<?xml version="1.0"?>
<feed xmlns="http://www.w3.org/2005/Atom" xml:lang="vi">
	<id>https://bktt.vn/api.php?action=feedcontributions&amp;feedformat=atom&amp;user=Diemquynh834</id>
	<title>Bách khoa Toàn thư Việt Nam - Đóng góp của thành viên [vi]</title>
	<link rel="self" type="application/atom+xml" href="https://bktt.vn/api.php?action=feedcontributions&amp;feedformat=atom&amp;user=Diemquynh834"/>
	<link rel="alternate" type="text/html" href="https://bktt.vn/%C4%90%E1%BA%B7c_bi%E1%BB%87t:%C4%90%C3%B3ng_g%C3%B3p/Diemquynh834"/>
	<updated>2026-06-01T20:33:13Z</updated>
	<subtitle>Đóng góp của thành viên</subtitle>
	<generator>MediaWiki 1.35.0</generator>
	<entry>
		<id>https://bktt.vn/index.php?title=%C4%90i%E1%BB%83m_t%E1%BB%B1a&amp;diff=22490</id>
		<title>Điểm tựa</title>
		<link rel="alternate" type="text/html" href="https://bktt.vn/index.php?title=%C4%90i%E1%BB%83m_t%E1%BB%B1a&amp;diff=22490"/>
		<updated>2023-01-13T03:21:53Z</updated>

		<summary type="html">&lt;p&gt;Diemquynh834: Tạo trang mới với nội dung “{{sơ}}'''Điểm tựa''' là trận địa phòng ngự của trung đội, đại đội bộ binh (bộ binh cơ giới) có hệ thống công sự v…”&lt;/p&gt;
&lt;hr /&gt;
&lt;div&gt;{{sơ}}'''Điểm tựa''' là trận địa phòng ngự của trung đội, đại đội bộ binh (bộ binh cơ giới) có hệ thống công sự vững chắc hoặc tương đối vững chắc.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Điểm tựa có lịch sử hình thành và phát triển gắn liền với quá trình phát triển của chiến đấu phòng ngự. Trên thế giới, khi hỏa khí xuất hiện (thế kỷ X), các trận chiến đấu phòng ngự đã chú trọng xây dựng hệ thống công sự vững chắc kết hợp với tổ chức vật cản để các lực lượng chiến đấu dựa vào đó ngăn chặn và sát thương đối phương tiến công, giữ vững trận địa phòng ngự. Trong chiến tranh thế giới lần thứ Nhất, các điểm tựa phòng ngự đã được tổ chức chuẩn bị hoàn thiện hơn để bám trụ chiến đấu dài ngày đẩy lùi các đợt tiến công của bộ binh, xe tăng địch được hỏa lực không quân và pháo binh chi viện. Trong chiến tranh thế giới lần thứ Hai, điểm tựa phòng ngự đã được Quân đội Liên Xô nghiên cứu, tổ chức tương đối hoàn thiện góp phần quan trọng vào hoàn thành thắng lợi các trận chiến đấu, chiến dịch phòng ngự ở những quy mô khác nhau. Từ sau chiến tranh thế giới lần thứ hai, cùng với sự phát triển nghệ thuật tác chiến phòng ngự, Điểm tựa tiếp tục được quân đội nhiều nước quan tâm nghiên cứu phát triển cả về cấu trúc, tổ chức bố trí lực lượng, hỏa lực và hệ thống vật cản để đáp ứng yêu cầu tác chiến phòng ngự trong chiến tranh hiện đại. Tuy nhiên, cách gọi của quân đội mỗi nước có khác nhau, Quân đội Mĩ, Pháp gọi hệ thống trận địa phòng ngự cấp phân đội (trung đội, đại đội bộ binh, bộ binh cơ giới) là “cứ điểm”, Quân đội Liên Xô gọi là “điểm tựa”. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Ở Việt Nam, trong kháng chiến chống Pháp và kháng chiến chống Mĩ, Điểm tựa được tổ chức nghiên cứu phát triển và ngày càng hoàn thiện, góp phần hoàn thành thắng lợi nhiệm vụ chiến đấu, chiến dịch phòng ngự trong chiến tranh. Sau kháng chiến chống Mỹ (1975), ta đã tiếp tục nghiên cứu kinh nghiệm tổ chức Điểm tựa trong tác chiến phòng ngự của quân đội các nước (đặc biệt là Liên Xô) để phát triển lí luận và thực tiễn tổ chức Điểm tựa, cụm Điểm tựa trong phòng ngự, phòng thủ.  &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Theo nhiệm vụ phòng ngự có thể xây dựng Điểm tựa phòng ngự độclập; hoặc Điểm tựa trung đội, đại đội nằm trong hệ thống cụm điểm tựa của cấp trên. Theo vị trí của đơn vị phòng ngự, có Điểm tựa: phòng ngự phía trước ở khu vực chiến đấu vòng ngoài, phòng ngự tiền duyên, phòng ngự ở trận địa tuyến giữa và trận địa phòng ngự phía sau.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Yêu cầu xây dựng Điểm tựa phòng ngự: triệt để tận dụng thế có lợi của địa hình, địa vật; xây dựng vững chắc, liên hoàn, có chiều sâu; sử dụng lực lượng hợp lí, tập trung trên hướng chủ yếu; kết hợp chặt chẽ các yếu tố công sự, vật cản, hỏa lực và cơ động để tạo nên sức mạnh chiến đấu trong phòng ngự. Điểm tựa thường được cấu trúc theo hình vòng để có thể đánh địch tiến công từ nhiều hướng.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Hệ thống công sự trận địa trong Điểm tựa gồm: công sự chiến đấu, công sự các loại hỏa khí, hầm nghỉ ngơi, hầm cất giấu vũ khí, trang bị dự trữ và vật chất hậu cần, kĩ thuật… Các công sự chiến đấu, hầm các loại được liên kết với nhau bằng hệ thống chiến hào, giao thông hào để cơ động trong quá trình chiến đấu. Công sự trận địa sau khi làm xong phải được ngụy trang kín đáo, không để địch trên mặt đất và trên không phát hiện. Ngoài công sự chính, các công sự trận địa dự bị cần được chuẩn bị theo các phương án đánh địch để sẵn sàng xử trí các tình huống trong chiến đấu.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Các phương tiện hỏa lực gồm: vũ khí bộ binh, vũ khí chống tăng (B40, B41), cối 60 mm, 82 mm…, bố trí phân tán hợp lí trong Điểm tựa theo các phương án đánh địch, hình thành hệ thống hỏa lực nhiều tầm, nhiều hướng hỗ trợ cho nhau sát thương địch từ xa vào gần. Khi phòng ngự trong đội hình của cấp trên, hệ thống hỏa lực trong điểm tựa cần tổ chức theo kế hoạch hỏa lực của cấp trên, tập trung hỏa lực cho các hướng phòng ngự chủ yếu. Ngoài hỏa lực đánh địch mặt đất còn có hỏa lực đánh địch trên không (máy bay thấp và tên lửa hành trình). Các phương tiện hỏa lực chi viện chung trong Điểm tựa, như: cối, ĐKZ, SPG-9, súng máy phòng không thường bố trí ở khu vực trung tâm gần người chỉ huy để tiện chi viện cho các hướng. Có kế hoạch hỏa lực cụ thể và hiệp đồng chặt chẽ theo từng phương án đánh địch.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Hệ thống vật cản bao gồm: vật cản nổ (mìn chống tăng, mìn chống bộ binh), vật cản không nổ (dây thép gai, chông…) kết hợp với vật cản tự nhiên bố trí trước tiền duyên Điểm tựa trên các hướng (mũi) tiến công của địch. Tổ chức hệ thống vật cản vững chắc hình thành nhiều lớp từ ngoài vào trong. Bãi vật cản thường được bố trí cách tiền duyên một khoảng thích hợp, kết hợp vật cản với hệ thống hỏa lực, có sơ đồ hệ thống vật cản để tiện tháo gỡ, điều chỉnh. Các Điểm tựa phía sau có thể lắp đặt bổ sung hệ thống vật cản trong quá trình tác chiến.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Tổ chức, sử dụng, bố trí lực lượng trong Điểm tựa căn cứ vào ý định tác chiến và khả năng lực lượng. Lực lượng của Điểm tựa thường tổ chức thành các bộ phận: bộ phận phòng ngự trên hướng chủ yếu; bộ phận phòng ngự trên hướng thứ yếu. Bộ phận hỏa lực bố trí ở khu vực trung tâm. Bộ phận cơ động kiêm dự bị bố trí trong trung tâm hoặc bên sườn, phía sau để sẵn sàng sử dụng vào thay thế, xử trí các tình huống. Bộ phận chiến đấu vòng ngoài, bố trí ở phía trước để cảnh giới phát hiện địch tiến công từ xa và bám trụ đánh nhỏ lẻ vào bên sườn, phía sau đội hình tiến công để phá thế tiến công của địch. Khi phòng ngự trong đội hình cấp trên, trong điểm tựa có thể còn có một số bộ phận chiến đấu của cấp trên (bố trí trong hoặc bên sườn phía sau điểm tựa) để tăng cường khả năng chiến đấu.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Để đánh địch tiến công vào Điểm tựa phòng ngự, tùy điều kiện cụ thể, các lực lượng phòng ngự trong điểm tựa có thể chiếm lĩnh chuẩn bị chiến đấu trước khi địch tiến công hoặc chiếm lĩnh chuẩn bị chiến đấu trong điều kiện trực tiếp tiếp xúc với địch. Hoạt động chiến đấu của các lực lượng trong điểm tựa thường gồm: phòng tránh đánh địch tiến công hỏa lực, đánh địch cơ động triển khai tiến công, đánh địch thực hành tiến công vào trận địa phòng ngự (có thể gồm đánh địch tiến công đường bộ, đổ bộ đường không, vu hồi, đột nhập).  (1.200 chữ)&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Tài liệu tham khảo==&lt;br /&gt;
# Học Viện Quốc phòng, ''Giáo trình sư đoàn bộ binh phòng ngự'', Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2000.&lt;br /&gt;
# Bộ Quốc phòng, ''Từ điển Bách khoa quân sự Việt Nam'', Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2004.&lt;br /&gt;
# Bộ Quốc phòng, ''Từ điển thuật ngữ quân sự'', Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2007.&lt;br /&gt;
# Bộ Tổng tham mưu, ''Nghệ thuật chiến dịch phòng ngự'', Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2010.&lt;br /&gt;
# Bộ Tổng tham mưu, ''Tác chiến phòng thủ chiến lược trong chiến tranh bảo vệ Tổ quốc'', Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2018.&lt;br /&gt;
# Bộ Tổng tham mưu, ''Tác chiến phòng thủ quân khu trong chiến tranh bảo vệ Tổ quốc'', Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2018.&lt;br /&gt;
# Bộ Quốc phòng, ''Điều lệnh tác chiến Quân đội nhân dân Việt Nam'', Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2018.&lt;/div&gt;</summary>
		<author><name>Diemquynh834</name></author>
	</entry>
	<entry>
		<id>https://bktt.vn/index.php?title=Ho%E1%BA%A1t_%C4%91%E1%BB%99ng_qu%C3%A2n_s%E1%BB%B1&amp;diff=22489</id>
		<title>Hoạt động quân sự</title>
		<link rel="alternate" type="text/html" href="https://bktt.vn/index.php?title=Ho%E1%BA%A1t_%C4%91%E1%BB%99ng_qu%C3%A2n_s%E1%BB%B1&amp;diff=22489"/>
		<updated>2023-01-13T03:15:20Z</updated>

		<summary type="html">&lt;p&gt;Diemquynh834: &lt;/p&gt;
&lt;hr /&gt;
&lt;div&gt;{{sơ}}'''Hoạt động quân sự''' gọi chung những hành động quân sự có tổ chức nhằm mục đích quân sự, do lực lượng vũ trang và bộ phận nhân dân tiến hành để thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ quân sự.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Hoạt động quân sự được hình thành và phát triển khi nhà nước chiếm hữu nô lệ tổ chức ra quân đội, chủ yếu tiến hành các hoạt động: tổ chức  lực lượng vũ trang, chuẩn bị vũ khí (cung tên, giáo mác), luyện tập binh sĩ và tiến hành các trận chiến đấu để bảo vệ lãnh thổ, địa vị, tranh giành quyền lợi đất đai giữa các bộ tộc... Tới thời kì cận đại nội dung hoạt động quân sự thay đổi so với trước đây. Trong chiến tranh thế giới lần thứ nhất, chiến tranh thế giới lần thứ hai, Hoạt động quân sự đã có những bước phát triển lớn.  Hoạt động tác chiến của  lực lượng vũ trang các bên tham chiến đã có những biến đổi về chất, tiến hành các trận đánh, chiến dịch, tác chiến hiệp đồng binh chủng, Hoạt động quân sự phải huy động phần lớn cơ sở vật chất và nhân lực của nền kinh tế quốc dân vào phục vụ cho chiến tranh. Từ giữa thế kỷ XX, hoạt động quân sự đã diễn ra ở phạm vi rộng và toàn diện cả quân sự, kinh tế, chính trị ngoại giao, khoa học công nghệ…nhằm phục vụ cho mục đích quân sự khác nhau. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Ở nước ta, theo Đại tướng Võ Nguyên Giáp, những cuộc khởi nghĩa và chiến tranh nhân dân đã được hình thành rất sớm, từ những năm 40 trong cuộc khởi nghĩa của Hai Bà Trưng chống phong kiến phương Bắc. Vì vậy, ngay từ thời kỳ đó, hoạt động quân sự là hoạt động nhằm mục đích quân sự mang tính tổng hợp cao do  lực lượng vũ trang làm nòng cốt và sự tham gia của toàn dân, nhằm tạo sức mạnh tổng hợp đánh thắng quân xâm lược có sức mạnh kinh tế, quân sự hơn ta. Ngày nay, hoạt động quân sự là hoạt do  lực lượng vũ trang làm nòng cốt với sự tham gia của toàn dân, của cả hệ thống chính trị dưới sự lãnh đạo của Đảng, quản lý tập trung, thống nhất của Nhà nước, trực tiếp là Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng nhằm thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ quân sự trong thời bình và thời chiến theo một kế hoạch thống nhất. Hoạt động quân sự có mục đích kiên quyết, triệt để, diễn ra ở cả quy mô chiến lược, chiến dịch và chiến thuật; tiến hành ở các cấp Trung ương, tỉnh, thành phố, huyện (quận), xã (phường) và các đơn vị  lực lượng vũ trang; mọi hoạt động quân sự đều nhằm mục đích thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ quân sự được phối hợp chặt chẽ các mặt đấu tranh khác.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Lực lượng tham gia các Hoạt động quân sự bao gồm  lực lượng vũ trang và các lực lượng phi vũ trang, trong đó  lực lượng vũ trang là lực lượng nòng cốt, trực tiếp thực hiện các nhiệm vụ tác chiến. Lực lượng phi vũ trang là lực lượng toàn dân và cả hệ thống chính trị tham gia các hoạt động chuẩn bị tiềm lực quân sự thời bình và phục vụ tác chiến trong chiến tranh. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Hoạt động quân sự trong thời bình tập trung vào các nội dung chủ yếu, như: xây dựng  lực lượng vũ trang, chuẩn bị thế trận quốc phòng, quân sự: xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật; sẵn sàng chiến đấu cao… (xây dựng, huấn luyện lực lượng vũ trang ba thứ quân; nghiên cứu, phát triển khoa học nghệ thuật quân sự, khoa học xã hội nhân văn quân sự và khoa học kỹ thuật quân sự; xây dựng tiềm lực quốc phòng, quân sự; các công trình quốc phòng, quân sự, các khu vực phòng thủ tỉnh, thành phố; hoạt động hợp tác và đấu tranh quốc phòng…), đặc biệt chú trọng ở các địa bàn chiến lược trọng điểm của đất nước. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Hoạt động quân sự trong chiến tranh lấy hoạt động tác chiến, kết hợp với các hoạt động đấu tranh khác và hoạt động phục vụ tác chiến là chủ yếu để thực hiện mục đích chiến tranh. Thường tiến hành các hoạt động tác chiến chiến lược, chiến dịch, trận đánh do lực lượng quân sự làm nòng cốt kết hợp với các lực lượng đấu tranh khác, theo kế hoạch thống nhất để thực hiện mục đích nhiệm vụ quân sự trong từng giai đoạn chiến tranh. Ngoài ra, hoạt động tác chiến có thể diễn ra ngay trong thời bình để tiêu diệt các lực lượng bạo loạn, lật đổ có vũ trang, lực lượng khủng bố có vũ trang, trấn áp tội phạm, bảo vệ an ninh, chính trị xã hội, bảo vệ chủ quyền biên giới, biển, đảo (khi có xung đột vũ trang). Các hoạt động này thường ở phạm vi quy mô nhỏ nhưng phải có công tác chuẩn bị chu đáo, chỉ huy kiên quyết, mưu trí, sáng tạo, hành động tác chiến phải dũng cảm, mưu trí, dứt điểm nhanh, không để lan rộng. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
== Tài liệu tham khảo ==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
# Bộ Tổng tham mưu, Sư đoàn bộ binh tiến công vào khu vực địch phòng ngự ở địa hình Trung du, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2000.&lt;br /&gt;
# Bộ Tổng tam mưu, Nghệ thuật chiến dịch phản công, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2002.&lt;br /&gt;
# Bộ Quốc phòng, Từ điển bách khoa quân sự Việt Nam, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2004.&lt;br /&gt;
# Bộ Quốc phòng, Từ điển thuật ngữ quân sự, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2007.&lt;br /&gt;
# Bộ Tổng tham mưu, Nghệ thuật chiến dich phòng ngự, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2010.&lt;br /&gt;
# Đề tài cấp Bộ Quốc phòng, Nghiên cứu các loại hình chiến dịch trên biển trong chiến tranh bảo vệ Tổ quốc, Hà nội, 2011.&lt;br /&gt;
# Bộ Tổng tham mưu, Nghệ thuật chiến dịch tiến công, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2017.&lt;br /&gt;
# Bộ Tổng tham mưu, Tác chiến chiến chiến lược trong chiến tranh bảo vệ Tổ quốc, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2018.&lt;br /&gt;
# Ban Chấp hành Trung ương, Kết luận của Bộ chính trị về chiến lược quân sự Việt Nam, kết luận số 31- KL/TW ngày 16.4.2018, Hà Nội 2018.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
[[Thể loại: Quốc phòng]]&lt;/div&gt;</summary>
		<author><name>Diemquynh834</name></author>
	</entry>
	<entry>
		<id>https://bktt.vn/index.php?title=V%E1%BB%A5_t%E1%BA%ADp_k%C3%ADch_S%C6%A1n_T%C3%A2y&amp;diff=22488</id>
		<title>Vụ tập kích Sơn Tây</title>
		<link rel="alternate" type="text/html" href="https://bktt.vn/index.php?title=V%E1%BB%A5_t%E1%BA%ADp_k%C3%ADch_S%C6%A1n_T%C3%A2y&amp;diff=22488"/>
		<updated>2023-01-13T03:14:04Z</updated>

