy của Đảng Cộng sản Việt Nam về công tác đối ngoại đa phương, định hình và định hướng cho việc hoạch định và triển khai công tác đối ngoại đa phương của Việt Nam. Cho đến nay, đối ngoại đa phương Việt nam đã trở thành một bộ phận quan trọng trong công tác đối ngoại của đất nước, với sự tham gia của toàn bộ hệ thống chính trị, trên tất cả các lĩnh vực của đời sống chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, góp phần quan trọng vào công cuộc đổi mới của đất nước.&lt;br /&gt;
==Lịch sử==&lt;br /&gt;
Nguồn gốc và lịch sử phát triển. Các nghiên cứu về chủ nghĩa đa phương đến nay đều thống nhất ở quan điểm rằng cội nguồn của chủ nghĩa đa phương gắn liền với sự hình thành hệ thống quốc gia-dân tộc sau Hiệp ước Westphalia năm 1648. Các hình thức sơ khởi của ngoại giao đa phương bắt nguồn từ quan hệ quốc tế ở châu Âu thế kỷ XVII, XVIII. Tuy nhiên không có tổ chức quốc tế nào được thành lập trong suốt hai thế kỷ này. Chỉ khi xã hội loài người bước vào giai đoạn cách mạng công nghiệp và phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa thắng thế, chủ nghĩa đa phương mới phát triển trên nhiều lĩnh vực. Theo Mác và Ăng-ghen, đại công nghiệp sẽ tạo ra những tiền đề chín muồi cho tính chất xã hội hóa ngày càng cao của lực lượng sản xuất và theo đó là quá trình quốc tế hóa và toàn cầu hóa, thể hiện qua sự hình thành các tổ chức sở hữu - sản xuất xuyên biên giới và các nhóm lợi ích - giai cấp xuyên quốc gia. Kế thừa di sản trên, Lê nin đã đưa ra những luận giải quan trọng về sự phát triển của các hình thức sản xuất đa quốc gia cũng như những mối liên hệ đa phương trong quá trình chủ nghĩa tư bản phát triển thành chủ nghĩa đế quốc và trong vận động của phong trào cộng sản và công nhân quốc tế.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Đến cuối thế kỷ XIX, sự tăng cường kết nối giữa các khu vực địa lý và quá trình mở rộng buôn bán thương mại quốc tế cùng với việc xuất hiện các vấn đề xuyên quốc gia khó có thể được giải quyết trong nội bộ hoặc cơ chế song phương đã thúc đẩy sự hình thành và phát triển của chủ nghĩa đa phương. Các cơ chế đa phương do đó đã hình thành như là một hình thức hợp tác giữa các quốc gia để thể chế hóa hợp tác quốc tế và thay thế cho tình trạng vô chính phủ, thể hiện rõ nhất là thông qua việc thành lập một loạt các tổ chức quốc tế liên chính phủ (IGOs) và phi chính phủ (NGOs) quốc tế trong thế kỷ XIX.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Ngoại giao đa phương đã trở thành một kênh ngoại giao chính thức của các quốc gia-dân tộc cùng với sự ra đời của Hội Quốc Liên năm 1919 và sau này là Liên Hiệp Quốc năm 1945. Hai cuộc chiến tranh thế giới đã gây ra những tổn thất to lớn cho toàn nhân loại và để ngăn chặn các cuộc chiến tranh mới, một số cơ chế đa phương cần phải được xây dựng. Sau sự thành lập Liên Hiệp Quốc và các thể chế Bretton Woods năm 1945, ngoại giao đa phương đã được phổ biến trên toàn cầu. Ngày nay, chủ nghĩa đa phương đã trở thành một hình thái kiến trúc không thể thiếu của nền Ngoại giao thế giới.&lt;br /&gt;
==Tranh luận==&lt;br /&gt;
Mặc dù đã có một số định nghĩa như trên về khái niệm và nội hàm của chủ nghĩa đa phương, tuy nhiên cho đến nay giới học thuật quốc tế vẫn còn một số tranh luận. James Caporaso phàn nàn rằng chủ nghĩa đa phương đã được sử dụng để mô tả một loạt các hình thức hợp tác quốc tế khác nhau, nhưng vẫn chưa được khái niệm hoá một cách thỏa đáng. Một mặt, chủ nghĩa đa phương thường được dùng lẫn với các khái niệm liên quan như ''globalism'' ([[chủ nghĩa toàn cầu]]), và ''regionalism'' ([[chủ nghĩa khu vực]]). Các khái niệm này đều hàm ý về những hoạt động đối ngoại có sự tham gia của ba chủ thể trở lên trên các cấp độ địa lý khác nhau. Mặt khác, chủ nghĩa đa phương thường được dùng thay thế với ngoại giao đa phương và tổ chức quốc tế. Tuy nhiên, theo Caporaso, chủ nghĩa đa phương có phạm vi rộng hơn ngoại giao đa phương vốn gắn liền với các hoạt động của ngoại giao nhà nước ở cấp độ đa phương. CNĐP cũng không hoàn toàn đồng nhất với các tổ chức quốc tế ở chỗ chủ nghĩa đa phương không chỉ là các tổ chức cụ thể có trụ sở, nhân viên, ban thư kí… mà đó là khái niệm về cách thế giới được tổ chức như thế nào, hay rộng hơn là một lý tưởng để theo đuổi. Do đó việc xuất hiện nhiều tổ chức đa phương không đồng nghĩa với việc CNĐP rất phát triển.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Ngoài ra, vẫn còn những tranh luận giữa các trường phái lý thuyết quan hệ quốc tế về tầm quan trọng của chủ nghĩa đa phương, thể hiện qua vai trò của các thể chế quốc tế. Các lý thuyết quan hệ quốc tế đều thống nhất ở chỗ cho rằng các thể chế quốc tế ban đầu đều là sản phẩm được lập ra bởi ý chí chủ quan của các quốc gia, dựa trên những tính toán lợi ích riêng và mong muốn đạt được những lợi ích riêng đó thông qua hợp tác đa phương trong khuôn khổ thể chế. Tuy nhiên, các lý thuyết lại có cách nhìn nhận khác nhau việc CNĐP được sử dung như là phương tiện hay mục tiêu để thực hiện chính sách của các quốc gia. Thuyết hiện thực cho rằng thể chế đa phương là công cụ quyền lực của các nước lớn, nhất là để giữ vững bá quyền của nước bá chủ. Thể chế quốc tế, do đó, không có vai trò gì lớn và sẽ suy yếu hoặc giải thể nếu không có sự ủng hộ hoặc tham gia của các nước lớn. Thuyết Mác-xít cũng coi CNĐP là công cụ chính sách nhưng cho rằng việc tham gia các tổ chức quốc tế sẽ đem lại quyền lực cho nước yếu nhằm chống lại sự chi phối của nước mạnh. Trong khi đó, thuyết tự do và thuyết kiến tạo lại cho rằng các thể chế quốc tế sau khi được thành lập và vận hành sẽ có sự tồn tại độc lập và ảnh hưởng nhất định đối với các nước thành viên. CNĐP, theo hai cách tiếp cận này, được xem như là một mục tiêu cần đạt được, dựa trên những tính toán về khả năng tác động và ảnh hưởng ngược lại của các thể chế đa phương đối với cách hành xử cũng như quan niệm về lợi ích và kỳ vọng giữa các quốc gia với nhau.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Gần đây đã xuất hiện một số công trình về đa phương dựa trên sự phê phán các mạch lý luận được coi là quá thiên vào vai trò quyết định của các nước lớn và thế giới phương Tây (Eurocentric), do đó không phản ánh được sự phát triển của tiến trình ngoại giao đa phương ở một số khu vực khác với những đặc thù riêng biệt về ngoại giao đa phương. Điển hình là phân tích về tiến trình ngoại giao đa phương của các nước ASEAN. Theo nhận xét của Amitav Acharya, ASEAN hoạt động không theo hình thức bỏ phiếu theo đa số như ở các tổ chức đa phương khác mà dựa trên nguyên tắc “đồng thuận” và “phương cách ASEAN”. Xét rộng