		<summary type="html">&lt;p&gt;Diemquynh834: Tạo trang mới với nội dung “{{sơ}}'''Vụ tập kích Sơn Tây (Vụ tập kích thị xã Sơn Tây, 20.11.1970)''', là vụ tập kích đường không của lực lượng đ…”&lt;/p&gt;
&lt;hr /&gt;
&lt;div&gt;{{sơ}}'''Vụ tập kích Sơn Tây (Vụ tập kích thị xã Sơn Tây, 20.11.1970)''', là vụ tập kích đường không của lực lượng đặc biệt Mỹ nhằm giải thoát một số phi công Mỹ bị bắt ở miền Bắc Việt Nam, được cho là bị giam giữ tại một địa điểm ở ngoại vi thị xã Sơn Tây (tỉnh Hà Tây, nay thuộc Hà Nội).&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Giữa năm 1970, lợi dụng việc Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa cho phép phái đoàn hoà bình Mỹ sang thăm và gặp gỡ một số phi công Mỹ bị bắt khi tham gia đánh phá miền Bắc Việt Nam, giới quân sự Mỹ đã bí mật vạch kế hoạch mang mật danh “Kingpin” nhằm giải thoát cho số phi công Mỹ được cho là bị giam giữ ở trại giam Sơn Tây. Kế hoạch tập kích do Hội đồng Tham mưu trưởng liên quân và Bộ Quốc phòng Mỹ trực tiếp chỉ đạo, được chuẩn bị công phu và tổ chức huấn luyện thuần thục trên đất Mỹ, có sự phối hợp chặt chẽ của lực lượng biệt kích và phản động nội địa hoạt động bí mật ở miền Bắc Việt Nam. Thông qua các hoạt động thu thập tin tức tình báo, Bộ Quốc phòng Mỹ đã chuẩn bị địa hình mô phỏng khu vực trại giam như thực địa để huấn luyện, đồng thời tuyển lựa và thành lập lực lượng đặc biệt làm nhiệm vụ tập kích. Lực lượng này được trang bị vũ khí, khí tài hiện đại, đặc chủng và có quyền huy động cao nhất sự hỗ trợ của các lực lượng hải quân, lục quân, không quân trong quá trình thực thi nhiệm vụ. Sau gần 6 tháng chuẩn bị và tổ chức huấn luyện, bảo đảm tuyệt đối bí mật, Tổng thống Mỹ Nichxơn trực tiếp ra lệnh thực hiện tập kích, mục tiêu được xác định chính thức là trại giam ở khu vực ngoại vi tx Sơn Tây.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Theo kế hoạch, đêm 20 rạng 21.11.1970 lực lượng đặc nhiệm Mỹ gồm 56 người, do Đại tá Simôn chỉ huy, được chở bằng 6 máy bay trực thăng cất cánh từ một căn cứ bí mật, dùng cách bay thấp và lợi dụng địa hình che khuất để tránh bị phát hiện, từ hướng tây theo dãy núi Ba Vì đột nhập khu vực vùng trời thị xã Sơn Tây. Cùng thời gian, các lực lượng hoạt động “ngầm” ở nội địa cũng phối hợp hoạt động, bí mật cắt đứt toàn bộ hệ thống đường dây thông tin liên lạc giữa các cơ quan, đơn vị quân đội trong khu vực Sơn Tây và các khu vực xung quanh; đồng thời, lực lượng không quân và hải quân Mỹ được lệnh tăng cường hoạt động ở vùng biển Hải Phòng, thả pháo sáng ở các khu vực đảo Vạn Hoa và đảo Long Châu để nghi binh, đánh lạc hướng sự chú ý theo dõi của lực lượng phòng không miền Bắc. Ngoài ra, để yểm trợ và bảo đảm an toàn cho máy bay trực thăng chở lực lượng làm nhiệm vụ tập kích tiếp cận mục tiêu ở tầng thấp, không quân Mỹ còn sử dụng các tốp máy bay tiêm kích F-4 bay ở tầng trung, theo đường bay từ hướng tây nam lên tây bắc Hà Nội (như vẫn thường bay vào đánh phá Hà Nội), làm nhiệm vụ nghi binh và sẵn sàng chế áp máy bay MiG hoặc hoả lực phòng không của miền Bắc Việt Nam.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Với sự phối hợp chặt chẽ giữa các lực lượng, khoảng 2 giờ 4 phút ngày 21.11 các máy bay trực thăng chở lực lượng đặc biệt Mỹ tiếp cận chính xác mục tiêu mà không bị phát hiện, sau đó chia thành 2 bộ phận đổ bộ xuống các khu vực được dự kiến trước, trong đó bộ phận chủ yếu đổ bộ xuống khu vực trại giam làm nhiệm vụ đánh chiếm trạm biến thế điện, lục soát nhà giam và tổ chức chốt chặn ở cầu sông Tích đề phòng lực lượng vũ trang Việt Nam tiến công từ phía đông. Đồng thời, một bộ phận khác được đổ bộ xuống khu vực Đền Và và khu vực nhà máy đường ở phía tây trại giam, nhằm tạo thế bao vây, yểm trợ và phối hợp với nhau, đề phòng bị tiến công. Cuộc tập kích của lực lượng đặc biệt Mỹ vào khu vực trại giam diễn ra theo kịch bản, nhưng không giải cứu được phi công, do trước đó các phi công Mỹ bị bắt đã được phía Việt Nam di chuyển đến nơi khác. Sau gần 1 giờ bắn phá các mục tiêu trong trại giam và khu vực lân cận, làm chết và bị thương một số thường dân, lực lượng đặc biệt Mỹ buộc phải rút lui, kết thúc cuộc tập kích sau khi nổ mìn phá huỷ 1 máy bay trực thăng HH-3E do trục trặc kỹ thuật không cất cánh được. Vụ tập kích Sơn Tây là hành động mạo hiểm, diễn ra trên địa bàn nằm sâu trong nội địa và lần đầu tiên được Mỹ tiến hành trong chiến tranh phá hoại ở miền Bắc Việt Nam.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Đối với phía Việt Nam dân chủ cộng hòa, tuy Mỹ không giải cứu được phi công và không bị gây nhiều thiệt hại, nhưng Vụ tập kích Sơn Tây đã để lại bài học kinh nghiệm về tinh thần cảnh giác và sẵn sàng chiến đấu của các lực lượng vũ trang và lãnh đạo, chỉ huy các cấp trong đối phó với kẻ thù xâm lược. Cụ thể, tại thời điểm diễn ra vụ tập kích, vào lúc 2 giờ 8 phút ngày 21.11 rađa đã phát hiện nhiều tốp máy bay F-4 hoạt động ở tầng trung và thông báo trên mạng tình báo quốc gia; sau đó Sư đoàn Phòng không 361 lệnh các đơn vị vào cấp 1 sẵn sàng chiến đấu, nhiều đơn vị tên lửa phát hiện máy bay địch, nhưng tham số lớn không đánh được. Đặc biệt, Tiểu đoàn 41 (Trung đoàn Tên lửa 263) phát hiện có máy bay trực thăng bay dọc theo dãy núi Ba Vì lên hướng Sơn Tây, nhưng lại cho là máy bay của ta nên không đánh; sau đó Trường sĩ quan Phòng không ở Sơn Tây cũng phát hiện máy bay trực thăng đang hoạt động trong khu vực, nhưng không báo cáo kịp thời với cấp trên do đường dây hữu tuyến bị cắt đứt, thông tin vô tuyến chưa đến giờ liên lạc. Mặc dù trong thời gian từ 2 giờ 39 phút đến 2 giờ 52 phút ngày 21.11.1970, hai tiểu đoàn 43, 44 thuộc Trung đoàn Tên lửa 263 đã bắn rơi 2 máy bay F-4 của Mỹ ở khu vực vùng trời diễn ra Vụ tập kích Sơn Tây, nhưng đây là trận chiến đấu không thành công, để lại bài học lớn cho các lực lượng phòng không và nhân dân Việt Nam trong kháng chiến chống Mỹ. (1.188 chữ)&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Tài liệu tham khảo==&lt;br /&gt;
# Bộ Quốc phòng, ''Bách khoa toàn thư quân sự Việt Nam, quyển 1-Lịch sử quân sự'', Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội.2015.&lt;br /&gt;
# Đặng Vương Hưng, ''ký sự “Sự thật về vụ tập kích cứu Phi công Mỹ tại Sơn Tây”'', Báo An ninh Thủ đô, 2014.&lt;br /&gt;
# Đặng Vương Hưng, ''Phi công Mỹ ở Việt Nam'', Nxb Công an nhân dân, Hà Nội.2015.&lt;br /&gt;
# http://warfarehistorian.blogspot.com/2019,02/son-tay-berets-vietnam-war-pow-rescue.&lt;br /&gt;
# Schemmer, Benjamin F. (Lê Trọng Bình, Lâm Hải Hồ biên dịch), ''Vụ tập kích Sơn Tây'', Nxb Công an nhân dân, Hà Nội.2005 (tham khảo nội bộ).&lt;/div&gt;</summary>
		<author><name>Diemquynh834</name></author>
	</entry>
	<entry>
		<id>https://bktt.vn/index.php?title=V%E1%BB%A5_kh%E1%BB%A7ng_ho%E1%BA%A3ng_t%C3%AAn_l%E1%BB%ADa_Cuba&amp;diff=22487</id>
		<title>Vụ khủng hoảng tên lửa Cuba</title>
		<link rel="alternate" type="text/html" href="https://bktt.vn/index.php?title=V%E1%BB%A5_kh%E1%BB%A7ng_ho%E1%BA%A3ng_t%C3%AAn_l%E1%BB%ADa_Cuba&amp;diff=22487"/>
		<updated>2023-01-13T03:08:25Z</updated>

		<summary type="html">&lt;p&gt;Diemquynh834: Tạo trang mới với nội dung “{{sơ}}'''Vụ khủng hoảng tên lửa CuBa (Phong toả biển Caribe, 1962)''',là những căng thẳng quân sự, chính trị có nguy cơ dẫn…”&lt;/p&gt;
&lt;hr /&gt;
&lt;div&gt;{{sơ}}'''Vụ khủng hoảng tên lửa CuBa (Phong toả biển Caribe, 1962)''',là những căng thẳng quân sự, chính trị có nguy cơ dẫn tới chiến tranh giữa Cuba, Liên Xô và Mỹ tại vùng biển Caribe, khi Liên Xô triển khai căn cứ tên lửa trên lãnh thổ Cuba.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Sau khi cách mạng Cuba thành công (1959), Liên Xô viện trợ, giúp đỡ Cuba về mọi mặt, kể cả vũ khí, trang bị. Về phía Mỹ, sau thất bại trong  Sự kiện Vịnh Con Lợn (17-19.4.1961), chính sách khống chế và phong toả của Mỹ đối với Cuba càng ngặt nghèo hơn. Ngoài việc áp dụng lệnh cấm vận toàn diện, Mỹ tiếp tục sử dụng biện pháp nhằm ngăn chặn sự phát triển của tư tưởng cộng sản ở Cuba và Mỹ Latinh, đồng thời  không từ bỏ ý định can thiệp vũ trang. Mỹ thường xuyên sử dụng máy bay do thám tầm cao U-2 tiến hành giám sát Cuba, tăng cường lực lượng dự bị, cho phép những phần tử Cuba lưu vong gia nhập quân đội Mỹ, tổ chức diễn tập quân sự quy mô lớn ở biển Caribe nhằm gây sức ép với Cuba.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Trước sự đe doạ của Mỹ, tháng 7.1962, theo đề nghị của Cuba, Liên Xô quyết định triển khai lực lượng quân đội, trong đó có cả hệ thống tên lửa tới Cuba. Việc Liên Xô triển khai hệ thống tên lửa tới Cuba nhằm hai mục đích: giúp Cuba đối phó với những đe dọa quân sự của Mỹ, đồng thời đáp trả việc Mỹ triển khai tên lửa tới Italia và Thổ Nhĩ Kỳ. Tháng 10.1962, các phương tiện trinh sát và giám sát Mỹ phát hiện hệ thống tên lửa Liên Xô tại Cuba. Ngày 16-17.10, Tổng thống Mỹ J.F Kennedy triệu tập cuộc họp gấp với sự tham gia của nhiều nhà quân sự, chính trị và ngoại giao hàng đầu nước Mỹ nhằm thảo luận và tìm các biện pháp đối phó. Tại các phiên thảo luận, những người tham gia đã đưa ra nhiều phương án khác nhau, trong đó có cả việc đổ bộ lực lượng bộ binh lên Cuba; dùng lực lượng không quân oanh kích các trận địa tên lửa và tiến hành phong tỏa biển Caribe… Trong bài phát biểu trên truyền hình tối 22.10, Tổng thống Kennedy tuyên bố, kể từ 14 giờ (giờ GMT) ngày 24.10, lực lượng hải quân Mỹ sẽ tiến hành phong tỏa biển Caribe. Bất cứ tàu thuyền nào tới Cuba đều phải chịu sự kiểm tra của các chiến hạm Mỹ, nếu chống lệnh sẽ bị bắn chìm; lực lượng không quân Mỹ sẵn sàng oanh kích các trận địa tên lửa và Mỹ sẵn sàng đàm phán với chính phủ Liên Xô. Trước khi công bố quyết định quan trọng này, Chính phủ Mỹ đã khẩn trương hoàn thành công tác chuẩn bị, như liên lạc với các sứ quán Mỹ ở nước ngoài, chuẩn bị việc tuyên bố kiểm tra, cách li tàu thuyền, thông báo cho Tổ chức các nước châu Mỹ, tăng cường lực lượng cho căn cứ hải quân Guantanamo…&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Thực hiện tuyên bố trên, Mỹ đã điều tới vùng biển Caribe 180 tàu chiến cùng 85.000 quân nhân. Ngoài lực lượng trên, 20%  lực lượng không quân chiến lược Mỹ ở châu Âu và Hạm đội 6, 7 cũng được lệnh sẵn sàng chiến đấu. Vào lúc Mỹ tập trung nghiên cứu đưa ra biện pháp đối phó, Liên Xô đã đẩy nhanh tốc độ vận chuyển vũ khí và xây dựng các căn cứ tên lửa ở Cuba. Trên phương diện ngoại giao, Liên Xô cũng thể hiện thái độ cứng rắn: ngày 23.10, chính phủ Liên Xô tuyên bố: Mỹ phải hoàn toàn chịu trách nhiệm vì những hành động cực kỳ nguy hiểm. Cùng ngày, người đứng đầu chính phủ Liên Xô N.S Khrushchyov gửi thông điệp tới Tổng thống Mỹ, trong đó khẳng định, tất cả các loại vũ khí mà Liên Xô triển khai tại Cuba, kể cả tên lửa chỉ nhằm mục đích phòng vệ. Ngày 23.10, Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc tiến hành cuộc họp khẩn. Trong thông điệp gửi Liên Xô và Mỹ, Tổng thư ký U Than kêu gọi Liên Xô ngừng ngay việc đưa tàu thuyền vào Cuba; Mỹ ngừng ngay các hoạt động có thể dẫn đến các cuộc đụng độ vũ trang. Từ ngày 25-27.10, Liên Xô và Mỹ tiến hành các cuộc tham vấn và đàm phán hai bên trong khuôn khổ Hội đồng Bảo an, sau đó hai bên đi đến thỏa thuận: Liên Xô sẽ rút toàn bộ hệ thống tên lửa khỏi Cuba; Mỹ rút toàn bộ tên lửa khỏi Italia và Thổ Nhĩ Kỳ. Ngày 28.10, tại New York, Mỹ và Liên Xô tiến hành các cuộc đàm phán với sự tham gia của đại diện Cuba và Tổng thư ký Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc. Tại cuộc họp, các bên cam kết thực hiện đúng thỏa thuận ngày 27.10. Cuộc khủng hoảng tại vùng biển Caribe chính thức chấm dứt. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Trong tuyên bố chấm dứt cuộc khủng hoảng, Tổng thống Mỹ Kennedy cam kết tôn trọng độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ; không can thiệp vào công việc nội bộ của Cuba và không cho phép các lực lượng khác sử dụng lãnh thổ Mỹ cũng như lãnh thổ các nước gần kề tiến công xâm lược Cuba. Đại diện Mỹ và Liên Xô cũng thừa nhận: bất kỳ hành động khiêu kích nào tại các khu vực trên thế giới cũng có thể dẫn tới các cuộc đối đầu trực tiếp, kể cả đối đầu bằng vũ khí hạt nhân; vì lợi ích của hai bên và của toàn nhân loại, Mỹ và Liên Xô cần thiết lập cơ chế kiểm soát hiệu quả. Sau tuyên bố đó, năm 1963, Mỹ và Liên Xô đã thiết lập “đường dây nóng”. Cùng trong năm đó, hai bên ký hiệp ước cấm thử vũ khí hạt trên cả trên bộ, trên không và trên biển.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Vụ khủng hoảng tên lửa tại Cuba kết thúc đã giúp Mỹ, Liên Xô và Cuba  thoát khỏi một cuộc chiến tranh mà hậu quả của nó có thể hết sức nặng nề. Vụ khủng hoảng cũng cho thấy vai trò và trách nhiệm của Liên Xô trong việc bảo vệ các nước xã hội chủ nghĩa anh em cũng như việc tránh không để xảy ra cuộc chiến tranh tàn khốc. (1.101 chữ)&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Tài liệu tham khảo==&lt;br /&gt;
# ''102 sự kiện nổi tiếng trên thế giới'', Nxb Văn hóa Thông tin. Hà Nội.1996, tr.506-511.&lt;br /&gt;
# ''Từ điển tri thực lịch sử phổ thông thế kỷ XX'', Nxb Đại học Quốc gia, Hà Nội.2003, tr 852-853.&lt;br /&gt;
# Bộ Quốc phòng,''Bách khoa toàn thư quân sự Việt Nam. Quyển 1, Lịch sử quân sự'', Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội.2015, tr.1108-1109.&lt;br /&gt;
# ''Военнаяэнциклопедия, ToM 3'', Bоениздат, M. 1995, c.485.&lt;br /&gt;
# Victor Lyubinov: ''Tình báo quân sự và cuộc khủng hoảng Caribe''. T/C Militarry Parade (Nga), 3-4/1998.&lt;/div&gt;</summary>
		<author><name>Diemquynh834</name></author>
	</entry>
	<entry>
		<id>https://bktt.vn/index.php?title=Tr%E1%BA%ADn_chi%E1%BA%BFn_%C4%91%E1%BA%A5u_ph%C3%B2ng_kh%C3%B4ng&amp;diff=22485</id>
		<title>Trận chiến đấu phòng không</title>
		<link rel="alternate" type="text/html" href="https://bktt.vn/index.php?title=Tr%E1%BA%ADn_chi%E1%BA%BFn_%C4%91%E1%BA%A5u_ph%C3%B2ng_kh%C3%B4ng&amp;diff=22485"/>
		<updated>2023-01-13T02:56:48Z</updated>

		<summary type="html">&lt;p&gt;Diemquynh834: Tạo trang mới với nội dung “{{sơ}}'''Trận chiến đấu phòng không (Trận Suối Hai, 24-27.7.1965)''', là trận phục kích của 2 tiểu đoàn tên lửa phòng không…”&lt;/p&gt;
&lt;hr /&gt;
&lt;div&gt;{{sơ}}'''Trận chiến đấu phòng không (Trận Suối Hai, 24-27.7.1965)''', là trận phục kích của 2 tiểu đoàn tên lửa phòng không (63 và 64) thuộc Trung đoàn Tên lửa 236, Quân chủng Phòng không - Không quân, phối hợp với các đơn vị pháo phòng không và lực lượng vũ trang địa phương, bắn máy bay Mỹ tại khu vực Suối Hai (huyện Bất Bạt, tỉnh Hà Tây, nay thuộc huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội).&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Đầu năm 1965, Mỹ mở rộng chiến tranh phá hoại miền Bắc bằng không quân và hải quân; áp dụng thủ đoạn sử dụng máy bay bay trên độ cao trung bình để tránh các loại hoả lực pháo phòng không của ta; tăng cường máy bay tiêm kích hộ tống đánh chặn các loại máy bay MiG; đồng thời, sử dụng nhiễu ngoài đội hình và chế áp lực lượng phòng không miền Bắc trên các hướng, tạo thuận lợi cho các tốp máy bay cường kích của chúng vào đánh phá mục tiêu nằm sâu trong nội địa của ta. Ứng phó với tình hình trên, Bộ Tổng Tham mưu Quân đội Nhân dân Việt Nam quyết định đưa lực lượng tên lửa phòng không SAM-2 vào chiến đấu, nhằm nâng cao sức mạnh của hệ thống hoả lực phòng không miền Bắc, ứng phó có hiệu quả với âm mưu và thủ đoạn hoạt động của không quân Mỹ.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Thực hiện mệnh lệnh chiến đấu, Bộ Tư lệnh Quân chủng Phòng không - Không quân giao nhiệm vụ cho Trung đoàn Tên lửa 236 (thành lập ngày 7.1.1965) sử dụng hai tiểu đoàn tên lửa 63 và 64, tổ chức trận địa phục kích đánh máy bay Mỹ tại khu vực Suối Hai. Đồng thời để tạo thành cụm tác chiến phòng không nhiều tầng, nhiều lớp với nhiều loại hoả lực hỗ trợ nhau, 2 trung đoàn pháo phòng không (224, 234, 1 đại đội pháo phòng không 37 mm của Trung đoàn 250); Tiểu đoàn 3 pháo phòng không 57 mm của Quân chủng Phòng không - Không quân; tiểu đoàn súng máy phòng không 14,5 mm; 2 đại đội pháo phòng không 37 mm của Trường Sĩ quan phòng không; các đại đội rađa 26A, 37, 18, 21; 10 trận địa súng máy phòng không và các tổ bắn máy bay bay thấp các địa phương tỉnh Hà Tây và lực lượng dân quân tự vệ huyện Ba Vì, Tùng Thiện, Quảng Oai được điều động tham gia chiến đấu. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
15 giờ 53 phút, ngày 24.7.1965, Tiểu đoàn tên lửa 63 và Tiểu đoàn tên lửa 64 xử lí phần tử chính xác, phóng 4 quả đạn tên lửa tiêu diệt một tốp 3 máy bay F-4C ở độ cao 7.000 m (1 chiếc rơi tại chỗ), bắt 1 phi công; sau đó, nhanh chóng di chuyển sang trận địa mới tại xã Kim Đái (Tùng Thiện) và Thượng Thụy (huyện Đan Phượng, tỉnh Hà Tây, nay thuộc thành phố Hà Nội); đồng thời tại các trận địa cũ, bố trí 2 bộ khí tài tên lửa giả để nghi binh, thu hút máy bay địch, tạo điều kiện cho các cụm pháo phòng không tác chiến tiêu diệt máy bay địch.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Trưa ngày 26.7, địch cho một số máy bay không người lái tầm cao BQM-34A và máy bay RF-101 vào trinh sát, bị Tiểu đoàn Tên lửa 64 bắn rơi 2 chiếc. Ngày 27.7, địch tiếp tục huy động 50 lần chiếc máy bay các loại ( 36 máy bay cường kích F-105, một số máy bay tiếp dầu KC-135, máy bay trực thăng HH-53 và AD-6 hộ tống) tổ chức 3 đợt “đánh trả đũa” vào các trận địa tên lửa của ta. Do quân ta làm tốt công tác nghi binh, giữ được bí mật, nên máy bay Mỹ chủ yếu đánh phá các trận địa tên lửa giả ở đồi chùa Ghề và Vô Khuy (xã Cẩm Lĩnh, huyện Ba Vì). Các đơn vị pháo phòng không phối hợp nhịp nhàng với dân quân phục kích giáng trả quyết liệt, bắn rơi thêm 5 máy bay (2 chiếc rơi tại chỗ) bắt 3 phi công. Trung đoàn 234 bắn rơi 3 chiếc F-105, Trung đoàn 224 bắn rơi 1 chiếc AD-6 và 1 chiếc F-105.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Kết quả, bộ đội tên lửa và các đơn vị phòng không ta bắn rơi 10 máy bay Mỹ (tên lửa bắn rơi 5 chiếc, pháo phòng không bắn rơi 5 chiếc), trong đó có chiếc máy bay Mỹ thứ 400 bị bắn rơi trên miền Bắc. Ta hi sinh 2, bị thương 6 chiến sĩ. Đây là trận đầu ra quân thắng lợi của Bộ đội Tên lửa phòng không Nhân dân Việt Nam. Ngày 24.7.1965, trở thành Ngày truyền thống của Bộ đội Tên lửa phòng không nhân dân Việt Nam. Đồng thời, là trận đánh hiệp đồng tác chiến giữa các lực lượng phòng không đạt hiệu suất chiến đấu cao. Trận đánh để lại nhiều kinh nghiệm quý về tổ chức lực lượng, phối hợp thực hành tác chiến hiệp đồng binh chủng giữa các lực lượng tên lửa phòng không, pháo phòng không, súng bộ binh bắn máy bay trong chiến đấu chống chiến tranh phá hoại bằng không quân của Mỹ ở miền Bắc Việt Nam. (895 chữ)&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Tài liệu tham khảo==&lt;br /&gt;
# ''Lịch sử Quân chủng Phòng không, tập 2'', Nxb  Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1993, tr.46-48.&lt;br /&gt;
# Bộ Quốc phòng, ''Viện Lịch sử quân sự Việt Nam: Lịch sử chiến thuật phục kích (1945 - 1975)'', Nxb  Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1997, tr. 156-161.&lt;br /&gt;
# Bộ Quốc phòng, ''Viện Lịch sử quân sự Việt Nam: Lịch sử kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954-1975, tập 4'', Nxb  Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1999.&lt;br /&gt;
# ''Trận đánh mở đầu của bộ đội tên lửa ngày 24/7/1965'', Tạp chí Lịch sử quân sự, số tháng 4 năm 2000.&lt;br /&gt;
# Bộ Quốc phòng, ''Trung tâm Từ điển bách khoa quân sự: Từ điển Bách khoa quân sự Việt Nam'', Nxb  Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2004, tr. 1072-1073.&lt;br /&gt;
# Bộ Quốc phòng: ''Bách khoa toàn thư quân sự Việt Nam, quyển 1: Lịch sử quân sự'', Nxb  Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2015, tr.958-959.&lt;/div&gt;</summary>
		<author><name>Diemquynh834</name></author>
	</entry>
	<entry>
		<id>https://bktt.vn/index.php?title=Tr%E1%BA%ADn_chi%E1%BA%BFn_%C4%91%E1%BA%A5u_kh%C3%B4ng_qu%C3%A2n&amp;diff=22484</id>
		<title>Trận chiến đấu không quân</title>
		<link rel="alternate" type="text/html" href="https://bktt.vn/index.php?title=Tr%E1%BA%ADn_chi%E1%BA%BFn_%C4%91%E1%BA%A5u_kh%C3%B4ng_qu%C3%A2n&amp;diff=22484"/>
		<updated>2023-01-13T02:53:02Z</updated>

		<summary type="html">&lt;p&gt;Diemquynh834: Tạo trang mới với nội dung “{{sơ}}'''Trận chiến đấu không quân (3.4.1965)''', là trận chiến đấu đầu tiên của Không quân nhân dân Việt Nam, do biên đ…”&lt;/p&gt;
&lt;hr /&gt;
&lt;div&gt;{{sơ}}'''Trận chiến đấu không quân (3.4.1965)''', là trận chiến đấu đầu tiên của Không quân nhân dân Việt Nam, do biên đội máy bay MiG-17 thuộc Trung đoàn Không quân tiêm kích 921 (nay thuộc Sư đoàn 371, Quân chủng Phòng không- Không quân) tiến hành trên bầu trời khu vực cầu Hàm Rồng, t. Thanh Hoá.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Ngày 1.4.1965, không quân Mỹ chuyển sang đánh phá hệ thống giao thông, trong đó cầu Hàm Rồng được xác định là một trong những mục tiêu trọng điểm cần tập trung phá hủy. Bộ tư lệnh Quân chủng Phòng không - Không quân quyết định đưa Trung đoàn 921 phối hợp với các lực lượng phòng không (hai đại đội pháo phòng không 57 mm của Trung đoàn 234, một đại đội súng máy phòng không 14,5 mm của Sư đoàn Bộ binh 304, hai đại đội pháo phòng không 37 mm của Quân khu 3...)  vào chiến đấu bảo vệ cầu Hàm Rồng. Thực hiện kế hoạch của trên,  Ban chỉ huy Trung đoàn 921 sử dụng 6 chiếc MiG 17A, tổ chức thành hai biên đội: biên đội tấn công bốn chiếc do Phạm Ngọc Lan (số 1), Phan Văn Túc (số 2), Hồ Văn Quỳ (số 3) và Trần Minh Phương (số 4); biên đội nghi binh, thu hút tiêm kích địch và sẵn sàng yểm hộ cho biên đội tấn công gồm hai chiếc do Trần Hanh (số 1), Phạm Giấy (số 2).&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
7 giờ ngày 3.4.1965, rađa của ta phát hiện một tốp máy bay Mĩ vào trinh sát khí tượng và các mục tiêu trọng điểm, 9 giờ 40 phút, Sở chỉ huy và các trạm quan sát phát hiện các máy bay Mĩ vào không kích  cầu Tào, cầu  Đò Lèn và cầu Hàm Rồng. 9 giờ 47 phút, Sở chỉ huy tiền phương quân chủng ra lệnh cho các biên đội vào cấp 1:  biên đội yểm trợ được lệnh cất cánh từ sân bay Nội Bài về hướng tây nam làm nhiệm vụ nghi binh; sau đó 1 phút, biên đội tiến công cất cánh, tiến về vùng trời Thanh Hoá. Được Sở chỉ huy và rađa dẫn đường, sau 20 phút biên đội Phạm Ngọc Lan đã nhanh chóng phát hiện mục tiêu và chuyển từ đội hình cảnh giới sang công kích. Bằng cách đánh cơ động, táo bạo, bất ngờ, kết hợp giữa yểm trợ và tiến công, biên đội tổ chức thành 2 tốp liên tục bám sát, đánh trả nhiều tốp máy bay địch. Chớp thời cơ nổ súng, Phạm Ngọc Lan và Phan Văn Túc bắn rơi 2 máy bay F-8, góp phần bẻ gãy các đợt đánh phá của địch, bảo vệ được cầu. 10 giờ 17 phút, các biên đội được lệnh thoát li chiến đấu, trở về căn cứ an toàn (máy bay của phi công Phạm Ngọc Lan hạ cánh bắt buộc xuống bãi cát ven sông Đuống do hết nhiên liệu).&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Kế thừa truyền thống ra quân đánh thắng trận đầu của Quân đội nhân dân Việt Nam, Bộ đội không quân đã thể hiện ý chí và bản lĩnh quyết đánh và biết đánh thắng không quân Mỹ, lực lượng thiện chiến hàng đầu thế giới. Trận đánh để lại kinh nghiệm bước đầu về xây dựng cách đánh của bộ đội không quân Việt Nam phối hợp với các lực lượng phòng không đánh trả máy bay hiện đại của không quân Mỹ. Thắng lợi của trận đánh chứng tỏ lực lượng Không quân nhân dân Việt Nam tuy còn non trẻ và đang trong quá trình xây dựng, nhưng bằng ý chí dũng cảm và khả năng sáng tạo, sẽ trưởng thành và lớn mạnh, đủ sức đánh thắng kẻ thù. Sau thắng lợi của trận đánh, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã gửi thư khen bộ đội không quân lập chiến công đầu; ngày 3.4.1965 trở thành ngày truyền thống của Không quân nhân dân Việt Nam. (668 chữ)&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Tài liệu tham khảo==&lt;br /&gt;
# ''Lịch sử quân chủng phòng không, tập 2'', NxB Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1993.&lt;br /&gt;
# ''Lịch sử KCCM cứu nước (1954-1975) tập 3'', NxB CTQG, Hà Nội, 1997.&lt;br /&gt;
# ''Từ điển Bách khoa quân sự Việt Nam'', NxB Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2004, tr 1032.&lt;br /&gt;
# ''50 năm không quân nhân Việt Nam, tập 1'', NxB Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2005.&lt;br /&gt;
# ''Lịch sử Trung đoàn không quân (1964-2009)'' NxB Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2009.&lt;br /&gt;
# ''Báo Phòng không-Không quân'' (24.10.2018 và 28.3.2000)&lt;br /&gt;
# ''Bách khoa toàn thư quân sự Việt Nam. Quyển Lịch sử quân sự'', NxB Quân đội nhân dân      - 2015.&lt;/div&gt;</summary>
		<author><name>Diemquynh834</name></author>
	</entry>
	<entry>
		<id>https://bktt.vn/index.php?title=Tr%E1%BA%ADn_A_Bia&amp;diff=22483</id>
		<title>Trận A Bia</title>
		<link rel="alternate" type="text/html" href="https://bktt.vn/index.php?title=Tr%E1%BA%ADn_A_Bia&amp;diff=22483"/>
		<updated>2023-01-13T02:48:07Z</updated>

		<summary type="html">&lt;p&gt;Diemquynh834: Tạo trang mới với nội dung “{{sơ}}'''Trận A Bia (Đồi thịt băm, 10-17.5.1969)''', là trận vận động tiến công kết hợp chốt của Trung đoàn bộ binh 3, Sư…”&lt;/p&gt;
&lt;hr /&gt;
&lt;div&gt;{{sơ}}'''Trận A Bia (Đồi thịt băm, 10-17.5.1969)''', là trận vận động tiến công kết hợp chốt của Trung đoàn bộ binh 3, Sư đoàn 324, phối hợp với Trung đoàn 6 và lực lượng du kích Thừa Thiên chặn đánh cuộc hành quân càn quét của quân Mỹ và quân đội Sài Gòn tại khu vực A Bia, huyện A Lưới, tỉnh Thừa Thiên (nay là tỉnh Thừa Thiên - Huế).&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Diễn biến==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Đầu tháng 5.1969, Mỹ và quân đội Sài Gòn tập trung 13 tiểu đoàn (có 8 tiểu đoàn Mỹ) được máy bay, pháo binh yểm trợ, mở cuộc hành quân “Tuyết trên núi Apat (Apache Snow)” tại vùng rừng núi A Sầu (A So) - A Lưới nhằm đánh bật các đơn vị Quân giải phóng qua bên kia biên giới Việt - Lào, ngăn chặn tuyến vận chuyển chi viện của ta từ Đường 14 vào nam Thừa Thiên. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Nắm chắc âm mưu, các thủ đoạn tác chiến của địch, từ đầu tháng 3.1969, Bộ Tư lệnh Quân khu Trị - Thiên điều Trung đoàn bộ binh 3, Sư đoàn 324 về khu vực A Lưới sẵn sàng đánh địch. Trung đoàn bộ binh 3 xây dựng cụm chốt trên điểm cao A Bia để thu hút quân Mỹ, tạo điều kiện cho các phân đội bố trí ở các khu vực lân cận cơ động đến tiêu diệt quân địch ngoài công sự. A Bia - điểm cao nằm trong dãy các điểm cao (Ấp Bia 937), 903, 916, A Lộc, A Hứa, A Phia bao bọc thung lũng A Sầu thuộc huyện A Lưới, tỉnh Thừa Thiên - Huế, tây nam thành phố Huế 50 km, gần biên giới Việt - Lào. A Bia gồm 3 mỏm đồi thế chân kiềng, mỗi mỏm cách nhau khoảng 400 m. Tiểu đoàn 8 được tăng cường đại đội cối 82 mm xây dựng cụm chốt ở Ấp Bia (điểm cao 937); Tiểu đoàn 7 bố trí tại khu vực điểm cao 916 và 903 sẵn sàng cơ động đánh địch; Đại đội 16 cơ động đánh địch dọc đường 14 đoạn A So - A Lưới; Tiểu đoàn 9 là lực lượng dự bị, có sự phối thuộc của Trung đoàn 6 và lực lượng du kích Thừa Thiên.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Trong 2 ngày 10,11.5, Tiểu đoàn 1, Lữ đoàn 3, Sư đoàn 101 quân dù Mỹ tổ chức càn quét các khu vực xung quanh núi A Bia. Tiểu đoàn 7 và Tiểu đoàn 8, Trung đoàn 3 Quân giải phóng tổ chức đánh địch ở khu vực yên ngựa phía bắc A Bia, tiêu hao, tiêu diệt nhiều sinh lực địch, buộc chúng phải quay trở lại vị trí trú quân. Ngày 12.5, không quân địch (có máy bay B-52) đánh phá huỷ diệt A Bia và các khu vực lân cận. Tiếp đó, trưa 13.5, Tiểu đoàn 1 quân Mỹ tiến công liên tục lên A Bia. 2 ngày 13,14 tháng 5, Trung đoàn bộ binh 3 vừa dựa vào các chốt phòng ngự ngăn chặn, đẩy lui quân địch, vừa chớp thời cơ quân địch co cụm, nhanh chóng cơ động đánh vào bên sườn phía sau, làm thiệt hại nặng 2 đại đội địch. Từ 15.5, Mỹ tiếp tục đổ thêm 1 đại đội xuống điểm cao 916 và 900; đồng thời, đưa 2 tiểu đoàn khác đánh về hướng điểm cao 903, phối hợp với Tiểu đoàn 2, Trung đoàn 506 quân đội Sài Gòn lấn sang A Bia, chiếm được một số chốt. Tiểu đoàn 8 Quân giải phóng bị cắt rời khỏi đội hình trung đoàn, nhưng dựa chắc vào trận địa phòng ngự, kiên cường đánh bật các đợt tiến công của địch.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Quân ta kiên quyết trụ bám trận địa, đồng thời tổ chức đánh vào bên sườn đội hình tiến công của địch. Tiểu đoàn 8 được lệnh giữ vững Ấp Bia nhằm thu hút địch, tạo điều kiện cho Tiểu đoàn 7 và Tiểu đoàn 9 lật cánh sang phía nam A Bia, vận động tiến công vào bên sườn quân địch. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Ngày 16.5, Tiểu đoàn 8 đánh bại các đợt tiến công của địch lên khu vực điểm cao Ấp Bia (937), buộc chúng phải dừng lại, co cụm ở các khu vực yên ngựa. Chớp thời cơ, Trung đoàn Bộ binh 3 tập trung hoả lực tập kích vào 1 đại đội quân Mỹ ở khu vực Động Chuối. Sáng ngày 17.5, Đại đội 2, Tiểu đoàn 7 cắt rừng bất ngờ tiến công đánh bật 1 đại đội quân Mỹ ra khỏi khu vực Điểm cao 916. Quân địch bị dồn xuống chân Điểm cao 916 và bị lực lượng chốt thuộc Đại đội 5 diệt thêm một số; sau đó, địch dùng máy bay trực thăng đến ứng cứu, bị hoả lực của Đại đội 2 bắn rơi 2 chiếc. 14 giờ ngày 17.5, quân ta làm chủ khu vực điểm cao 916, khai thông đường tiếp tế từ Trung đoàn Bộ binh 3 sang Tiểu đoàn 8. 15 giờ, ngày 17.5, được hoả lực pháo binh chi viện, Lữ đoàn Dù 3 Mỹ và Tiểu đoàn 2, Trung đoàn 506 quân đội Sài Gòn chia làm 4 mũi mở đợt tiến công mới, ồ ạt lên A Bia. Tiểu đoàn 8, Đại đội 2, Tiểu đoàn 7… Quân giải phóng kiên cường giáng trả các cuộc tiến công mới của địch, giữ vững trận địa, đánh bật chúng xuống chân điểm cao A Bia, buộc địch phải rút quân về Phú Bài, kết thúc cuộc hành quân.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Kết quả==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Kết quả, ta loại khỏi chiến đấu 1.300 tên địch (riêng Ấp Bia diệt gần 300 tên), phá huỷ nhiều phương tiện chiến tranh của chúng; góp phần bảo vệ vững chắc hành lang chiến lược của ta, hỗ trợ đắc lực cho phong trào đánh phá bình định ở đồng bằng Thừa Thiên; thúc đẩy phong trào đấu tranh của nhân dân Mỹ phản đối chính quyền Mỹ kéo dài chiến tranh ở Việt Nam. TAB là trận vận động tiến công kết hợp chốt điển hình, đạt hiệu suất chiến đấu cao; để lại nhiều bài học và kinh nghiệm quý trong quá trình chiến đấu cụm chốt trên các điểm cao của Quân giải phóng; làm binh lính địch thêm kinh hoàng, gây chấn động dư luận nước Mỹ và Ấp Bia được báo chí Mỹ mệnh danh là “đồi thịt băm” (A. Humburger Hill). (1.082 chữ)&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Tài liệu tham khảo==&lt;br /&gt;
# ''James S.Oison: Dictionnary of the Vietnam War'', Nxb  Greenwood, 1988, page 186-187.&lt;br /&gt;
# ''Lịch sử Sư đoàn 304'', Nxb  Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1992, tr.76-87.&lt;br /&gt;
# Bộ Quốc phòng, ''Viện Lịch sử quân sự Việt Nam: Lịch sử Quân đội nhân dân Việt Nam'', tập 2, Nxb  Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1994.&lt;br /&gt;
# Bộ Quốc phòng, ''Viện Lịch sử quân sự Việt Nam: Lịch sử kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954-1975'', tập 6, Nxb  Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2003, tr. 108-111&lt;br /&gt;
# “Đồi thịt băm”, ''Tạp chí Xưa nay'', số 218, tháng 8 năm 2004.&lt;br /&gt;
# Bộ Quốc phòng, ''Trung tâm Từ điển bách khoa quân sự: Từ điển Bách khoa quân sự Việt Nam'', Nxb  Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2004.&lt;br /&gt;
# Bộ Quốc phòng: Bách khoa toàn thư quân sự Việt Nam, quyển 1:'' Lịch sử quân sự'', Nxb  Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2015, tr.911-912.&lt;/div&gt;</summary>
		<author><name>Diemquynh834</name></author>
	</entry>
	<entry>
		<id>https://bktt.vn/index.php?title=Qu%C3%A2n_nh%C3%A2n_d%E1%BB%B1_b%E1%BB%8B&amp;diff=22482</id>
		<title>Quân nhân dự bị</title>
		<link rel="alternate" type="text/html" href="https://bktt.vn/index.php?title=Qu%C3%A2n_nh%C3%A2n_d%E1%BB%B1_b%E1%BB%8B&amp;diff=22482"/>
		<updated>2023-01-13T02:37:44Z</updated>