hơn, hợp tác đa phương ở khu vực Châu Á - Thái Bình Dương mang hai đặc điểm chính là ‘thể chế mềm’ (''soft institutionalism'') và ‘chủ nghĩa khu vực mở’ (''open regionalism'') dựa trên các thể chế do ASEAN - một tập hợp của các nước vừa và nhỏ - điều phối, khác với sự thể chế hoá ở mức độ cao trong hợp tác đa phương của EU. Nói cách khác, Amitav Acharya (1997) cho rằng “có một phương cách của châu Á (Asian Way) về chủ nghĩa đa phương.” Đây là những công trình quan trọng, mở ra hướng nghiên cứu so sánh giữa các khu vực khác nhau về quá trình hợp tác đa phương, dựa trên các điều kiện không gian và thời gian đặc thù. Tuy mức độ khái quát hóa có thể giảm đi nhưng lý thuyết về đa phương cũng bớt trừu tượng và bất cập hơn trước sự vận động liên tục của quan hệ quốc tế.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Ngoài ra, việc chủ nghĩa đa phương quy mô lớn (đàm phán WTO, các hội nghị COP của Liên Hợp Quốc về chống biến đổi khí hậu…) gặp một số khó khăn, đình trệ từ sau khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2008-2009 đã thúc đẩy sự phát triển của những hình thức đa phương mới như “tiểu đa phương” (''minilateralism'') chỉ gồm ít bên tham gia như khối BRICS (Brazil-Nga-Ấn Độ-Trung Quốc-Nam Phi) hay Bộ tứ Mỹ-Nhật-Ấn-Úc… và “đa phương hẹp” (''plurilateralism'') như nhóm G-20 nhằm đối phó nhanh chóng và hiệu quả hơn với các thách thức quản trị toàn cầu và khu vực.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Tài liệu tham khảo==&lt;br /&gt;
#C. Mác và Ph. Ăng-ghen, Toàn tập, NXB Chính trị Quốc gia, 1994.&lt;br /&gt;
#Đặng Đình Quý (chủ biên), Chủ nghĩa đa phương trên thế giới và đối ngoại đa phương của Việt Nam, NXB. Chính trị Quốc gia – Sự thật, Hà Nội: 2019.&lt;br /&gt;
#Andrew F. Cooper và cộng sự (chủ biên), The Oxford handbook of modern diplomacy, Oxford University Press, 2013.&lt;br /&gt;
#Amitav Acharya, &amp;quot;Ideas, identity, and institution building: From the ‘ASEAN way’ to the ‘Asia - Pacific way'?.&amp;quot; The Pacific Review 10, no. 3 (1997): 319-346.&lt;br /&gt;
#James A. Caporaso, &amp;quot;International Relations Theory and Multilateralism: the search for Foundations.&amp;quot; International Organization vol. 46, no. 3 (1992): 599-632.&lt;br /&gt;
#John Ruggie, “Multilateralism: The Anatomy of An Institution,” International Organization, Vol. 46, No. 3, Summer 1992, 573.&lt;br /&gt;
#Miles Kahler, “Multilateralism with Small and Large Numbers,” International Organization, Vol. 46, No. 3, Summer 1992, 681.&lt;br /&gt;
#Robert Keohane, “Multilateralism: An Agenda for Research,” International Journal, Vol. 25, Autumn 1990, 731-33.&lt;/div&gt;</summary>
		<author><name>Tttrung</name></author>
	</entry>
	<entry>
		<id>https://bktt.vn/index.php?title=%C4%90%E1%BB%91i_ngo%E1%BA%A1i_%C4%91a_ph%C6%B0%C6%A1ng&amp;diff=20423</id>
		<title>Đối ngoại đa phương</title>
		<link rel="alternate" type="text/html" href="https://bktt.vn/index.php?title=%C4%90%E1%BB%91i_ngo%E1%BA%A1i_%C4%91a_ph%C6%B0%C6%A1ng&amp;diff=20423"/>
		<updated>2022-09-26T07:59:37Z</updated>

		<summary type="html">&lt;p&gt;Tttrung: Đổi hướng đến Chủ nghĩa đa phương&lt;/p&gt;
&lt;hr /&gt;
&lt;div&gt;#đổi [[chủ nghĩa đa phương]]&lt;/div&gt;</summary>
		<author><name>Tttrung</name></author>
	</entry>
</feed>