		<summary type="html">&lt;p&gt;Diemquynh834: Tạo trang mới với nội dung “{{sơ}}'''Quân nhân dự bị''' là những công dân phục vụ trong ngạch dự bị của quân đội, được phong, thăng quân hàm và th…”&lt;/p&gt;
&lt;hr /&gt;
&lt;div&gt;{{sơ}}'''Quân nhân dự bị''' là những công dân phục vụ trong ngạch dự bị của quân đội, được phong, thăng quân hàm và thực hiện các chế độ chính sách theo quy định của nhà nước. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Quân nhân dự bị được tập trung huấn luyện, kiểm tra theo định kỳ (trong thời bình) hoặc được gọi nhập ngũ theo lệnh động viên (trong thời chiến). Hiện nay, nhiều nước trên thế giới có xu hướng giảm quân đội thường trực, đồng thời tăng cường nâng cao quân số, chất lượng quân nhân dự bị nhằm sẵn sàng bổ sung cho quân thường trực đối phó với tình trạng khẩn cấp (nếu xảy ra). Trong Quân đội nhân dân Việt Nam, Quân nhân dự bị bao gồm sĩ quan dự bị, quân nhân chuyên nghiệp dự bị và hạ sĩ quan, binh sĩ dự bị.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Sỹ quan dự bị==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Sĩ quan dự bị bao gồm các đối tượng: &lt;br /&gt;
# sĩ quan, cán bộ là quân nhân chuyên nghiệp khi thôi phục vụ tại ngũ còn đủ tiêu chuẩn và điều kiện của sĩ quan dự bị.&lt;br /&gt;
# quân nhân chuyên nghiệp, hạ sĩ quan khi thôi phục vụ tại ngũ và hạ sĩ quan dự bị đã được đào tạo sĩ quan dự bị. &lt;br /&gt;
# cán bộ, công chức ngoài quân đội và những người tốt nghiệp đại học trở lên có chuyên môn phù hợp với yêu cầu của quân đội, đã được đào tạo sĩ quan dự bị. Tuổi phục vụ của sĩ quan dự bị phụ thuộc vào cấp bậc quân hàm, hạn tuổi cao nhất của sĩ quan dự bị quy định cấp úy 51 tuổi; thiếu tá 53 tuổi; trung tá 56 tuổi; thượng tá 57 tuổi; đại tá 60 tuổi; cấp tướng 63 tuổi. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Quân nhân chuyên nghiệp dự bị==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Quân nhân chuyên nghiệp dự bị bao gồm các đối tượng: &lt;br /&gt;
# quân nhân chuyên nghiệp thôi phục vụ tại ngũ còn trong độ tuổi phục vụ trong ngạch dự bị.&lt;br /&gt;
# hạ sĩ quan, binh sĩ dự bị có trình độ chuyên môn kỹ thuật, nghiệp vụ phù hợp yêu cầu của quân đội. &lt;br /&gt;
# công dân nam trong độ tuổi thực hiện nghĩa vụ quân sự chưa phục vụ tại ngũ, tốt nghiệp đào tạo tại cơ sở giáo dục nghề nghiệp, cơ sở giáo dục đại học và có trình độ chuyên môn kỹ thuật, nghiệp vụ phù hợp yêu cầu của quân đội. Tuổi phục vụ của quân nhân chuyên nghiệp dự bị phụ thuộc cấp bậc quân hàm, hạn tuổi cao nhất của quân nhân chuyên nghiệp dự bị quy định cấp úy 54 tuổi; thiếu tá, trung tá 56 tuổi; thượng tá 58 tuổi. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Hạ sĩ quan, binh sĩ dự bị==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Hạ sĩ quan, binh sĩ dự bị bao gồm các đối tượng: &lt;br /&gt;
# công dân nam hết độ tuổi gọi nhập ngũ nhưng chưa phục vụ tại ngũ. &lt;br /&gt;
# công dân nữ trong độ tuổi thực hiện nghĩa vụ quân sự có ngành, nghề chuyên môn phù hợp yêu cầu của Quân đội nhân dân. &lt;br /&gt;
# công dân trong độ tuổi thực hiện nghĩa vụ quân sự thuộc một trong các trường hợp sau đây: hạ sĩ quan, binh sĩ xuất ngũ; quân nhân chuyên nghiệp, công nhân, viên chức quốc phòng thôi phục vụ trong Quân đội nhân dân và thôi phục vụ trong lực lượng Cảnh sát biển Việt Nam; công dân thôi phục vụ trong Công an nhân dân. Hạ sĩ quan, binh sĩ dự bị được chia thành hạ sĩ quan, binh sĩ dự bị hạng một và binh sĩ dự bị hạng hai. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Hạ sĩ quan, binh sĩ dự bị hạng một gồm có: &lt;br /&gt;
* Hạ sĩ quan, binh sĩ dự bị xuất ngũ đã phục vụ tại ngũ đủ 06 tháng trở lên; Hạ sĩ quan, binh sĩ dự bị xuất ngũ đã qua chiến đấu &lt;br /&gt;
* Công dân nam thôi phục vụ trong Công an nhân dân, đã có thời gian phục vụ từ 20 tháng trở lên &lt;br /&gt;
* Công dân nam là quân nhân chuyên nghiệp thôi phục vụ tại ngũ &lt;br /&gt;
* Công dân nam là công nhân, viên chức quốc phòng được chuyển chế độ từ hạ sĩ quan, binh sĩ đã thôi việc &lt;br /&gt;
* Dân quân tự vệ nòng cốt đã hoàn thành nghĩa vụ tham gia dân quân tự vệ, trong đó có ít nhất 12 tháng làm nhiệm vụ dân quân tự vệ thường trực hoặc đã qua huấn luyện tập trung đủ 03 tháng trở lên &lt;br /&gt;
* Công dân là binh sĩ dự bị hạng hai đã qua huấn luyện tập trung đủ 06 tháng trở lên &lt;br /&gt;
* Công dân hoàn thành nhiệm vụ tham gia công an xã liên tục từ đủ 36 tháng trở lên&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Binh sĩ dự bị  hạng hai gồm có: &lt;br /&gt;
* Công dân nam là binh sĩ xuất ngũ, đã phục vụ tại ngũ dưới 06 tháng &lt;br /&gt;
* Công nhân, viên chức quốc phòng đã thôi việc &lt;br /&gt;
* Công dân nam thôi phục vụ trong Công an nhân dân đã có thời gian phục vụ dưới 12 tháng &lt;br /&gt;
* Công dân nam hết độ tuổi gọi nhập ngũ chưa phục vụ tại ngũ và thực hiện nghĩa vụ tham gia Công an nhân dân&lt;br /&gt;
* Công dân nữ đã đăng ký nghĩa vụ quân sự theo quy định &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Độ tuổi phục vụ trong ngạch dự bị của hạ sĩ quan, binh sĩ dự bị được quy định như sau: &lt;br /&gt;
* Công dân nam đến hết 45 tuổi &lt;br /&gt;
* Công dân nữ đến hết 40 tuổi &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Tuổi phục vụ của hạ sĩ quan, binh sĩ dự bị được chia thành hai nhóm: &lt;br /&gt;
* Nnhóm A gồm những công dân nam đến hết 35 tuổi, công dân nữ đến hết 30 tuổi&lt;br /&gt;
* Nhóm B gồm những công dân nam từ 36 tuổi đến hết 45 tuổi, công dân nữ từ 31 tuổi đến hết 40 tuổi &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Quân nhân dự bị==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Quân nhân dự bị là thành phần chủ yếu của lực lượng dự bị động viên, góp phần quyết định việc tổ chức đơn vị dự bị động viên. Độ tuổi sĩ quan dự bị sắp xếp vào đơn vị dự bị động viên thực hiện theo quy định của Luật Sĩ quan Quân đội nhân dân Việt Nam 2014. Độ tuổi quân nhân chuyên nghiệp dự bị và hạ sĩ quan, binh sĩ dự bị sắp xếp vào đơn vị dự bị động viên được quy định như sau:&lt;br /&gt;
# Nam quân nhân chuyên nghiệp dự bị không quá 40 tuổi; hạ sĩ quan, binh sĩ dự bị không quá 35 tuổi được sắp xếp vào đơn vị chiến đấu&lt;br /&gt;
# Nam quân nhân chuyên nghiệp dự bị và hạ sĩ quan, binh sĩ dự bị không quá 45 tuổi; nữ Quân nhân dự bị không quá 40 tuổi được sắp xếp vào đơn vị bảo đảm chiến đấu. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Việc sắp xếp Quân nhân dự bị vào đơn vị dự bị động viên bảo đảm nguyên tắc: &lt;br /&gt;
# Sắp xếp Quân nhân dự bị đủ tiêu chuẩn về sức khỏe, có chuyên nghiệp quân sự đúng với chức danh biên chế; gắn địa bàn tuyển quân với địa bàn động viên; trường hợp thiếu thì sắp xếp Quân nhân dự bị có chuyên nghiệp quân sự gần đúng với chức danh biên chế.&lt;br /&gt;
# Sắp xếp quân nhân chuyên nghiệp dự bị, hạ sĩ quan, binh sĩ dự bị được thực hiện theo thứ tự quân nhân chuyên nghiệp dự bị, hạ sĩ quan, binh sĩ dự bị hạng một trước, trường hợp thiếu thì sắp xếp binh sĩ dự bị hạng hai. &lt;br /&gt;
# Sắp xếp Quân nhân dự bị vào đơn vị dự bị động viên thuộc đơn vị bộ đội chủ lực trước, đơn vị bộ đội địa phương sau. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Đăng ký, quản lý Quân nhân dự bị, Ban chỉ huy quân sự cấp xã, Ban chỉ huy quân sự cấp huyện nơi không có đơn vị hành chính cấp xã thực hiện đăng ký Quân nhân dự bị cho công dân cư trú tại địa phương. Ban chỉ huy quân sự cơ quan, tổ chức thực hiện đăng ký Quân nhân dự bị cho công dân đang lao động, học tập, làm việc tại cơ quan, tổ chức. Trường hợp cơ quan, tổ chức không có Ban chỉ huy quân sự thì người đứng đầu hoặc người đại diện hợp pháp của cơ quan, tổ chức có trách nhiệm tổ chức cho công dân đang lao động, học tập, làm việc tại cơ quan, tổ chức thực hiện đăng ký Quân nhân dự bị tại nơi cư trú. Ủy ban nhân dân cấp xã, Ủy ban nhân dân cấp huyện nơi không có đơn vị hành chính cấp xã thực hiện quản lý Quân nhân dự bị cư trú tại địa phương. Ban chỉ huy quân sự cấp huyện phối hợp với cơ quan, tổ chức quản lý Quân nhân dự bị đang lao động, học tập, làm việc tại cơ quan, tổ chức trên địa bàn. Chính phủ quy định trình tự, thủ tục đăng ký Quân nhân dự bị. Chế độ phục vụ, nghĩa vụ và quyền lợi của Quân nhân dự bị được quy định trong Luật lực lượng dự bị động viên năm 2019 và các văn bản pháp luật khác. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Thấy rõ tầm quan trọng và vị trí chiến lược của Quân nhân dự bị, các cấp các ngành ở địa phương và đơn vị thường trực đang cố gắng làm tốt công tác đăng kí, quản lí và sắp xếp Quân nhân dự bị vào đơn vị dự bị động viên, đồng thời thực hiện nghiêm chính sách đối với Quân nhân dự bị, để không ngừng xây dựng lực lượng dự bị động viên hùng hậu, sẵn sàng đáp ứng yêu cầu của động viên khi cần thiết. (1.573 chữ)&lt;br /&gt;
 &lt;br /&gt;
==Tài liệu tham khảo==&lt;br /&gt;
#	Bộ Quốc phòng, ''Từ điển Bách khoa quân sự Việt Nam'', Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2004.&lt;br /&gt;
#	''Luật Nghĩa vụ quân sự năm 2015''.&lt;br /&gt;
#	''Luật quân nhân chuyên nghiệp, công nhân và viên chức quốc phòng 2015''.&lt;br /&gt;
#	''Luật sĩ quan Quân đội nhân dân Việt Nam 2019''.&lt;br /&gt;
#	''Luật Lực lượng dự bị động viên 2019''.&lt;/div&gt;</summary>
		<author><name>Diemquynh834</name></author>
	</entry>
	<entry>
		<id>https://bktt.vn/index.php?title=C%E1%BB%ADa_m%E1%BB%9F&amp;diff=22481</id>
		<title>Cửa mở</title>
		<link rel="alternate" type="text/html" href="https://bktt.vn/index.php?title=C%E1%BB%ADa_m%E1%BB%9F&amp;diff=22481"/>
		<updated>2023-01-12T09:44:33Z</updated>

		<summary type="html">&lt;p&gt;Diemquynh834: Tạo trang mới với nội dung “{{sơ}}'''Cửa mở''' là đoạn vật cản trước tiền duyên phòng ngự của địch đã bị tháo gỡ hoặc làm mất tác dụng, đ…”&lt;/p&gt;
&lt;hr /&gt;
&lt;div&gt;{{sơ}}'''Cửa mở''' là đoạn vật cản trước tiền duyên phòng ngự của địch đã bị tháo gỡ hoặc làm mất tác dụng, để lực lượng tiến công tiến vào công kích mục tiêu.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Phá vỡ vật cản, mở cửa để đưa lực lượng vào công kích mục tiêu bên trong, được hình thành trong các trận chiến đấu từ thời cổ xưa (thế kỷ V - thế kỷ I, trước công nguyên), đến thế kỷ XVI - XIX, khi mìn và các phương tiện vật cản phát triển, được sử dụng để tăng cường độ vững chắc cho phòng ngự, vấn đề mở cửa càng được chú trọng trong chiến đấu tiến công. Trong chiến tranh thế giới lần thứ Nhất và chiến tranh thế giới lần thứ Hai, các trận tiến công địch phòng ngự có công sự vật cản vững chắc, đã được các bên tham chiến nghiên cứu về các biện pháp mở cửa để đưa các lực lượng bộ binh, xe tăng, pháo binh đi cùng vào tiến công các mục tiêu bên trong. Ở Việt Nam, cửa mở có lịch sử hình thành, phát triển cùng với sự ra đời, phát triển của các trận tiến công địch phòng ngự bằng đột phá, Trong kháng chiến chống Pháp, mở cửa được vận dụng trong chiến thuật đánh công kiên, điển hình là các trận đánh cứ điểm Đông Khê trong chiến dịch Biên giới 1950, trận Him Lam trong chiến dịch Điện Biên Phủ 1954… Trong kháng chiến chống Mỹ, mở cửa được vận dụng phổ biến trong tiến công các cứ điểm, căn cứ phòng ngự của địch phòng ngự có công sự, vật cản vững chắc, phức tạp, rút ra những kinh nghiệm quý báu về thời cơ, lực lượng phương pháp, tổ chức hỏa lực chuẩn bị bảo đảm cho mở cửa, góp phần phát triển lí luận đột phá phòng ngự địch trong chiến đấu tiến công.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Tùy theo yêu cầu, nhiệm vụ, phương pháp tác chiến, để xác định các loại Cửa mở, thường có: Cửa mở cho bộ binh; cho xe tăng, xe thiết giáp; cho đặc công… Vị trí, số lượng Cửa mở do người chỉ huy xác định khi hạ quyết tâm tác chiến. chiều rộng cửa mở phụ thuộc đặc điểm của lực lượng, phương tiện đưa vào đột phá địch phòng ngự. Cửa mở cho bộ binh, thường do các đơn vị bộ binh tự mở cửa trong giai đoạn hỏa lực chuẩn bị, thực hành mở cửa và đánh chiếm đầu cầu trước khi bộ binh thực hành xung phong đánh chiếm các mục mục tiêu bên trong; vị trí cửa mở được chọn trên các đoạn đột phá, nơi bất ngờ, có điều kiện tiếp cận để mở cửa nhanh, hạn chế tổn thất lực lượng, thuận tiện cho bộ binh vào đánh chiếm các mục tiêu chủ yếu. Cửa mở cho xe tăng, thiết giáp thường do lực lượng công binh của cấp trên đảm nhiệm, tùy theo quy mô sử dụng xe tăng, thiết giáp để xác định số lượng cửa mở cho phù hợp, một đại đội tăng cần 2 – 3 của mở, tiểu đoàn tăng cần 3 – 4 cửa mở, chiều dài cửa mở bằng chiều dày của lớp vật cản, chiều rộng một cửa mở bảo đảm cho 1- 2 chiếc xe tăng cùng cơ động vào đột phá. Cửa mở cho đặc công, thường do lực lượng đặc công tự mở cửa, bằng phương pháp mở cửa bí mật của đặc công.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Phương pháp mở cửa: Bí mật tháo gỡ vật cản; bộc phá liên tục và bằng bộ khí tài mở cửa hiện đại; hoặc có thể kết hợp các phương pháp với nhau. Yêu cầu chung của Cửa mở: đúng hướng, đủ kích thước, dọn sạch vật cản, đánh chiếm, giữ chắc đầu cầu, hạn chế được hỏa lực địch khống chế Cửa mở, bảo đảm an toàn cho lực lượng mở cửa và các lực lượng vào xung &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Tài liệu tham khảo==&lt;br /&gt;
# Cục Khoa học quân sự, ''Từ điển giải thích thuật ngữ quân sự'', Hà Nôi, 1985.&lt;br /&gt;
# Bộ Tổng tham mưu, ''Sư đoàn bộ binh chiến đấu tiến công'', Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2000.&lt;br /&gt;
# Bộ Tổng tham mưu, ''Sư đoàn bộ binh tiến công vào khu vực địch phòng ngự'', Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2000.&lt;br /&gt;
# Học Viện Quốc phòng, ''Giáo trình sư đoàn bộ binh tiến công địch phòng ngự trận địa'', Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2002.&lt;br /&gt;
# Bộ Quốc phòng, ''Từ điển bách khoa quân sự Việt Nam'', Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2004.&lt;br /&gt;
# Bộ Quốc phòng, ''Từ điển thuật ngữ quân sự'', Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2007.&lt;/div&gt;</summary>
		<author><name>Diemquynh834</name></author>
	</entry>
	<entry>
		<id>https://bktt.vn/index.php?title=C%C4%83n_c%E1%BB%A9_v%C6%B0%E1%BB%9Dn_th%C6%A1m&amp;diff=22480</id>
		<title>Căn cứ vườn thơm</title>
		<link rel="alternate" type="text/html" href="https://bktt.vn/index.php?title=C%C4%83n_c%E1%BB%A9_v%C6%B0%E1%BB%9Dn_th%C6%A1m&amp;diff=22480"/>
		<updated>2023-01-12T09:32:28Z</updated>

		<summary type="html">&lt;p&gt;Diemquynh834: Tạo trang mới với nội dung “{{sơ}}'''Căn cứ vườn thơm''' là căn cứ địa kháng chiến do Ủy ban kháng chiến tỉnh Chợ Lớn thành lập tháng 6.1946, trên…”&lt;/p&gt;
&lt;hr /&gt;
&lt;div&gt;{{sơ}}'''Căn cứ vườn thơm''' là căn cứ địa kháng chiến do Ủy ban kháng chiến tỉnh Chợ Lớn thành lập tháng 6.1946, trên địa bàn quận Trung Quận và một phần quận Đức Hòa tỉnh Chợ Lớn.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Lịch sử hình thành==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Từ cuối tháng 10.1945, sau khi mặt trận phía Tây và phòng tuyến Chợ Đệm bị vỡ, cơ quan Xứ ủy, Ủy ban Kháng chiến Nam Bộ, Ban Chấp hành Mặt trận Việt Minh dời về Láng Le - Bàu Cò, khu vực Tân Nhật, Tân Kiên, Tân Túc, Tân Tạo. Nhiều đơn vị vũ trang từ mặt trận phía Tây và mặt trận phía Bắc lần lượt rút về đây củng cố lực lượng. Sau hội nghị Bình Hòa Nam, Tỉnh ủy và Ủy ban Kháng chiến tỉnh Chợ Lớn, thành phố Sài Gòn cùng cơ quan kháng chiến Trung Quận và một số địa phương phụ cận về tập trung ở Vườn Thơm, Bà Vụ. Nhiều lãnh đạo của Đảng như Trần Văn Giàu, Nguyễn Văn Trân, Nguyễn Văn Trấn, Nguyễn Thị Thập, Tôn Đức Thắng, Hoàng Quốc Việt, Lê Duẩn, Phạm Hùng, Nguyễn Bình cũng về tập trung ở đây. Khu vực Vườn Thơm - Bà Vụ nối liền với Láng Le - Bàu Cò trở thành căn cứ địa kháng chiến của các cơ quan đầu não Nam Bộ, tỉnh Chợ Lớn và thành phố Sài Gòn. Đến 6.1946, Ủy ban Kháng chiến tỉnh Chợ Lớn chính thức thành lập căn cứ địa kháng chiến Vườn Thơm. Dựa vào địa thế tự nhiên và sự đùm bọc của nhân dân địa phương, các cơ quan kháng chiến và lực lượng vũ trang ở Vườn Thơm đã xây dựng cơ sở lán trại, nơi ăn ở, binh công xưởng, tòa soạn báo… Ban Chỉ huy phát động quân và dân đào thêm hàng nghìn mét kênh, nạo vét kênh, lạch cũ, mở đường ngang dọc trong căn cứ, đồng thời dựng kè, đắp đập trên các kênh lớn, đào hầm hào khắp nơi vừa để trú giấu lực lượng, vừa để chống địch càn quét. Nhân dân tản cư được vận động trở về ngụ cư ở khu vực trong và xung quanh căn cứ. Căn cứ vườn thơm đã trở thành một chiến khu quan trọng của Sài Gòn - Chợ Lớn.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Quy mô căn cứ==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Căn cứ vườn thơm có diện tích gần 200 km2, gồm 6 xã trung tâm (Tân Tạo, Tân Nhật, Tân Bửu, Lương Hòa, Hậu Thạnh Hạ, Đức Hòa Hạ) và 9 xã ngoại vi (Bình Trị Đông, Tân Kiên, An Lạc, Tân Túc, Mỹ Yên, Thanh Hòa, Long Hiệp, Long Phú, An Thạnh), thuộc đất Trung Quận (nay là quận Bình Tân và huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh) và quận Đức Hòa (nay thuộc các huyện Đức Hòa, Bến Lức, tỉnh Long An); cách trung tâm Sài Gòn 10 km về phía Tây, án ngữ đường nối hành lang Sài Gòn với Đồng Tháp Mười, có đường số 10, sông Vàm Cỏ Đông và hệ thống kênh rạch chằng chịt dẫn tỏa đi nhiều nơi. Địa hình chủ yếu là đầm lầy ngập nước có nhiều cỏ lác, đan xen với mù u, tràm, dừa nước, cánh đồng mía; kênh rạch chằng chịt.  Là địa bàn thuận lợi cho việc trú ém lực lượng, dự trữ vật chất, có thể tiến thoái dễ dàng trong hoạt động quân sự. Điều kiện tự nhiên rất thuận lợi cho việc xây dựng căn cứ địa, tiến hành chiến tranh du kích (nguồn lương thực, thực phẩm dồi dào, rừng rậm rạp dễ che giấu, phân tán lực lượng, nhiều đầm lầy cản trở sự xâm nhập, cơ động nên kẻ thù rất khó phát hiện để tiêu diệt, dễ tiếp nhận nguồn chi viện hàng hóa từ bên ngoài…). Mạng lưới sông ngòi và kênh rạch chằng chịt, phù hợp cho việc cơ động lực lượng theo kiểu chiến tranh du kích (ghe, thuyền nhỏ), không phù hợp với cơ động của các loại tàu, thuyền lớn trong chiến tranh hiện đại. Địa hình bất lợi cho việc sử dụng các phương tiện cơ giới đường bộ, không cho phép thực hiện các cuộc hành quân, tác chiến hiệp đồng quân binh chủng quy mô lớn. Các hoạt động đổ bộ và oanh kích trong tác chiến bằng đường không cũng gặp nhiều khó khăn, hạn chế; dễ bị đối phương chia cắt lực lượng; việc vận chuyển, tiếp tế, liên lạc giữa các bộ phận, các vùng gặp nhiều khó khăn. Trong kháng chiến chông Pháp, Căn cứ vườn thơm là nơi tập trung của các cơ quan lãnh đạo kháng chiến Sài Gòn - Chợ Lớn và Khu 7; nơi thành lập và đóng quân của Trung đoàn 306 (Trung đoàn Phạm Hồng Thái, trung đoàn chủ lực đầu tiên của Sài Gòn - Gia Định, thành lập 19.5.1947); Trung đoàn 308 (tiền thân là Chi đội 15). Thực dân Pháp nhiều lần tiến công Căn cứ vườn thơm nhưng với cách đánh mưu trí sáng tạo, các lực lượng bảo vệ căn cứ đã ngăn chặn có hiệu quả các cuộc hành quân càn quét, gây cho địch nhiều thiệt hại. Điển hình như trận Láng Le (15.4.1948), quân địch huy động trên 3.000 quân với mục tiêu phá rã khu căn cứ. Mặc dù lực lượng vũ trang của ta lúc bấy giờ còn mỏng, vũ khí trang bị thô sơ nhưng ta đã bẻ gãy trận càn của địch, diệt hơn 300 địch. Từ Căn cứ vườn thơm, bộ đội chủ lực quân khu, du kích tập trung Trung Quận, Quốc vệ đội Sài Gòn - Chợ Lớn tổ chức nhiều trận tiến công vào Sài Gòn - Chợ Lớn, diệt nhiều sinh lực địch, hỗ trợ đắc lực phong trào đấu tranh cách mạng của nhân dân địa phương.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Hoạt động==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Trong kháng chiến chống Mỹ, đồng bào và du kích Vườn Thơm tham gia vận chuyển vũ khí từ Chiến khu Rừng Sác về tập kết tại Bà Vụ, phục vụ cho các lực lượng vũ trang quân khu. Đây cũng là nơi đào tạo hàng nghìn cán bộ quân sự, chính trị đảm bảo cho nội thành và ven đô. Sau Đồng khởi năm 1960, Căn cứ vườn thơm tiếp tục trở thành nơi tiếp tế lượng thực, hậu cần, là bàn đạp của lực lượng vũ trang giải phóng Long An - Sài Gòn - Gia Định; là nơi đứng chân của Tiểu đoàn 6 và các đơn vị biệt động Sài Gòn. Giai đoạn 1969-1971, địch liên tục đánh phá ác liệt nhằm biến Căn cứ vườn thơm thành vùng trắng. Các lực lượng vũ trang cách mạng vẫn trụ bám kiên cường chiến đấu, kìm giữ một bộ phận lực lượng của địch. Từ Căn cứ vườn thơm, nhiều đơn vị Quân giải phóng đã xuất phát tham gia Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân (1968), Tổng tiến công và nổi dậy Xuân 1975, góp phần vào thắng lợi giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Năm 2003, khu di tích Láng Le - Bàu Cò thuộc Căn cứ vườn thơm được Uỷ ban Nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh công nhận di tích lịch sử cấp thành phố. (1.189 chữ)&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Tài liệu tham khảo==&lt;br /&gt;
# ''Chợ Lớn-Lịch sử chín năm kháng chiến (1945 – 1954)'', Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội 1995.&lt;br /&gt;
# ''Chiến khu miền Đông Nam bộ(1945 – 1954)'', Nxb Thành phố Hồ Chí Minh, 1996.&lt;br /&gt;
# Bộ Tổng Tham mưu, ''Chiến tranh du kích trong kháng chiến chống thực dân Pháp'', 1945-1954, Nxb Quân đội Nhân dân, Hà Nội, 1998.&lt;br /&gt;
# ''Lực lượng vũ trang Thành phố Hồ Chí Minh 1945 – 1975'', Nxb Quân đội Nhân dân, Hà Nội, 1998.&lt;br /&gt;
# ''Lực lượng vũ trang huyện Bình Chánh 1945 – 2000'', Nxb Thành phố Hồ Chí Minh, 2003.&lt;br /&gt;
# Chiến khu Láng Le - Bàu Cò, Căn cứ Vườn Thơm - http://www.hochiminhcity.gov.vn/gioithieu&lt;/div&gt;</summary>
		<author><name>Diemquynh834</name></author>
	</entry>
	<entry>
		<id>https://bktt.vn/index.php?title=C%C3%A1ch_m%E1%BA%A1ng_d%C3%A2n_t%E1%BB%99c_d%C3%A2n_ch%E1%BB%A7_nh%C3%A2n_d%C3%A2n&amp;diff=22479</id>
		<title>Cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân</title>
		<link rel="alternate" type="text/html" href="https://bktt.vn/index.php?title=C%C3%A1ch_m%E1%BA%A1ng_d%C3%A2n_t%E1%BB%99c_d%C3%A2n_ch%E1%BB%A7_nh%C3%A2n_d%C3%A2n&amp;diff=22479"/>
		<updated>2023-01-12T09:22:15Z</updated>

		<summary type="html">&lt;p&gt;Diemquynh834: &lt;/p&gt;
&lt;hr /&gt;
&lt;div&gt;{{sơ}}'''Cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân''' là cuộc cách mạng xã hội diễn ra ở các nước thuộc địa, nửa thuộc địa, do chính đảng của giai cấp công nhân lãnh đạo, nhằm lật đổ ách thống trị của chủ nghĩa thực dân và chế độ phong kiến, giành độc lập dân tộc, xóa bỏ mọi tàn tích của chế độ phong kiến, đem lại ruộng đất cho nông dân, xây dựng chế độ dân chủ nhân dân và quá độ lên chủ nghĩa xã hội.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân được nổ ra từ những năm cuối Chiến tranh thế giới lần thứ Hai ở các nước châu Âu, châu Á, sau phát triển ra ở các nước châu Phi và châu Mỹ Latin, trở thành những cuộc cách mạng tiến bộ và mang tính nhân dân rộng rãi. Lực lượng nòng cốt tiến hành Cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân là giai cấp công nhân, giai cấp nông dân và các tầng lớp nhân dân tiến bộ cách mạng; tầng lớp tiểu tư sản, thợ thủ công, những người sản xuất nhỏ, những nhà tư sản dân tộc và các tầng lớp trí thức tiến bộ... là lực lượng tham gia, tập hợp trong một mặt trận dân tộc thống nhất. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Trong tiến trình Cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, mục tiêu giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp và dân chủ luôn được đặt ra nhưng ưu tiên thực hiện có khác nhau do hoàn cảnh lịch sử, giai cấp và xã hội từng nước quy định. Mục tiêu, nhiệm vụ dân tộc luôn được đặt lên hàng đầu; quyết định đến sự độc đáo của cách mạng ở các nước thuộc địa và nửa thuộc địa. Mục tiêu dân tộc không chỉ tác động đến công nhân, nông dân, tiểu tư sản, tư sản, địa chủ trong cuộc đấu tranh vì độc lập, tự do cho dân tộc mà còn tạo tiền đề và điều kiện thuận lợi cho việc thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ dân chủ của cách mạng.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân lúc đầu là các cuộc cách mạng dân chủ chống đế quốc, phong kiến, nhưng trong tiến trình cách mạng thực hiện nhiệm vụ giải phóng dân tộc có tính chất dân chủ chung thì chuyển thành cách mạng xã hội chủ nghĩa. Do đó, các cuộc Cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân trên thế giới thường trải qua hai giai đoạn. Giai đoạn thứ nhất tập trung giải quyết vấn đề chống đế quốc xâm lược, thủ tiêu ách thống trị của thực dân, phong kiến giành chính quyền về tay nhân dân, thiết lập nhà nước dân chủ nhân dân, lấy liên minh công - nông làm nền tảng. Giai đoạn thứ hai có nhiệm vụ giải quyết những vấn đề dân chủ và đấu tranh chống lại mọi phản kháng của các thế lực thù địch; xây dựng và bảo vệ chính quyền mới, chế độ mới. Trong giai đoạn này, giai cấp lãnh đạo cách mạng thực hiện các chức năng chuyên chính của mình, kể cả sử dụng các hình thức đấu tranh vũ trang và phi vũ trang để bảo vệ độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ quốc gia, bảo vệ thành quả cách mạng. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Cách mạng Việt Nam từ năm 1930 đến năm 1975 là Cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân. Ngay từ khi mới ra đời (3.2.1930), Chính cương vắn tắt và Sách lược vắn tắt, Đảng Cộng sản Việt Nam đã chủ chương “làm tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng để đi tới xã hội cộng sản”. Luận cương chính trị tháng 10.1930 tiếp tục chỉ rõ: lúc đầu cách mạng Đông Dương là cách mạng tư sản dân quyền, cách mạng tư sản dân quyền là thời kỳ dự bị, sau khi giai cấp vô sản lớn mạnh, thế giới bước vào thời kỳ cách mạng vô sản sẽ bỏ qua thời kỳ phát triển tư bản chủ nghĩa, tiến thẳng lên giai đoạn cách mạng xã hội chủ nghĩa; nhiệm vụ của cách mạng là đánh đổ địa chủ phong kiến, thực hành cách mạng ruộng đất triệt để, đánh đổ đế quốc Pháp, làm cho Đông Dương hoàn toàn độc lập, lập chính quyền công nông, thực hiện dân chủ, cải thiện dân sinh và liên kết với cách mạng thế giới; giai cấp vô sản là động lực chính và là giai cấp lãnh đạo cách mạng; điều kiện cốt yếu cho thắng lợi của cách mạng là phải có một Đảng Cộng sản với đường lối chính trị đúng, kỷ luật tập trung, lấy Chủ nghĩa Mác - Lênin làm nền tảng lãnh đạo giai cấp vô sản đấu tranh để đạt mục đích cuối cùng là chủ nghĩa cộng sản. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Với đường lối đúng đắn, dưới ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, Đảng Cộng sản Việt Nam, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh đã lãnh đạo nhân Việt Nam tiến hành Cách mạng tháng Tám năm 1945, tổng khởi nghĩa giành chính quyền cách mạng, lập nên nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa - nhà nước dân chủ nhân dân đầu tiên ở Đông Nam Á; lãnh đạo cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1945-1954) thắng lợi, đưa miền Bắc đi lên chủ nghĩa xã hội; sau đó tiếp tục lãnh đạo giành thắng lợi trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, đưa Việt Nam bước vào kỷ nguyên độc lập dân tộc, thống nhất và chủ nghĩa xã hội. Cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở Việt Nam trở thành cuộc cách mạng điển hình trong lịch sử, đã và đang cổ vũ phong trào đấu tranh giành độc lập, dân chủ và tiến bộ của các dân tộc trên thế giới.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
== Tài liệu tham khảo ==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
# Bộ Giáo dục và Đào tạo, Trung tâm bồi dưỡng lý luận Mác - Lê Nin, Tìm hiểu một số thuật ngữ, khái niệm trong các môn lý luận Mác - Lê nin, Nxb Tư tưởng - Văn hóa, Hà Nội, 1992.&lt;br /&gt;
# Sổ tay sơ giải một số từ thường dùng, Nxb Sư thật, Hà Nội, 1993, tr. 25.&lt;br /&gt;
# Từ điển Bách khoa thế giới, Nxb Từ điển Bách khoa, 2003, tr. 90.&lt;br /&gt;
# Bộ Quốc phòng, Trung tâm Từ điển bách khoa quân sự, Từ điển Bách khoa quân sự Việt Nam, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2004, tr. 114.&lt;br /&gt;
# Đại tá, Trần Đình Định, Chủ nhiệm Khoa Công tác Đảng, công tác chính trị Học viện Lục quân: Những sáng tạo của Đảng ta trong cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, giá trị lý luận và thực tiễn đối với cách mạng Việt Nam, Tạp chí Nghiên cứu Chiến thuật, chiến dịch, 2010.&lt;br /&gt;
# Ths Vũ Văn Quế: Sử dụng hệ thống thuật ngữ trong dạy học phần đường lối cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân của Đảng Cộng sản Việt Nam, Tạp chí Giáo dục lý luận chính trị quân sự, số 5 (177), 2019.&lt;br /&gt;
# Từ điển Chủ nghĩa cộng sản khoa học, Nxb Tiến bộ Maxcơva, 1986, tr. 17-19.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
[[Thể loại: Quốc phòng]]&lt;/div&gt;</summary>
		<author><name>Diemquynh834</name></author>
	</entry>
	<entry>
		<id>https://bktt.vn/index.php?title=C%C3%A1ch_d%C3%A2n_t%E1%BB%99c_d%C3%A2n_ch%E1%BB%A7_nh%C3%A2n_d%C3%A2n&amp;diff=22478</id>
		<title>Cách dân tộc dân chủ nhân dân</title>
		<link rel="alternate" type="text/html" href="https://bktt.vn/index.php?title=C%C3%A1ch_d%C3%A2n_t%E1%BB%99c_d%C3%A2n_ch%E1%BB%A7_nh%C3%A2n_d%C3%A2n&amp;diff=22478"/>
		<updated>2023-01-12T09:21:01Z</updated>

		<summary type="html">&lt;p&gt;Diemquynh834: Diemquynh834 đã đổi Cách dân tộc dân chủ nhân dân thành Cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân: thiếu &lt;/p&gt;
&lt;hr /&gt;
&lt;div&gt;#đổi [[Cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân]]&lt;/div&gt;</summary>
		<author><name>Diemquynh834</name></author>
	</entry>
	<entry>
		<id>https://bktt.vn/index.php?title=C%C3%A1ch_m%E1%BA%A1ng_d%C3%A2n_t%E1%BB%99c_d%C3%A2n_ch%E1%BB%A7_nh%C3%A2n_d%C3%A2n&amp;diff=22477</id>
		<title>Cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân</title>
		<link rel="alternate" type="text/html" href="https://bktt.vn/index.php?title=C%C3%A1ch_m%E1%BA%A1ng_d%C3%A2n_t%E1%BB%99c_d%C3%A2n_ch%E1%BB%A7_nh%C3%A2n_d%C3%A2n&amp;diff=22477"/>
		<updated>2023-01-12T09:21:01Z</updated>

		<summary type="html">&lt;p&gt;Diemquynh834: Diemquynh834 đã đổi Cách dân tộc dân chủ nhân dân thành Cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân: thiếu &lt;/p&gt;
&lt;hr /&gt;
&lt;div&gt;{{sơ}}'''Cách dân tộc dân chủ nhân dân''' cách mạng xã hội diễn ra ở các nước thuộc địa, nửa thuộc địa, do chính đảng của giai cấp công nhân lãnh đạo, nhằm lật đổ ách thống trị của chủ nghĩa thực dân và chế độ phong kiến, giành độc lập dân tộc, xóa bỏ mọi tàn tích của chế độ phong kiến, đem lại ruộng đất cho nông dân, xây dựng chế độ dân chủ nhân dân và quá độ lên chủ nghĩa xã hội.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân được nổ ra từ những năm cuối Chiến tranh thế giới lần thứ Hai ở các nước châu Âu, châu Á, sau phát triển ra ở các nước châu Phi và châu Mỹ Latin, trở thành những cuộc cách mạng tiến bộ và mang tính nhân dân rộng rãi. Lực lượng nòng cốt tiến hành Cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân là giai cấp công nhân, giai cấp nông dân và các tầng lớp nhân dân tiến bộ cách mạng; tầng lớp tiểu tư sản, thợ thủ công, những người sản xuất nhỏ, những nhà tư sản dân tộc và các tầng lớp trí thức tiến bộ... là lực lượng tham gia, tập hợp trong một mặt trận dân tộc thống nhất. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Trong tiến trình Cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, mục tiêu giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp và dân chủ luôn được đặt ra nhưng ưu tiên thực hiện có khác nhau do hoàn cảnh lịch sử, giai cấp và xã hội từng nước quy định. Mục tiêu, nhiệm vụ dân tộc luôn được đặt lên hàng đầu; quyết định đến sự độc đáo của cách mạng ở các nước thuộc địa và nửa thuộc địa. Mục tiêu dân tộc không chỉ tác động đến công nhân, nông dân, tiểu tư sản, tư sản, địa chủ trong cuộc đấu tranh vì độc lập, tự do cho dân tộc mà còn tạo tiền đề và điều kiện thuận lợi cho việc thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ dân chủ của cách mạng.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân lúc đầu là các cuộc cách mạng dân chủ chống đế quốc, phong kiến, nhưng trong tiến trình cách mạng thực hiện nhiệm vụ giải phóng dân tộc có tính chất dân chủ chung thì chuyển thành cách mạng xã hội chủ nghĩa. Do đó, các cuộc Cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân trên thế giới thường trải qua hai giai đoạn. Giai đoạn thứ nhất tập trung giải quyết vấn đề chống đế quốc xâm lược, thủ tiêu ách thống trị của thực dân, phong kiến giành chính quyền về tay nhân dân, thiết lập nhà nước dân chủ nhân dân, lấy liên minh công - nông làm nền tảng. Giai đoạn thứ hai có nhiệm vụ giải quyết những vấn đề dân chủ và đấu tranh chống lại mọi phản kháng của các thế lực thù địch; xây dựng và bảo vệ chính quyền mới, chế độ mới. Trong giai đoạn này, giai cấp lãnh đạo cách mạng thực hiện các chức năng chuyên chính của mình, kể cả sử dụng các hình thức đấu tranh vũ trang và phi vũ trang để bảo vệ độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ quốc gia, bảo vệ thành quả cách mạng. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Cách mạng Việt Nam từ năm 1930 đến năm 1975 là Cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân. Ngay từ khi mới ra đời (3.2.1930), Chính cương vắn tắt và Sách lược vắn tắt, Đảng Cộng sản Việt Nam đã chủ chương “làm tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng để đi tới xã hội cộng sản”. Luận cương chính trị tháng 10.1930 tiếp tục chỉ rõ: lúc đầu cách mạng Đông Dương là cách mạng tư sản dân quyền, cách mạng tư sản dân quyền là thời kỳ dự bị, sau khi giai cấp vô sản lớn mạnh, thế giới bước vào thời kỳ cách mạng vô sản sẽ bỏ qua thời kỳ phát triển tư bản chủ nghĩa, tiến thẳng lên giai đoạn cách mạng xã hội chủ nghĩa; nhiệm vụ của cách mạng là đánh đổ địa chủ phong kiến, thực hành cách mạng ruộng đất triệt để, đánh đổ đế quốc Pháp, làm cho Đông Dương hoàn toàn độc lập, lập chính quyền công nông, thực hiện dân chủ, cải thiện dân sinh và liên kết với cách mạng thế giới; giai cấp vô sản là động lực chính và là giai cấp lãnh đạo cách mạng; điều kiện cốt yếu cho thắng lợi của cách mạng là phải có một Đảng Cộng sản với đường lối chính trị đúng, kỷ luật tập trung, lấy Chủ nghĩa Mác - Lênin làm nền tảng lãnh đạo giai cấp vô sản đấu tranh để đạt mục đích cuối cùng là chủ nghĩa cộng sản. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Với đường lối đúng đắn, dưới ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, Đảng Cộng sản Việt Nam, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh đã lãnh đạo nhân Việt Nam tiến hành Cách mạng tháng Tám năm 1945, tổng khởi nghĩa giành chính quyền cách mạng, lập nên nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa - nhà nước dân chủ nhân dân đầu tiên ở Đông Nam Á; lãnh đạo cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1945-1954) thắng lợi, đưa miền Bắc đi lên chủ nghĩa xã hội; sau đó tiếp tục lãnh đạo giành thắng lợi trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, đưa Việt Nam bước vào kỷ nguyên độc lập dân tộc, thống nhất và chủ nghĩa xã hội. Cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở Việt Nam trở thành cuộc cách mạng điển hình trong lịch sử, đã và đang cổ vũ phong trào đấu tranh giành độc lập, dân chủ và tiến bộ của các dân tộc trên thế giới.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
== Tài liệu tham khảo ==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
# Bộ Giáo dục và Đào tạo, Trung tâm bồi dưỡng lý luận Mác - Lê Nin, Tìm hiểu một số thuật ngữ, khái niệm trong các môn lý luận Mác - Lê nin, Nxb Tư tưởng - Văn hóa, Hà Nội, 1992.&lt;br /&gt;
# Sổ tay sơ giải một số từ thường dùng, Nxb Sư thật, Hà Nội, 1993, tr. 25.&lt;br /&gt;
# Từ điển Bách khoa thế giới, Nxb Từ điển Bách khoa, 2003, tr. 90.&lt;br /&gt;
# Bộ Quốc phòng, Trung tâm Từ điển bách khoa quân sự, Từ điển Bách khoa quân sự Việt Nam, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2004, tr. 114.&lt;br /&gt;
# Đại tá, Trần Đình Định, Chủ nhiệm Khoa Công tác Đảng, công tác chính trị Học viện Lục quân: Những sáng tạo của Đảng ta trong cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, giá trị lý luận và thực tiễn đối với cách mạng Việt Nam, Tạp chí Nghiên cứu Chiến thuật, chiến dịch, 2010.&lt;br /&gt;
# Ths Vũ Văn Quế: Sử dụng hệ thống thuật ngữ trong dạy học phần đường lối cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân của Đảng Cộng sản Việt Nam, Tạp chí Giáo dục lý luận chính trị quân sự, số 5 (177), 2019.&lt;br /&gt;
# Từ điển Chủ nghĩa cộng sản khoa học, Nxb Tiến bộ Maxcơva, 1986, tr. 17-19.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
[[Thể loại: Quốc phòng]]&lt;/div&gt;</summary>
		<author><name>Diemquynh834</name></author>
	</entry>
	<entry>
		<id>https://bktt.vn/index.php?title=%C3%81o_tr%E1%BA%A5n_th%E1%BB%A7&amp;diff=22476</id>
		<title>Áo trấn thủ</title>
		<link rel="alternate" type="text/html" href="https://bktt.vn/index.php?title=%C3%81o_tr%E1%BA%A5n_th%E1%BB%A7&amp;diff=22476"/>
		<updated>2023-01-12T09:09:46Z</updated>

		<summary type="html">&lt;p&gt;Diemquynh834: Tạo trang mới với nội dung “Áo trấn thủ {{sơ}}'''Áo trấn thủ''' là áo bông chần ngắn đến thắt lưng, cổ khoét tròn, th…”&lt;/p&gt;
&lt;hr /&gt;
&lt;div&gt;[[File:Áo trấn thủ.jpg|thumb|Áo trấn thủ]]&lt;br /&gt;
{{sơ}}'''Áo trấn thủ''' là áo bông chần ngắn đến thắt lưng, cổ khoét tròn, thường không có tay.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Thời kì đầu của cuộc Kháng chiến chống Pháp, công tác bảo đảm quân nhu nói chung, bảo đảm quân trang nói riêng của quân đội ta còn nhiều khó khăn, trang phục của bộ đội không thống nhất, mỗi người một kiểu. Để giúp giữ ấm cho chiến sĩ trong mùa đông, tháng 10.1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh phát động phong trào may áo rét cho bộ đội. Ngày 25.10.1946, Ủy ban vận động “Mùa đông binh sĩ” ở Trung ương và các địa phương được thành lập. Trong buổi lễ đầu tiên phát động phong trào “Mùa đông binh sĩ” do Hội Liên hiệp quốc dân Việt Nam tổ chức chiều ngày 17.11.1946 tại Nhà hát lớn Hà Nội, Chủ tịch Hồ Chí Minh đến dự và đã góp vào quỹ chiếc áo sợi duy nhất của mình và một bộ quần áo. Cũng chính trong phong trào “Mùa đông binh sĩ”, Quân nhu cục cùng với các nhà may ở phố Hàng Trống (Hà Nội) đã nghiên cứu, sản xuất ra Áo trấn thủ. Mẫu đầu tiên may chần bằng chỉ thành các hình thoi, có cúc (dây) cài (buộc) một bên vai và một bên sườn.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Áo trấn thủ ra đời đã nhanh chóng được cán bộ, chiến sĩ Vệ quốc đoàn và nhân dân ưa chuộng sử dụng. Trong Kháng chiến chống Pháp, phong trào toàn dân may Áo trấn thủ ủng hộ bộ đội diễn ra sôi nổi, mạnh mẽ và đã trở thành một cuộc vận động quần chúng rộng lớn trên cả nước.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Áo trấn thủ mặc ôm sát người, vừa ấm, vừa tiện cho chiến sĩ trong sinh hoạt và chiến đấu trong mùa đông. Trong quá trình sử dụng, mẫu Áo trấn thủ ban đầu nhiều lần được cải tiến, hoàn chỉnh. Đến cuối năm 1952 có thêm loại Áo trấn thủ dài tay; về sau còn có thêm loại cài cúc ở phía trước ngực, tuy nhiên loại không có tay vẫn thông dụng, rất thuận tiện cho sử dụng.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Chiếc Áo trấn thủ đã trở thành hình ảnh đẹp về Anh Bộ đội Cụ Hồ, để lại dấu ấn đẹp trong lòng nhân dân Việt Nam về một thời oanh liệt chống thực dân Pháp xâm lược, đồng thời cũng để lại nhiều câu chuyện đẹp trong mối quan hệ giữa cán bộ và chiến sĩ Quân đội nhân dân Việt Nam, trong tình yêu thương của Chủ tịch Hồ Chí Minh với bộ đội và nhân dân.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Hiện nay, Áo trấn thủ vẫn được sử dụng trong lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam. (408 chữ)&lt;br /&gt;
 &lt;br /&gt;
==Tài liệu tham khảo==&lt;br /&gt;
#	Tổng cục Hậu cần, ''Lịch sử Hậu Cần Quân đội nhân dân Việt Nam'', Nxb Quân đội Nhân dân,  Hà Nội, 1995.&lt;br /&gt;
#	Tổng cục Hậu cần, ''Lịch sử Quân nhu Quân đội nhân dân Việt Nam'', Nxb Quân đội Nhân dân,  Hà Nội, 1998.&lt;br /&gt;
#	Bộ Quốc phòng - Trung tâm Từ điển Bách khoa quân sự, ''Từ điển Bách khoa quân sự'', Nxb Quân đội Nhân dân,  Hà Nội, 2005 .&lt;br /&gt;
#	Bộ Quốc phòng - Trung tâm Từ điển Bách khoa quân sự, ''Từ điển Thuật ngữ quân sự'', Nxb Quân đội Nhân dân,  Hà Nội, 2007.&lt;br /&gt;
#	Tổng cục Hậu cần, ''Từ điển Hậu cần quân sự'', Nxb Quân đội Nhân dân,  Hà Nội, 2009.&lt;br /&gt;
#	Tổng cục Hậu cần, ''Tạp chí hậu cần quân đội'', Nxb Quân đội Nhân dân,  Hà Nội, 2010.&lt;/div&gt;</summary>
		<author><name>Diemquynh834</name></author>
	</entry>
	<entry>
		<id>https://bktt.vn/index.php?title=Christianan_Drumond_Mogan_(1897_-_1976)&amp;diff=22475</id>
		<title>Christianan Drumond Mogan (1897 - 1976)</title>
		<link rel="alternate" type="text/html" href="https://bktt.vn/index.php?title=Christianan_Drumond_Mogan_(1897_-_1976)&amp;diff=22475"/>
		<updated>2023-01-12T08:06:23Z</updated>

		<summary type="html">&lt;p&gt;Diemquynh834: Tạo trang mới với nội dung “Christianan Drumond Mogan (1897 - 1976) {{sơ}}'''Christianan Drumond Mogan (1897 - 1976)''' l…”&lt;/p&gt;
&lt;hr /&gt;
&lt;div&gt;[[File:Christianan Drumond Mogan (1897 - 1976).jpg|thumb|Christianan Drumond Mogan (1897 - 1976)]]&lt;br /&gt;
{{sơ}}'''Christianan Drumond Mogan (1897 - 1976)''' là bác sĩ lâm sàng người Mỹ, nhà phân tâm học người đồng sáng tạo Trắc nghiệm đánh giá TAT. Morgan là một nghệ sĩ, nhà văn nhưng bị mê hoặc bởi tâm lý học. Một người đã đóng góp quan trọng cho trị liệu hành vi. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Tuổi thơ và gia đình==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Christiana Morgan sinh ra ở Boston, Massachusetts vào ngày 6 tháng 10 năm 1897. Morgan là con thứ hai trong gia đình có ba cô con gái của William và Isabella. Bố William của Morgam là Ủy viên hội đồng, một bác sĩ, giáo sư tại Trường Harvard Medical. Christiana và các chị gái của cô cũng như nhiều cô gái con gia đình khá giả khác đã được nuôi dưỡng trong điều kiện tốt và học trường tư. Cô theo học tại trường Miss Winsor dành cho nữ sinh ở Boston từ năm 1908 đến 1914 và sau đó là trường nội trú ở Farmington, Connecticut.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Cô đã đến New York, nơi cô đăng ký học trong một chương trình điều dưỡng. Morgan được đào tạo thành trợ lý y tá tại YWCA ở thành phố New York và làm y tá trong đại dịch cúm năm 1918.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Năm 1917 cô gặp William Morgan, một sinh viên Đại học Harvard. Họ đã đính hôn ngay trước khi anh ta đi chiến đấu trong Chiến tranh thế giới thứ nhất. Khi chiến tranh kết thúc, William Morgan trở lại và hai người đã kết hôn vào năm 1919. Một năm sau Christiana Morgan đã sinh con trai Thomas.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Từ 1921 đến 1924 Morgan học nghệ thuật tại Liên đoàn nghệ thuật sinh viên New York cùng với Frank DuMond, Guy Pène du Bois và Leo Lentelli.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Bắt đầu sự nghiệp==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Vào những năm 1920, Morgan đã tới Zurich để hỏi ý kiến Carl Jung - Bác sĩ tâm thần và là cựu học trò của S. Freud. Khi Jung gặp Morgan, ông coi cô là biểu hiện của một người truyền cảm hứng nữ tính hoàn hảo, có vai trò là một nàng thơ cho những người đàn ông tuyệt vời. Jung đã tiến hành một cuộc hội thảo được gọi là “Hội thảo về tầm nhìn” phân tích nhiều bản vẽ và giấc mơ của Morgan. Morgan đã tạo ra những viễn cảnh huyền thoại và được ghi lại trong “cuộc đấu tranh của Morgan với các thế lực nữ tính và nam tính trong thế giới của cô”.&lt;br /&gt;
 &lt;br /&gt;
Năm 1923, Morgan gặp và yêu Henry Murray, sau này là nhà hóa sinh tại Đại học Rockefeller New York, giáo sư tâm lý học tại Đại học Harvard. Anh đã kết hôn được 7 năm và không muốn bỏ vợ. Khi Murray trải qua một cuộc xung đột nội tâm nghiêm trọng, Morgan khuyên anh nên đến thăm Jung. Năm 1927, họ đến thăm Jung ở Zürich và theo lời khuyên của Jung, anh và Morgan đã trở thành một yếu tố “để mở khóa vô thức”.   &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Trong những năm 1930, Murray và Morgan là một phần của nhóm thực nghiệm Tâm lý học tại Phòng khám bệnh Harvard. Sau đó, Morgan được đặt tên cho nghiên cứu Radcliffe - một danh hiệu cô giữ cho phần còn lại của sự nghiệp.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Đồng sáng tạo Trắc nghiệm tâm lý phóng chiếu (TAT)==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Phân tích của Morgan với Jung đã dẫn đến một loạt đánh giá, tầm nhìn về mối quan hệ có kinh nghiệm trong trạng thái bán thôi miên. Jung khuyến khích Morgan vẽ những hình tượng mà ông đã sử dụng nghiên cứu liên tục về tâm trí vô thức. Tầm nhìn cuối cùng của Morgan đã trở nên ít hứng thú về tâm lý với Jung, nhưng kinh nghiệm của cô ấy tạo tiền đề cho những gì cô và Murray cùng nhau phát triển Trắc nghiệm tâm lý vào những năm 1930 (Trắc nghiệm phóng chiếu) - Trắc nghiệm TAT (Thematic Apperception Test). &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Năm 1934, Morgan đã hợp tác để phát triển Trắc nghiệm tâm lý với Murray - Trắc nghiệm tâm lý phóng chiếu (TAT) để khơi gợi sự tưởng tượng và nó vẫn còn được sử dụng cho đến ngày nay. TAT bao gồm một loạt các hình ảnh. Trắc nghiệm yêu cầu một người (nghiệm thể) tạo nên một câu chuyện về mỗi hình ảnh. Trong sự phát triển ban đầu của trắc nghiệm, nhiều bản vẽ của Morgan đã được đưa vào. Cô là tác giả đầu tiên cùng với Henry Murray trong ấn phẩm đầu tiên của trắc nghiệm vào cuối năm 1941. Trắc nghiệm này được gọi là “Trắc nghiệm đánh giá chủ đề Morgan - Murray”.  Khi phiên bản của trắc nghiệm được xuất bản bởi Nhà xuất bản Đại học Harvard vào năm 1943, quyền tác giả được quy cho “Henry A. Murray, MD - Nhân viên của Phòng khám Tâm lý Harvard”. Khi nó được phát triển thêm, hình ảnh của Morgan đã được đưa ra ngoài cũng như đồng tác giả của trắc nghiệm.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
TAT gồm một loạt các hình ảnh (Trắc nghiệm này ngày nay 31 hình ảnh). Mỗi bức tranh mô tả một cá nhân và vấn đề giữa người với người. Người thực hiện trắc nghiệm được yêu cầu tạo một câu chuyện kể ngắn đi cùng với mỗi bức tranh. Hình ảnh khác nhau có thể được sử dụng cho nam giới, phụ nữ và trẻ em. Ý tưởng đằng sau TAT là mỗi người sáng tác một câu chuyện đi kèm với mỗi bức tranh sẽ vô thức tiết lộ thông tin mà mình đã chia sẻ. Dựa trên thông tin này, nhà tâm lý học có thể xác định một số động lực của cá nhân.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Sức khỏe và cái chết==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Trong ba thập kỷ tiếp theo, Morgan vẫn tiếp tục làm việc tại Harvard, mặc dù Morgan đã bị ảnh hưởng bởi một số vấn đề sức khỏe. Huyết áp của cô rất cao và nguy hiểm. Morgan phải trải qua một hoạt động được gọi là cắt bỏ giao cảm triệt để, cắt đứt hệ thống thần kinh giao cảm của cơ thể từ tủy sống. Trong những năm sau đó, Morgan đã bị nghiện rượu. Giữa thập niên 1960, Murray trở nên say mê với một người phụ nữ trẻ hơn, mặc dù anh không phá vỡ mối quan hệ của mình với Morgan. Điều này làm cho Morgan khủng hoảng tâm lý nhiều hơn.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Sau cuộc phẫu thuật cắt bỏ giao cảm triệt để vì huyết áp cao và nhiều năm uống quá nhiều, Morgan qua đời ở tuổi 69 tại Vịnh Denis, Saint John, Quần đảo Virgin thuộc Hoa Kỳ vào ngày 14 tháng 3 năm 1967. Murray tìm thấy xác cô gần bãi biển, bị chết đuối. Có nhiều tranh cãi về cái chết của cô liên quan đến mâu thuẫn với Murray và nghi ngờ rằng Morgan có thể đã chết vì tự tử. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Có thể nói, Morgan là một nghệ sĩ, nhà văn, nhưng cô đã dành một tình yêu lớn, một sự đam mê cho Tâm lý học. Morgan đã là một trong những người tạo nên một trắc nghiệm Tâm lý học nổi tiếng mà nó vẫn được sử dụng ở nhiều nước trên thế giới hiện nay - Trắc nghiệm tâm lý phóng chiếu TAT.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Trắc nghiệm TAT đã được sử dụng trong nhiều nghiên cứu ở Việt Nam. Nó cũng trở thành cảm hứng cho đề tài của một số luận án Tiến sĩ Tâm lý học tại Việt Nam.&lt;br /&gt;
                                                                                                        &lt;br /&gt;
==Tài liệu tham khảo==&lt;br /&gt;
# Vũ Dũng (Chủ biên), ''Từ điển Tâm lý học'', Nxb. Từ điển bách khoa, 2008, tr. 158 - 159.&lt;br /&gt;
# Douglas, C., ''Translate This Darkness: The Life of Christiana Morgan the Veiled Woman in Jung's Circle, Princeton, NJ: Princeton University Press, 1993.&lt;br /&gt;
# Kazdin A.E. (Editor in chief), ''Encyclopedia of Psychology: 8 volume set'', APA Publishing, Oxford Univer''ty Press, Vol. 7, 2000, pp. 87 - 91.&lt;br /&gt;
# Strickland B. (Executive editor), ''The Gale Encyclopedia of Psychology'', Gale Group, 2001, pp. 199.&lt;br /&gt;
# Freedheim D.K.,'' Handbook of Psychology'', Vol. 1, History of Psychology, John Wiley &amp;amp; Sons, 2003, pp. 124 - 125. &lt;br /&gt;
# W. Edward Craighead and Charles B. Nemeroff (Editors), ''The Concise Corsini Encyclopedia of Psychology and Behavioral Science'', Published by John Wiley &amp;amp; Sons, Inc, Hoboken, New Jersey, Third edition, 2004, pp. 156 - 157.&lt;/div&gt;</summary>
		<author><name>Diemquynh834</name></author>
	</entry>
	<entry>
		<id>https://bktt.vn/index.php?title=Ch%E1%BB%A7_ngh%C4%A9a_li%C3%AAn_k%E1%BA%BFt&amp;diff=22474</id>
		<title>Chủ nghĩa liên kết</title>
		<link rel="alternate" type="text/html" href="https://bktt.vn/index.php?title=Ch%E1%BB%A7_ngh%C4%A9a_li%C3%AAn_k%E1%BA%BFt&amp;diff=22474"/>
		<updated>2023-01-12T07:58:39Z</updated>

		<summary type="html">&lt;p&gt;Diemquynh834: Tạo trang mới với nội dung “{{sơ}}'''Chủ Nghĩa liên kết/Chủ nghĩa hiệp hội''' là học thuyết về sự liên kết các ý tưởng và cho rằng các ý tưởng…”&lt;/p&gt;
&lt;hr /&gt;
&lt;div&gt;{{sơ}}'''Chủ Nghĩa liên kết/Chủ nghĩa hiệp hội''' là học thuyết về sự liên kết các ý tưởng và cho rằng các ý tưởng được nhóm lại hoặc liên kết lại với nhau theo những cách thức có thể giải thích được.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Các nhà liên kết học cho rằng bản thân kiến thức được thu nhận thông qua việc thiết lập các kết nối liên kết. Sự tiến hóa của các năng lực tinh thần về mặt cá thể và mặt loài đều được liên kết để hình thành và duy trì các mẫu liên kết phức tạp giữa các ý tưởng hoặc đơn vị thông tin. Ngay cả những sinh vật rất nguyên thủy như trùng Amip đã học cách liên kết các kích thích hóa học với các điều kiện sống như một kiểu học tập có điều kiện. Các động vật có vú phát triển cao nhất về mặt học tập xã hội. Chẳng hạn như cá heo, cá voi, voi và động vật linh trưởng bậc cao khác có thể xử lý thông tin nhằm chuyển đổi vai trong mối quan hệ giữa bản thân chúng và đồng loại. Đây chính là điều cơ bản làm cho cơ thể có thể phân cấp trạng thái và tệp đính kèm.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Chủ nghĩa liên kết bao hàm sự liên kết của các ý tưởng biến nó thành một tài khoản có hệ thống chung của tâm trí hoặc hành vi. Học thuyết này cho rằng các quá trình tinh thần có thể được giải thích bằng sự liên kết của các ý tưởng được phát triển bởi những thành tựu của các nhà triết học Anh thế kỷ XVIII - XIX và dựa vào đó để dự báo sự phát triển tâm lý học hiện đại. Trong bối cảnh chủ nghĩa kinh nghiệm phản ứng chống lại triết lý bẩm sinh của Platon cho rằng ý tưởng có sẵn và hoàn toàn xác định. Các nhà liên kết học cho rằng các ý tưởng bắt nguồn từ kinh nghiệm và đi vào tâm trí thông qua các giác quan và các hoạt động liên kết. Học thuyết liên kết có lịch sử khởi đầu bằng các nghiên cứu về mối liên hệ giữa ý tưởng, cảm giác và các kích thích tri giác. Các liên kết cũng có thể tồn tại giữa cảm giác, tri giác với các kích thích và phản ứng hành vi. Ví dụ, một tiếng ồn có thể gây đau tai ở một người dẫn đến sự sợ hãi của họ, sau đó chỉ một tiếng ồn lớn đã có thể dẫn đến sợ hãi ở họ ngay cả khi không trực tiếp gây đau tai. Những liên kết trong tâm trí như vậy được gọi là những liên tưởng.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Nhà triết học John Locke (1632 - 1704) giới thiệu thuật ngữ “liên kết các ý tưởng” trong ấn bản thứ tư trong Tiểu luận của ông về sự hiểu biết của con người (1700), nơi ông mô tả liên kết không có lợi cho tư duy lý trí của con người. George Berkeley (1685 - 1753) - một giám mục người Ireland đã áp dụng các nguyên tắc liên kết để nhận thức chiều sâu thị giác. Ông lập luận rằng khả năng con người nhìn thấy mọi thứ trong không gian ba chiều là kết quả của quá trình học tập chứ không phải là năng lực bẩm sinh. Bác sĩ người Anh David Hartley (1705 - 1757) đã sử dụng thuyết liên kết để xử lý, giải thích các tác động sinh học. Ông đã xây dựng lý thuyết sinh lý thần kinh về sự lan truyền ý tưởng và mô tả hoạt động thể chất theo khuynh hướng liên kết. Hartley cũng đã phát triển lý thuyết toàn diện về chủ nghĩa liên kết bao gồm nhiều lĩnh vực như: trí nhớ, tưởng tượng, ước mơ và đạo đức. Nhà triết học người Scotland David Hume (1711 - 1776) khi nghiên cứu liên kết đã đề xuất nguyên tắc tương đồng và tiếp giáp. Ông khẳng định những ý tưởng tương đối giống nhau hoặc được trải nghiệm đồng thời (hoặc tiếp giáp) thường liên kết với nhau. James và John Stuart Mill (hai nhà triết học/cha và con trai) đã kiểm tra học thuyết liên kết vào thế kỷ XIX. Anh cả Mill đề xuất lý thuyết cơ học về liên kết các ý tưởng với nhau trong “các hợp chất” thông qua nguyên tắc tiếp giáp. Em trai của Mill - người có phép ẩn dụ thì cho rằng sự liên kết của ý tưởng là “hóa học tinh thần”, khác với James cha mình ông đã tuyên bố rằng tâm trí đóng vai trò tích cực hơn là thụ động trong việc hình thành các liên kết. Ông cũng cho rằng các ý tưởng có thể nhiều hơn tổng số các bộ phận của nó. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Một số nhân vật nổi tiếng khác với những quan điểm liên kết ở thế kỷ XIX là Thomas Browne - người đã đề xuất một số quy luật liên kết thứ cấp và Alexander Bain (1818 - 1903) dựa trên quan điểm liên kết đã xây dựng một hệ thống tâm lý toàn diện. Ngoài nguyên tắc giống nhau, nguyên tắc tiếp giáp, một số các nguyên tắc khác cũng đã được đề xuất để giải thích tại sao các ý tưởng trở nên liên kết với nhau như: nguyên tắc tiếp nối thời gian (ý tưởng hoặc cảm giác được hình thành gần nhau về thời gian), nguyên tắc lặp lại (các ý tưởng xảy ra nhiều lần cùng nhau), nguyên tắc truy cập gần nhất (các liên kết được hình thành gần nhất thường dễ nhớ nhất) và nguyên tắc sinh động (những trải nghiệm sống động thường tạo thành những liên kết mạnh).&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Trong thế kỷ XX người thừa kế mạnh nhất đối với chủ nghĩa liên kết là chủ nghĩa hành vi, với các nguyên tắc điều chỉnh dựa trên sự liên kết của các phản hồi với kích thích (sự liên kết của kích thích với củng cố tích cực hoặc tiêu cực). Hơn nữa, giống như thuyết liên kết, chủ nghĩa hành vi nhấn mạnh ảnh hưởng của môi trường (giáo dục) hơn các đặc điểm bẩm sinh (bản chất) tới sự phát triển tâm lý con người.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Cho đến nay lý thuyết này vẫn đang tồn tại đang được sửa đổi và bổ sung thêm với các khái niệm mới cho phù hợp với xã hội hiện đại, chẳng hạn như: khái niệm xử lý phân phối song song. Các lý thuyết khoa học về liên kết đều đã nhấn mạnh mối kết nối giữa hai hoặc nhiều yếu tố tinh thần hoặc giữa các đơn vị thông tin trong tin học. Những liên kết giữa các khái niệm đơn giản để tạo thành hệ thống có ý nghĩa lớn hơn và phức tạp hơn. Các ý tưởng trong tâm trí sau đó được hình thành và được sắp xếp trong các hệ thống phân cấp liên kết đặc biệt. Ví dụ, nếu một vật hình tròn, màu đỏ, kích thước vừa phải với một vị ngọt, mùi thơm và bên trong màu trắng với những hạt đen nằm ở trung tâm, thì đó là một quả táo - một loại trái cây, một loại thực phẩm. Đối với một người đang đói và khi đường huyết thấp anh ta hoàn toàn có thể hình dung ra đó là quả táo và khái niệm quả táo đã xuất hiện trong tâm trí. Khái niệm quả táo với tư cách là nhánh con của một khái niệm lớn là trái cây - đã chuyển tải một hệ thống phân cấp: cụ thể là các khái niệm nhỏ hơn được tích hợp lại trong một khái niệm lớn hơn và chủ đề liên kết tổng thể đã xuất hiện (sắp xếp theo thứ bậc). Các vùng lớn nhất của các kết nối liên kết tạo thành mạng lưới cấp trên; các miền dưới và miền nhỏ hơn của các kết nối tạo thành mạng lưới cấp dưới. Mối liên hệ giữa các khái niệm (ý nghĩa) có thể giải thích những hiện tượng kỳ lạ bằng phương pháp thăm dò kết nối. Một trong những phương pháp thăm dò này được phát triển trong liệu pháp tâm lý là liên tưởng tự do của Sigmund Freud và Josef Breuer tiến hành. Freud đã thay thế gợi ý thôi miên bằng liên tưởng tự do hướng trọng tâm vào các triệu chứng rối loạn thần kinh. Bệnh nhân được yêu cầu tập trung vào thời điểm các triệu chứng này lần đầu tiên xuất hiện, nhưng thay vì nhà phân tâm học kể một câu chuyện thì họ hỏi bệnh nhân về điều gì đang nghĩ đến. Nhà phân tâm đã lắng nghe dòng chảy của những liên tưởng này và tìm cách giải thích nguyên nhân của các triệu chứng bệnh. Theo các nhà phân tâm học bản chất của phương pháp này là kết nối một cách vô thức các ý nghĩ có thể làm cho nguyên nhân của bệnh được ý thức. Nhiều thập kỷ sau đó các thực nghiệm liên kết đã được phát triển trong thực nghiệm đánh giá thời gian phản ứng “tự do” đối với các kích thích ngôn ngữ xác định. Thực nghiệm về ảnh hưởng của bối cảnh đã ảnh hưởng đến các liên kết như thế nào?&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Chủ nghĩa liên kết ngày nay đóng một vai trò hết sức quan trọng trong các lý thuyết nhận thức đặc biệt về trí nhớ và học tập.&lt;br /&gt;
                                                                                            &lt;br /&gt;
==Tài liệu tham khảo==&lt;br /&gt;
# Russell, Bertrand, ''A History of Western Philosophy'', New York: Simon and Schuster, 1945.&lt;br /&gt;
# Schultz, D. P., ''A History of Modern Psychology'', 3rd ed. NewYork: Academic Press, 1981. &lt;br /&gt;
# Raymond J. Corsini, Alan J. Auerbach, ''Concise Encyclopedia of Psychology'', Second edition, 1988.&lt;br /&gt;
# Locke, John, ''An Essay Concerning Human Understanding'', Buffalo: Prometheus Books, 1995.&lt;/div&gt;</summary>
		<author><name>Diemquynh834</name></author>
	</entry>
	<entry>
		<id>https://bktt.vn/index.php?title=Ch%E1%BB%A7_ngh%C4%A9a_kinh_nghi%E1%BB%87m&amp;diff=22473</id>
		<title>Chủ nghĩa kinh nghiệm</title>
		<link rel="alternate" type="text/html" href="https://bktt.vn/index.php?title=Ch%E1%BB%A7_ngh%C4%A9a_kinh_nghi%E1%BB%87m&amp;diff=22473"/>
		<updated>2023-01-12T07:54:30Z</updated>

		<summary type="html">&lt;p&gt;Diemquynh834: Tạo trang mới với nội dung “{{sơ}}'''Chủ nghĩa kinh nghiệm''' là lý thuyết nghiên cứu về hành vi thông qua quan sát trực tiếp hoặc trải nghiệm.   Từ gó…”&lt;/p&gt;
&lt;hr /&gt;
&lt;div&gt;{{sơ}}'''Chủ nghĩa kinh nghiệm''' là lý thuyết nghiên cứu về hành vi thông qua quan sát trực tiếp hoặc trải nghiệm. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Từ góc độ của khoa học tâm lý, chủ nghĩa kinh nghiệm là một phương pháp tiếp cận nhận thức luận cho rằng tất cả kiến thức về các vấn đề thực tế đều phát sinh từ kinh nghiệm hoặc cần phải có kinh nghiệm để xác nhận. Đặc biệt, chủ nghĩa kinh nghiệm phủ nhận khả năng của những ý tưởng bẩm sinh, cho rằng tâm trí khi mới sinh ra giống như một tờ giấy trắng. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Trong suốt thế kỷ XVII và XVIII, chủ nghĩa kinh nghiệm đã được phát triển như một phương pháp tiếp cận triết học có hệ thống trong công trình của John Locke, George Berkeley và David Hume. Những nhà tư tưởng này cũng phát triển lý thuyết về chủ nghĩa kết hợp để giải thích các khái niệm, ngay cả những khái niệm tinh thần phức tạp nhất cũng có thể bắt nguồn từ những trải nghiệm giác quan đơn giản. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Trong tâm lý học, có những cách tiếp cận khác nhau đối với chủ nghĩa kinh nghiệm. Một số phương pháp tiếp cận tâm lý học cho rằng trải nghiệm giác quan là nguồn gốc của mọi kiến thức, sau đó là đặc điểm tính cách, niềm tin, cảm xúc và hành vi. Chủ nghĩa hành vi là ví dụ thuần túy nhất của chủ nghĩa kinh nghiệm theo nghĩa này. Có một số người ủng hộ các cách tiếp cận lý thuyết khác của tâm lý học đối với chủ nghĩa kinh nghiệm. Chẳng hạn như hiện tượng học. Cách tiếp cận này cho rằng định nghĩa kinh nghiệm chỉ là kinh nghiệm cảm tính là quá hẹp. Điều này cho phép họ bác bỏ lập trường rằng tất cả kiến thức phát sinh từ giác quan. Đồng thời họ tuyên bố tuân theo một kiểu chủ nghĩa kinh nghiệm khác.  &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Các nghiên cứu tâm lý học nổi tiếng thường tạo ra các thử nghiệm, thực hiện các cuộc phỏng vấn và khảo sát thực tiễn trong các nghiên cứu điển hình. Đặc điểm phổ biến của cách tiếp cận này là các nhà tâm lý học chờ đợi cho đến khi quan sát được thực hiện trước khi họ rút ra kết luận về những hành vi mà họ quan tâm. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Các nhà khoa học thường cho rằng chủ nghĩa kinh nghiệm thúc đẩy sự hoài nghi lành mạnh. Điều này có nghĩa là họ sẽ không coi điều gì đó là đúng cho đến khi bản thân họ thực hiện quan sát. Cách tiếp cận như vậy có nghĩa là khoa học có thể tự sửa chữa những kết luận sai sót, những người khác có thể kiểm tra bản gốc các ý tưởng để xem chúng có đúng không.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Chủ nghĩa kinh nghiệm là một trong những điểm nổi bật của bất kỳ nỗ lực khoa học nào. Các ngành khác nhau sử dụng các cách tiếp cận khác nhau để đạt được kiến thức. Ví dụ, các nhà triết học sử dụng phương pháp tiên nghiệm thay vì phương pháp thực nghiệm. Trong phương pháp tiên nghiệm, người ta sử dụng lập luận logic, hoàn toàn hợp lý để rút ra kiến thức. Chứng minh hình học là một ví dụ về việc sử dụng phương pháp tiên nghiệm.&lt;br /&gt;
Trong cuộc sống hàng ngày, mọi người chấp nhận những ý tưởng là đúng hoặc sai dựa trên thẩm quyền hoặc dựa trên trực giác. Trong nhiều trường hợp, mọi người hình thành niềm tin, bởi vì những cá nhân là chuyên gia đã đưa ra tuyên bố về một số chủ đề. Ví dụ, trong các vấn đề tôn giáo, nhiều người dựa vào lời khuyên và hướng dẫn của các chức sắc tôn giáo của họ trong việc quyết định cách dẫn dắt cuộc sống của bản thân mình. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Hơn nữa, chúng ta thường tin vào mọi thứ bởi vì chúng có vẻ hiển nhiên về mặt trực giác. Trên thực tế, trực giác có thể rất hữu ích cho một số khía cạnh cuộc sống của chúng ta. Chẳng hạn, như những câu hỏi liên quan đến đạo đức. Các nhà khoa học thích phương pháp thực nghiệm trong công việc của họ. Tuy nhiên, vì các chủ đề khoa học cần được quan sát và đo lường. Khi một cái gì đó không thể được quan sát hoặc đo lường, các nhà khoa học có khả năng kết luận rằng nó nằm ngoài lĩnh vực khoa học, mặc dù nó có thể cực kỳ quan trọng trong một số lĩnh vực khác. &lt;br /&gt;
                                                                                                      &lt;br /&gt;
==Tài liệu tham khảo==&lt;br /&gt;
# Aune, B., ''Rationalism, Empiricism and Pragmatism: An Introduction'', New York: Random House, 1970.&lt;br /&gt;
# Cottingham, J., ''Rationalism'', London: Paladin Books, 1984.&lt;br /&gt;
# Kenny, A., ''Rationalism, Empiricism and Idealism'', Oxford: Oxford University Press, 1986.&lt;br /&gt;
# Grossmann, Reinhardt, ''The Fourth Way: A Theory of Knowledge'', Bloomington: Indiana University Press, 1990.&lt;br /&gt;
# Carruthers, Peter, ''Human Knowledge and Human Nature: A New Introduction to an Ancient Debate'', Oxford, Eng.: Oxford University Press, 1992.&lt;br /&gt;
# Locke, J., ''An Essay on Human Understanding'', ed, Woolhouse, Roger, London: Peguin Books, 1997.&lt;br /&gt;
# Bonnie R., Strickland (Executive editor), ''The Gale Encyclopedia of Psychology'', Second Edition, Gale Group 27500 Drake Rd. Farmington Hills, MI 48331-3535, 2001.&lt;br /&gt;
# Freedheim D.K., ''Handbook of Psychology'', Vol. 1, History of Psychology, John Wiley &amp;amp; Sons, 2003, pp. 124 - 125. &lt;br /&gt;
# W. Edward Craighead and Charles B. Nemeroff (Editors), ''The Concise Corsini Encyclopedia of Psychology and Behavioral Science'', Published by John Wiley &amp;amp; Sons, Inc, Hoboken, New Jersey, Third edition, 2004, pp. 156 - 157.&lt;/div&gt;</summary>
		<author><name>Diemquynh834</name></author>
	</entry>
	<entry>
		<id>https://bktt.vn/index.php?title=Ch%E1%BB%A7_ngh%C4%A9a_c%E1%BA%A5u_tr%C3%BAc&amp;diff=22472</id>
		<title>Chủ nghĩa cấu trúc</title>
		<link rel="alternate" type="text/html" href="https://bktt.vn/index.php?title=Ch%E1%BB%A7_ngh%C4%A9a_c%E1%BA%A5u_tr%C3%BAc&amp;diff=22472"/>
		<updated>2023-01-12T07:44:40Z</updated>

		<summary type="html">&lt;p&gt;Diemquynh834: Tạo trang mới với nội dung “{{sơ}}'''Chủ nghĩa cấu trúc''' là một trường phái Tâm lý học ở cuối thế kỷ XIX (cũng được gọi là Tâm lý học cấu tr…”&lt;/p&gt;
&lt;hr /&gt;
&lt;div&gt;{{sơ}}'''Chủ nghĩa cấu trúc''' là một trường phái Tâm lý học ở cuối thế kỷ XIX (cũng được gọi là Tâm lý học cấu trúc) lấy cấu trúc của tâm lý, ý thức làm đối tượng nghiên cứu, bằng cách chia ý thức thành các yếu tố cấu thành đơn giản nhất, sau đó tìm những quy luật kết hợp giữa chúng với nhau và phát hiện mối liên hệ giữa các yếu tố tâm lý với các quá trình sinh lý. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Nguồn gốc==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Những người sáng lập Tâm lý học cấu trúc là W. Wundt (1832 - 1920) và học trò của ông E. Titchener (1867 - 1927). W. Wundt là nhà Triết học, Tâm lý học và Ngôn ngữ học người Đức. Trong các tác phẩm của mình, W. Wundt đề xuất một chương trình xây dựng tâm lý học như là một khoa học độc lập dựa trên thực nghiệm. W. Wundt cho rằng, Tâm lý học là khoa học của kinh nghiệm trực tiếp, nghĩa là, sự hiểu biết về các hiện tượng ý thức với sự giúp đỡ của nội quan. Nhiệm vụ của tâm lý học là nghiên cứu các thành tố tạo nên ý thức và tìm ra các quy luật liên kết giữa các thành tố đó. Chính vì vậy, tâm lý học của W. Wundt được gọi là tâm lý học cấu trúc. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Cấu trúc==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Theo W. Wundt, ý thức có cấu trúc gồm ba thành phần là cảm giác, tri giác và tình cảm. Trong quá trình vận động, những thành tố đó kết hợp với nhau theo các quy luật của liên tưởng, từ đó tạo nên các biểu tượng phản ánh thực tế khách quan. Cảm giác có các phẩm chất như tính thể thức (modality), tính cường độ. Theo W. Wundt, mỗi tình cảm đều có 3 trạng thái: hài lòng - không hài lòng, căng thẳng - thư giãn, hưng phấn - bình tĩnh. Những tình cảm luôn khác nhau về chất lượng và cường độ của chúng. W. Wundt cho rằng tình cảm là yếu tố ban đầu của ý thức, đặc biệt khi trở thành ý chí nó định hướng hoạt động của con người không kém gì quá trình nhận thức. Đặc biệt là cả ý chí và chú ý đều tham gia điều chỉnh, định hướng quá trình nhận thức của chủ thể. Việc chuyển từ nghiên cứu quá trình nhận thức sang nghiên cứu các khía cạnh của hành vi ý chí đã khiến W. Wundt trở thành tác giả của một hướng mới trong tâm lý học - hướng ý chí luận (voluntarism). Phần chính của học thuyết tâm lý của W. Wundt là học thuyết về liên tưởng giữa các thành tố của ý thức. Liên tưởng là cơ chế cơ bản kết nối các thành tố ý thức từ đơn giản trở thành phức tạp, từ cảm giác trở thành biểu tượng, tư tưởng, v.v.. Ở W. Wundt, liên tưởng có tên gọi khác là tổng giác (Apperceptive). Ông mượn khái niệm apperception từ Wolff và Kant, người đã xác định nó như là hoạt động tự phát của tâm hồn. Apperception đã được W. Wundt sử dụng để giải thích các quy trình nảy sinh tâm lý bậc cao hơn trong chủ thể, mà theo quan điểm của ông, không chỉ diễn ra theo quy luật liên tưởng mà còn các quy luật cao hơn, phức tạp hơn.  Điểm quan trọng ở đây là sự kết nối giữa nhận thức, trí nhớ và các chức năng tâm lý cơ bản khác với hoàn cảnh bên ngoài. Trong khái niệm của mình, thực tế W. Wundt đã đồng nhất tổng giác với quá trình chú ý và ý chí, có chức năng điều chỉnh, điều khiển hoạt động của con người. Ông nói rằng, ý chí là sức mạnh chính, tuyệt đối trong đời sống của con người, giúp các liên tưởng kết nối các yếu tố tâm lý riêng lẻ vào thành một bức tranh toàn cảnh ở những giai đoạn phát triển cao của tâm lý. Một phần quan trọng trong lý thuyết tâm lý học của W. Wundt dành nghiên cứu về các quy luật của quá trình kiến tạo đời sống tâm lý. Ông cho rằng quá trình kiến tạo đời sống tâm lý diễn ra theo những quy luật riêng như: quy luật tổng hợp sáng tạo, quy luật về quan hệ tâm lý, quy luật tương phản và quy luật phát sinh mục đích.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Nhiệm vụ==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
''Edward B. Titchener'' (1867 - 1927) là nhà tâm lý học Mỹ gốc Anh đã thừa kế và phát triển tâm lý học của W. Wundt ở Hoa Kỳ, gọi lý thuyết tâm lý học của mình là chủ nghĩa cấu trúc, bởi vì ông cho rằng tâm lý học phải nghiên cứu nội dung của ý thức, được sắp xếp theo một cấu trúc nhất định. Đối tượng của tâm lý học là nghiên cứu kinh nghiệm trực tiếp có ý thức. E. Titchener tuyên bố rằng mục tiêu của tâm lý học cấu trúc là khám phá bản chất hoặc cấu trúc của tâm lý, ý thức. Ông đặc biệt coi trọng việc nghiên cứu các thành tố riêng lẻ của ý thức, trong khi W. Wundt lại nhấn mạnh đến việc nghiên cứu cái toàn vẹn, tổng thể của ý thức. E. Titchener phân biệt ý thức là tổng các trải nghiệm của chúng ta đang hiện hữu tại một thời điểm nhất định với tâm lý là tổng các trải nghiệm của chúng ta tích lũy được trong suốt cuộc đời. E. Titchener chỉ ra các nhiệm vụ của tâm lý học cấu trúc là: &lt;br /&gt;
# Phân tách trạng thái tâm lý ra thành những yếu tố đơn giản nhất&lt;br /&gt;
# Tìm ra những quy luật liên kết của các yếu tố này&lt;br /&gt;
# Vận dung các quy luật này vào giải thích các liên kết của tâm lý với sinh lý. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Các thành phần cấu trúc chính của ý thức, theo E. Titchener bao gồm các cảm giác (các yếu tố của tri giác), hình ảnh (các yếu tố của ý tưởng) và tình cảm (các yếu tố của cảm xúc). Các thuộc tính của cảm giác và hình ảnh (cái còn lại sau cảm giác) gồm cường độ, thời gian dài hay ngắn, sự sáng sủa và trường độ. Tình cảm có thể có các thuộc tính là cường độ và thời gian ngắn dài, nhưng không có sự sáng sủa hay trường độ. Bước tiếp theo là xác định các yếu tố của ý thức phối hợp với nhau thế nào để hình thành các quá trình tâm lý phức tạp hơn. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
E. Titchener tin rằng, các quá trình thần kinh luôn luôn đi trước các quy trình tâm lý. Theo E. Titchener, cách gần nhất chúng ta có thể hiểu về cái tại sao của các quá trình tâm lý là hiểu rằng các quy trình thần kinh dẫn trước các quy trình tâm lý. Ông cho rằng các quá trình sinh lý học cung cấp một cơ sở vững chắc đảm bảo tính liên tục cho các quá trình tâm lý mà nếu thiếu nó, đơn giản tâm lý, ý thức không tồn tại. E. Titchener đã đưa ra lý thuyết về ý nghĩa bối cảnh. Các cảm giác không bao giờ xảy ra đơn độc. Theo luật tương cận, mọi cảm giác có khuynh hướng khơi dậy các hình ảnh của các cảm giác mà ta đã kinh nghiệm trước đó. Một cảm giác hay một nhóm cảm giác sinh động làm thành một bối cảnh để tạo ra ý nghĩa cốt yếu. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Chủ nghĩa cấu trúc của E. Titchener đã thành công vào đầu thế kỷ XX và có ảnh hưởng lớn suốt hai mươi năm trong Tâm lý học Hoa Kỳ, trước khi các lý thuyết tâm lý học mới ra đời. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Đóng góp==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Đóng góp của chủ nghĩa cấu trúc đối với sự phát triển của tâm lý học là: nó đã chỉ ra được đối tượng nghiên cứu của Tâm lý học cấu trúc là kinh nghiệm có ý thức, đã sáng tạo ra các phương pháp nghiên cứu như quan sát, thử nghiệm và đo lường phù hợp với đối tượng của Tâm lý học cấu trúc. Tự quan sát là phương pháp nghiên cứu tốt nhất của chủ nghĩa cấu trúc, vì ý thức được con người lĩnh hội tốt nhất thông qua kinh nghiệm có ý thức. Do những thành tựu đã đạt được, chủ nghĩa cấu trúc đã trở thành một trong những giai đoạn để lại nhiều di sản cho lịch sử phát triển Tâm lý học. Mặc dù ngày nay đối tượng nghiên cứu của chủ nghĩa cấu trúc và các mục tiêu của nó đã không còn phù hợp. Tuy nhiên, phương pháp nội quan, được hiểu như là một sự mô tả kinh nghiệm bằng lời nói, vẫn được sử dụng trong nhiều lĩnh vực Tâm lý học. Về mặt lịch sử, chủ nghĩa cấu trúc được coi là trường phái đầu tiên của Tâm lý học. Trong suốt một thời gian dài Tâm lý học cấu trúc đã là xu hướng phổ biến và có ý nghĩa nhất trong khoa học tâm lý buổi sơ khai. Ngày nay, tiếp tục các ý tưởng của E. Titchener một số nhà tâm lý học vẫn đang tiếp tục nghiên cứu đề ra các phương pháp thực nghiệm khách quan mới để đo lường các trải nghiệm có ý thức, đặc biệt là trong lĩnh vực tâm lý học nhận thức.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Sự phê phán==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Sự phê phán chủ nghĩa cấu trúc chủ yếu nhằm vào phủ nhận “tự quan sát” như là một phương pháp để hiểu được kinh nghiệm của ý thức. Chủ nghĩa cấu trúc cũng bị phê phán về cách tiếp cận chia nhỏ các quá trình ý thức thành các thành tố riêng biệt. Các trải nghiệm tâm lý không nảy sinh từ một số cảm giác, hình ảnh hoặc trạng thái cảm xúc riêng biệt, mà là sự kết hợp của những yếu tố này. Nó luôn vận động, phát triển, do đó không thể khôi phục lại được ở dạng ban đầu từ các thành phần cấu trúc của nó. Tâm lý học cấu trúc tất yếu phải tan rã, bởi vì nó được hình thành trên mảnh đất lung lay của chủ nghĩa duy tâm nội quan. &lt;br /&gt;
                                                                                                               &lt;br /&gt;
==Tài liệu tham khảo==&lt;br /&gt;
# Vũ Dũng (Chủ biên), ''Từ điển Tâm lý học'', Nxb. Từ điển bách khoa, Hà Nội, 2008. &lt;br /&gt;
# Boring, E.G., ''Taped transcription presented at a meeting of the Society of Experimental Psychologists in 1967'', Recovered from: Titchener's Experimentalists, Journal of the History of the Behavioral Sciences, Vol. 3, 1967.&lt;br /&gt;
# Hindeland, M.J., ''Edward Bradford Titchener: A pioneer in perception, Journal of the History of the Behavioral Sciences'', 7, 1971, 23 - 28.&lt;br /&gt;
# Evans, R.B., E.B. ''Titchener and his lost system, Journal of the History of the Behavioral Sciences'', 8, 1972, 168 - 180. &lt;br /&gt;
# Hothersall, D., ''History of psychology'', New York, NY: Mcgraw-Hill, 2004.&lt;br /&gt;
# Vardanyan, Vilen, ''Panorama of Psychology, Author House Titchener'', E.B. (1902), Experimental psychology: A manual of laboratory practice, (Vol. 1) New York, NY: MacMillan &amp;amp; Co., Ltd, 2011.&lt;br /&gt;
# Райзберг Б. А., ''Современный социоэкономический словарь'', М., Коротина О. А. (2015) История психологии: учебное пособие, Владивосток: Изд-во ВГУЭС, 2012&lt;/div&gt;</summary>
		<author><name>Diemquynh834</name></author>
	</entry>
	<entry>
		<id>https://bktt.vn/index.php?title=C%C3%A2n_b%E1%BA%B1ng_n%E1%BB%99i_m%C3%B4i&amp;diff=22471</id>
		<title>Cân bằng nội môi</title>
		<link rel="alternate" type="text/html" href="https://bktt.vn/index.php?title=C%C3%A2n_b%E1%BA%B1ng_n%E1%BB%99i_m%C3%B4i&amp;diff=22471"/>
		<updated>2023-01-12T07:31:55Z</updated>

		<summary type="html">&lt;p&gt;Diemquynh834: Tạo trang mới với nội dung “{{sơ}}'''Cân bằng nội môi''' là nhu cầu duy trì sự ổn định bên trong để tồn tại của các cá thể sinh học có cấu trúc…”&lt;/p&gt;
&lt;hr /&gt;
&lt;div&gt;{{sơ}}'''Cân bằng nội môi''' là nhu cầu duy trì sự ổn định bên trong để tồn tại của các cá thể sinh học có cấu trúc cơ thể phức tạp.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Cơ thể người trưởng thành có khoảng 56% là dịch, trong đó co 2/3 lượng dịch nằm trong tế bào (dịch nội bào) và 1/3 còn lại là nằm ngoài tế bào (dịch ngoại bào). Nhờ hệ thống tuần hoàn, dịch ngoại bào với thành phần chủ yếu là các chất dinh dưỡng, ô xi được vận chuyển khắp cơ thể để nuôi dưỡng các tế bào. Như vậy, dịch ngoại bào đóng vai trò là môi trường bên trong (nội môi) của cơ thể. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Để các tế bào, cơ quan, hệ thống của cơ thể có thể tồn tại và phát triển, thực hiện được các chức năng của mình thì cần phải có sự cân bằng nội môi. Đây chính là trạng thái tối ưu của các yếu tố: nhiệt độ cơ thể; cân bằng dịch; độ pH của dịch ngoại bào; nồng độ của các ion Na, K, Ca; nồng độ đường máu…&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Từ giữa thế kỷ XIX Claude Bernard, nhà sinh lý học người Pháp người thiết lập nền tảng của sinh lý học khoa học và cũng là người đặt nền móng ban đầu cho việc nghiên cứu cân bằng nội môi. Tuy nhiên, phải đến Cannon W. (1871 - 1945), nhà sinh lý học người Mỹ thì vấn đề cân bằng nội môi mới được những nghiên cứu sâu rộng hơn. Năm 1926, ông đã đưa ra thuật ngữ Homeostasis (cân bằng nội môi). Theo Cannon, các hoạt động của cơ thể được ví như một dàn hợp xướng, có sự phối hợp nhịp nhàng của các hệ thống sinh lý khác nhau và ở các mức độ khác nhau. Đó là những cơ chế điều hòa sự ổn định của các loại dịch khác nhau bao quanh tế bào để kiểm soát nhiệt độ cơ thể, huyết áp và những yếu tố khác cần thiết cho môi trường bên trong nhằm duy trì sự sống. Các hệ thống thần kinh, nội tiết cũng tham gia vào cân bằng nội môi thông qua việc điều chỉnh các phản ứng của cơ thể như: điều chỉnh quá trình trao đổi chất của tế bào, tăng nhiệt độ cơ thể trong điều kiện thời tiết lạnh đến tăng hoặc giảm trong các quá trình phức tạp dẫn đến đói và khát, thông qua đó ảnh hưởng đến các hành vi tìm kiếm thức ăn, nước uống. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Khái niệm cân bằng nội môi của Cannon đã khẳng định rằng các sinh thể phức tạp với các thành tố ổn định và cũng luôn thay đổi, về bản chất là một hệ thống mở với môi trường xung quanh. Trong khi liên tục có xu hướng thay đổi thì các cá thể cũng luôn phải duy trì sự ổn định trong mối quan hệ với môi trường xung quanh nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho cuộc sống. Do vậy sự hằng định bên trong/cân bằng nội môi được xem là trạng thái động chứ không phải là trạng thái ổn định tuyệt đối.  &lt;br /&gt;
 &lt;br /&gt;
Có thể nói rằng, điểm nhấn nổi bật của lý thuyết cân bằng nội môi của Cannon chính là xem các cơ thể có cấu trúc phức tạp như của con người hay động vật là các hệ thống mở: mở với các tác động luôn thay đổi từ phía môi trường và luôn giữ trạng thái ổn định động bên trong để thích nghi và tồn tại.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Luận điểm của Cannon về hệ thống mở và cân bằng nội môi đã tạo đà cho các nghiên cứu mở rộng. Một trong số các nhà nghiên cứu đó là Hans Selye (1907 - 1982), nhà nội tiết học người Canada gốc Hungary, người đã tạo nên xu hướng nghiên cứu các stress sinh lý và tâm lý. Theo Selye, các tác nhân (stressor) từ phía bên ngoài môi trường, không chỉ là những tác nhân vật lý mà đó còn có thể là những tác nhân tâm lý. Để ứng phó với các tác nhân bên ngoài, đặc biệt là các tác nhân tâm lý, cá nhân còn huy động cả các quá trình, trạng thái tâm lý như cảm xúc, nhận thức nhằm duy trì trạng thái cân bằng bên trong. Bệnh tật trong nhiều trường hợp, theo quan điểm của Selye, là sự mất cân bằng nội môi do stress vượt quá khả năng dàn xếp của chủ thể.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Khái niệm về sự cân bằng bên trong cũng đã được Wiener N. vận dụng vào lý thuyết điều khiển học (1948) để nhằm xây dựng các nguyên tắc giải thích sự tự điều chỉnh giữa các hệ thống sinh học và không sống như máy tính, thậm chí còn được xem như rộng hơn so với lý thuyết hệ thống tổng quát của Ludwig Von Bertalanffy.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Tài liệu tham khảo==&lt;br /&gt;
# Trịnh Bỉnh Di và cộng sự, ''Sinh lý học'', T.1, Nxb. Y học, 2006, tr. 27 - 29.&lt;br /&gt;
# Craighead W.E. and Nemeroff C.B., ''The Consise Corsini Encyclopedia of Psychology and Behavioral Science'', 3rdEd., 2004, pp. 438 - 439. &lt;br /&gt;
# VandenBos G.R, (Editor in Chief), ''APA Dictionary of Clinical Psychology'', American Psychological Association, Washington DC, 2013, pp. 275 - 276.&lt;br /&gt;
# Головин X.Ю., ''Словарь психолога-практикa'', Mинcк Xaрвecт, стр. 134 - 135, 2001.&lt;/div&gt;</summary>
		<author><name>Diemquynh834</name></author>
	</entry>
	<entry>
		<id>https://bktt.vn/index.php?title=C%C3%A1i_t%C3%B4i:_kh%C3%A1i_ni%E1%BB%87m_c%C3%A1i_g%C6%B0%C6%A1ng&amp;diff=22470</id>
		<title>Cái tôi: khái niệm cái gương</title>
		<link rel="alternate" type="text/html" href="https://bktt.vn/index.php?title=C%C3%A1i_t%C3%B4i:_kh%C3%A1i_ni%E1%BB%87m_c%C3%A1i_g%C6%B0%C6%A1ng&amp;diff=22470"/>
		<updated>2023-01-12T07:28:05Z</updated>

		<summary type="html">&lt;p&gt;Diemquynh834: Tạo trang mới với nội dung “{{sơ}}'''Cái tôi: khái niệm cái gương''' là khái niệm về tâm lý xã hội được coi là của Charles Horton Cooley đưa ra năm 1902…”&lt;/p&gt;
&lt;hr /&gt;
&lt;div&gt;{{sơ}}'''Cái tôi: khái niệm cái gương''' là khái niệm về tâm lý xã hội được coi là của Charles Horton Cooley đưa ra năm 1902 trong tác phẩm Bản chất con người và trật tự xã hội (Human Nature and the Social Order) khi cá nhân thực hiện một hành vi nào đó hoặc quản lý hành vi của mình thông qua các phản hồi của những người xung quanh. Nhờ đó, cá nhân hiểu được cái tôi của mình và có phản hồi tương ứng với những đánh giá của người khác (dù có chính xác hay không) bằng hành động tiêu cực (những phản ứng tiêu cực) hoặc những hành động tích cực (những phản ứng tích cực). &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Cooley đã sử dụng thuật ngữ này để giải thích quá trình xã hội hóa. Ông cho rằng khái niệm về bản thân (cái tôi) hoặc ý thức về bản sắc của một người không chỉ đến từ sự chiêm nghiệm trực tiếp của người đó về bản thân hay các phẩm chất cá nhân mà còn từ việc xem xét cách một người được nhìn nhận bởi những người khác trong xã hội. Nói cách khác, tương tác xã hội đóng một vai trò quan trọng trong quá trình xác định bản thân. Tương tác xã hội đóng vai trò như một tấm gương giúp các cá nhân đo lường giá trị và hành vi của họ. Điều này xảy ra thông qua ba bước chính: &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
* Đầu tiên, người ta phải hình dung cách bản thân xuất hiện trước những người khác, có thể là gia đình, bạn bè hoặc bất kỳ người ngẫu nhiên nào đang gặp phải (đó là cảm giác về bản thân của một cá nhân).&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
* Thứ hai, cá nhân tưởng tượng mình phải được đánh giá như thế nào dựa trên cách những người khác quan sát anh ta (đó là cảm giác về cảm giác bản thân). Ví dụ, một người có thể được đánh giá là hài hước, thông minh hoặc có thể khôn ngoan. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
* Bước thứ ba là sự phát triển của bản thân dựa trên ấn tượng của những đánh giá hay nhận định của người khác về cá nhân đó (đó là sự bộc lộ bản thân qua cảm giác này). Ví dụ, trong một cuộc phỏng vấn xin việc, người được phỏng vấn nghĩ mình là một ứng viên thông minh và trí tuệ, là một người có thể dễ dàng nhận được công việc. Trong cuộc phỏng vấn, người được phỏng vấn quan sát cách những người phỏng vấn tương tác với anh ta. Nếu họ lắng nghe anh ta mà không bị phân tâm hoặc không quan tâm, niềm tin của người được phỏng vấn vào khả năng của anh ta sẽ được duy trì. Ngược lại, nếu những người phỏng vấn không thể hiện sự quan tâm, người được phỏng vấn sẽ bắt đầu đặt câu hỏi về niềm tin của anh ta về bản thân.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Trong thực tế, mọi người không tiếp thu từng phản hồi mà họ bắt gặp. Họ có thể nhấn mạnh ý kiến của ai đó hơn những người khác mà họ cho là quan trọng hơn hoặc đáng tin cậy hơn. Cooley khẳng định thêm rằng không phải ý kiến của mọi người ảnh hưởng đến sự phát triển ý thức về bản sắc của một người, mà là cách mà một người tưởng tượng ý kiến của người khác thực sự ảnh hưởng đến sự phát triển của hình ảnh bản thân. Những nhận thức này về ý kiến của người khác có thể đúng hoặc sai. Tuy nhiên, mọi người không ngừng cố gắng duy trì trạng thái cân bằng giữa quan niệm bên trong của anh ta về bản thân và nhận thức bên ngoài của người khác.&lt;br /&gt;
Cái tôi: khái niệm cái gương cơ bản là trung tâm trong lý thuyết tương tác biểu tượng và lý thuyết tâm lý xã hội hiện đại về cái tôi xã hội và về cảm xúc. Trung tâm của cái tôi và quá trình của cái tôi trong nghiên cứu về cảm xúc và biểu hiện cảm xúc là then chốt trong các công thức điều trị tâm thần kinh hiện đại (Pribram, 1981).  &lt;br /&gt;
                                                                                            &lt;br /&gt;
==Tài liệu tham khảo==&lt;br /&gt;
# Vũ Dũng, ''Từ điển Tâm lý học'', Nxb. Từ điển bách khoa, Hà Nội, 2008.&lt;br /&gt;
# Wiley, N., ''The semiotic self'', Cambridge, UK: Polity Press, 1994.&lt;br /&gt;
# Butler, J., ''Excitable speech: A politics of the performative'', London: Routledge, 1997.&lt;br /&gt;
# Dunn, R. G., ''Identity crises: A social critique of postmodernity'', Minneapolis: University of Minnesota Press, 1998.&lt;br /&gt;
# Perinbanayagam, R. S., ''The presence of self'', Lanham, MD: Roman &amp;amp; Littlefield, 2000.&lt;br /&gt;
# Scheff, T. J., The emotional relational world. In J. H. Turner (Ed.), ''Handbook of sociological theory'', New York: Kluwer, 2001, pp. 255 - 268.&lt;br /&gt;
# Freedheim D.K., ''Handbook of Psychology'', Vol. 1, History of Psychology, John Wiley &amp;amp; Sons, 2003, pp. 124 - 125.&lt;/div&gt;</summary>
		<author><name>Diemquynh834</name></author>
	</entry>
	<entry>
		<id>https://bktt.vn/index.php?title=C%E1%BA%A3m_x%C3%BAc_%C3%BD_th%E1%BB%A9c&amp;diff=22469</id>
		<title>Cảm xúc ý thức</title>
		<link rel="alternate" type="text/html" href="https://bktt.vn/index.php?title=C%E1%BA%A3m_x%C3%BAc_%C3%BD_th%E1%BB%A9c&amp;diff=22469"/>
		<updated>2023-01-12T07:22:38Z</updated>

		<summary type="html">&lt;p&gt;Diemquynh834: Tạo trang mới với nội dung “{{sơ}}'''Cảm xúc ý thức''' là những cảm xúc được tạo ra khi các phản ánh giá trị của sự kiện hoặc giá trị của bản…”&lt;/p&gt;
&lt;hr /&gt;
&lt;div&gt;{{sơ}}'''Cảm xúc ý thức''' là những cảm xúc được tạo ra khi các phản ánh giá trị của sự kiện hoặc giá trị của bản thân trong con mắt của chính mình hoặc của người khác. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Cảm xúc tự ý thức còn được gọi là cảm xúc tự đánh giá. Cảm xúc tự ý thức bao gồm ngại ngùng, tự hào, tội lỗi và xấu hổ. Cảm xúc tự ý thức đóng vai trò trung tâm trong việc thúc đẩy và điều chỉnh suy nghĩ, cảm xúc và hành vi của con người. Cảm xúc tự ý thức có ý nghĩa thúc đẩy mọi người làm việc chăm chỉ nhằm đạt thành tích trong học tập, làm việc và điều chỉnh con người cư xử phù hợp với đạo đức, chuẩn mực xã hội thông qua các tương tác xã hội và các mối quan hệ thân mật của họ. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Cảm xúc tự ý thức đòi hỏi trí tuệ phát triển mức độ khá phức tạp. Để cảm nhận được các cảm xúc này các cá nhân phải có ý thức về bản thân cũng như phải có khái niệm về những gì tạo nên thành công và thất bại và khả năng đánh giá hành vi của chính mình.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Các cảm xúc tự ý thức có liên quan nhiều đến các hành vi con người. Cảm xúc tội lỗi được phát hiện có liên quan nhiều đến các hành vi mang tính đại diện xã hội như sự đồng cảm, lòng vị tha và sự chăm sóc. Cảm xúc xấu hổ đã được chứng minh là yếu tố trung gian liên quan khi xem xét sự kỳ thị xã hội ảnh hưởng tiêu cực đến sức khỏe thể chất và tinh thần. Đối với những nạn nhân bị lạm dụng thể chất (bao lực thân thể, bạo lực tình dục) và những người có dương tính với HIV phải chịu đựng sức khỏe thể chất và tinh thần kém hơn nếu họ cảm thấy xấu hổ do bị kỳ thị. Xấu hổ cũng liên quan đến trầm cảm và tức giận mãn tính và đây là thành phần cốt lõi của tự ái, chống đối xã hội và ranh giới với rối loạn nhân cách.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Cảm xúc tự ý thức đóng vai trò trung tâm trong hoạt động tâm lý, những cảm xúc tự ý thức lại ít được các nhà nghiên cứu về cảm xúc chú ý so với những cảm xúc cơ bản như vui mừng, sợ hãi và buồn bã. Cảm xúc tự ý thức rất khó nghiên cứu do không có nguyên nhân rõ ràng nào cho những cảm xúc này. Ví dụ, niềm vui hiện rõ trên khuôn mặt của một người khi tiếp cận bạn bè và sự thận trọng xuất hiện khi tiếp cận một người lạ. Cảm giác tội lỗi hay xấu hổ? Những cảm xúc này phụ thuộc vào kinh nghiệm, kỳ vọng và văn hóa của người đó, nên rất khó để thiết kế các thí nghiệm đồng bộ.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Cần phải phân biệt cảm xúc cơ bản và cảm xúc tự ý thức. Các cá nhân có xu hướng trải qua những cảm xúc tự ý thức, như tự hào và xấu hổ, chỉ khi họ nhận thức được rằng họ đã tuân thủ các chuẩn mực của cá nhân, nhóm hoặc họ không thể hiện được các tôi thực tế và cái tôi lý tưởng. Với những sự kiện không kích hoạt quá trình tự đánh giá có thể tạo ra những cảm xúc cơ bản, nhưng không phải là cảm xúc tự ý thức. Một người có thể cảm thấy hạnh phúc khi trúng xổ số hoặc chiến thắng ở một sự kiện thể thao. Ở sự kiện trúng xổ số sẽ không liên quan đến bất kỳ sự tự đánh giá nào, trong khi sự kiện dành chiến thắng trong thi đấu thể thao sẽ gợi ra một quá trình tự đánh giá (“Thành tích thể thao của tôi có ý nghĩa gì đối với tài năng và khả năng của tôi?”). Kết quả là, chỉ sự kiện - thành công trong điền kinh - sẽ tạo ra cảm xúc tự ý thức như sự tự hào. Thống nhất với quan điểm này, các nghiên cứu so sánh cho thấy rằng, những động vật thiếu khả năng tự nhận thức sẽ không trải qua những cảm xúc tự ý thức, trong khi những động vật có thể tự nhận thức (ví dụ: tinh tinh và đười ươi) thể hiện những phản ứng cảm xúc có thể được là tự hào, xấu hổ và bối rối. Đặc điểm khác biệt cơ bản của cảm xúc tự ý thức là sự khơi gợi của chúng đòi hỏi khả năng hình thành những biểu hiện ổn định về bản thân (tôi), tập trung sự chú ý vào những biểu hiện đó (tức là tự phản ánh; tôi) và đặt tất cả cùng nhau để tạo ra tự đánh giá. Điều quan trọng là, những quá trình tự đánh giá này cũng có thể dẫn đến trải nghiệm của những cảm xúc cơ bản; tuy nhiên, không giống như những cảm xúc tự ý thức, những cảm xúc cơ bản cũng có thể được khơi gợi khi không có sự tự đánh giá.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Tài liệu tham khảo==&lt;br /&gt;
# Batson, C. D., ''Prosocial motivation: Is it ever truly altruistic?, In L. Berkowitz (ed.), Advances in experimental social psychology'', New York: Academic Press, 1987, Vol. 20, pp. 65 - 122.&lt;br /&gt;
# Baumeister, R. F., Stillwell, A. M., &amp;amp; Heatherton, T. F., ''Guilt: An interpersonal approach. Psychological Bulletin'', 1994, 115, pp. 243 - 267. &lt;br /&gt;
# Barrett, K., ''“A Functionalist Approach to Shame and Guilt”'', In J. Tangney and K. Fischer (Eds.), ''Self-Conscious Emotions'', New York: Guilford, 1995, pp. 25 - 63.&lt;br /&gt;
# Campos, J. J., ''Foreword'', In J. P. Tangney &amp;amp; K. W. Fischer (Eds.), ''Self-conscious emotions: The psychology of shame, guilt, embarrassment'', and pride (pp. ix–xi), New York: Guilford, 1995.&lt;br /&gt;
# Dweck, C.S., and E.L. Leggett., ''“A Social Cognitive Approach to Motivation and Personality”, Psychological Review'', 95, 1998, 256 - 273. &lt;br /&gt;
# Feiring, C., Taska, L., &amp;amp; Lewis, M., Adjustment following sexual abuse discovery: The role of shame and attributional style, Developmental Psychology, 2002, 38, pp. 79 - 92.&lt;/div&gt;</summary>
		<author><name>Diemquynh834</name></author>
	</entry>
	<entry>
		<id>https://bktt.vn/index.php?title=Ch%C3%BA_%C3%BD_ch%E1%BB%8Dn_l%E1%BB%8Dc&amp;diff=22450</id>
		<title>Chú ý chọn lọc</title>
		<link rel="alternate" type="text/html" href="https://bktt.vn/index.php?title=Ch%C3%BA_%C3%BD_ch%E1%BB%8Dn_l%E1%BB%8Dc&amp;diff=22450"/>
		<updated>2023-01-11T09:48:41Z</updated>

		<summary type="html">&lt;p&gt;Diemquynh834: Tạo trang mới với nội dung “{{sơ}}'''Chú ý chọn lọc''' là những chú ý được tạo lập một cách có ý thức, với mục đích định trước và có sự l…”&lt;/p&gt;
&lt;hr /&gt;
&lt;div&gt;{{sơ}}'''Chú ý chọn lọc''' là những chú ý được tạo lập một cách có ý thức, với mục đích định trước và có sự lựa chọn một khách thể có liên quan, bỏ qua những khách thể không liên quan. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Ví dụ thực tế nổi tiếng nhất về sự chú ý có chọn lọc là một ví dụ trong đó một người có khả năng nghe một giọng nói duy nhất trong một căn phòng đầy người đang nói chuyện cùng một lúc, trong khi dường như không để ý đến tất cả các cuộc trò chuyện khác. Trường hợp chú ý có chọn lọc thính giác này đã được Cherry (1953) mô tả khi ông lưu ý rằng mặc dù một người có thể chỉ tham gia một cách chọn lọc vào cuộc trò chuyện của riêng mình trong khi bỏ qua tất cả các giọng nói khác, nhưng người đó đôi khi nhận thấy những kích thích quan trọng, chẳng hạn như tên riêng của anh ấy hoặc cô ấy.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Một trong những câu hỏi chính về sự chú ý có chọn lọc là: yếu tố nào làm cho việc thực hiện chú ý có chọn lọc dễ dàng hay khó khăn? Phần lớn nghiên cứu câu hỏi này về chú ý có chọn lọc của thính giác sử dụng nhiệm vụ nghe phân đôi, trong đó hai thông điệp thính giác khác nhau được trình bày đồng thời, mỗi một thông điệp đến mỗi tai, qua tai nghe. Những người tham gia được hướng dẫn để tham dự có chọn lọc vào một trong các thông điệp và lặp lại hoặc ẩn thông điệp liên quan này một cách khả thi nhanh chóng và chính xác nhất. Nói chung, những người tham gia gặp ít khó khăn khi hiểu thông điệp có liên quan. Có nghĩa là, họ có thể lặp lại nhanh chóng và chính xác thông điệp có liên quan trong tai được giám sát, trong khi lặp lại rất ít nếu có của thông báo không liên quan trong tai không được giám sát. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Các phát hiện từ các nhiệm vụ nghiên cứu lắng nghe phân đôi được sửa đổi đã chỉ ra rằng tính chọn lọc của chú ý xảy ra trên cơ sở vị trí không gian của các thông điệp, cũng như trên cơ sở sự khác biệt về tần số giữa các thông điệp có liên quan và không liên quan. Ví dụ: nếu mỗi thông điệp trong số hai tin nhắn được phát đồng thời ở cường độ bằng nhau ở cả hai tai (loại bỏ sự xác định khác biệt về vị trí không gian bởi sự khác biệt về cường độ nội bộ) bằng cách sử dụng cùng một giọng nói (loại bỏ sự khác biệt về tần số), tính chọn lọc của một tin nhắn trở nên khó đáng kể hơn. Tuy nhiên, tính chọn lọc được cải thiện nếu giọng nói của hai tin nhắn khác nhau về cao độ. Ví dụ, sự dễ dàng tăng lên khi thông điệp không liên quan bị che khuất được gửi bởi một giới tính khác (Treisman, 964). Vấn đề này cũng được cải thiện khi bản địa hóa không gian được tạo ra bằng cách tạo ra sự khác biệt vừa phải về cường độ giữa nội bộ hai thông điệp (Treisman, 1964).&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Các yếu tố ảnh hưởng đến sự dễ dàng của sự chú ý có chọn lọc cũng là một vấn đề liên quan đến phương thức trực quan. Đó là, những yếu tố nào khiến một người dễ dàng hoặc khó khăn hơn khi thực hiện chú ý chọn lọc vào một kích thích thị giác cụ thể trong khi loại trừ những đối tượng khác? &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Sự chú ý có chọn lọc bằng thị giác thường được nghiên cứu bằng cách sử dụng một nhiệm vụ lọc thị giác, trong đó những người tham gia được yêu cầu tham gia một cách chọn lọc vào một yếu tố kích thích thị giác được nhúng trong một loạt các mục đánh lạc hướng thị giác. Các nhiệm vụ khác liên quan đến việc chồng hai sự kiện được quay video khác nhau vào một video duy nhất. Những người tham gia được hướng dẫn tham dự có chọn lọc vào một cảnh trực quan và nhấn nút bất cứ khi nào có sự kiện BT xảy ra trong cảnh liên quan. Các kết quả cho thấy rằng mức độ dễ dàng mà những người tham gia có thể tham gia một cách chọn lọc vào kích thích thị giác liên quan phụ thuộc vào mức độ mà các kích thích có liên quan và không liên quan khác nhau về các thuộc tính vật lý đơn giản. Chẳng hạn như vị trí, màu sắc, kích thước và độ sáng.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Kể từ khi Cherry lần đầu tiên thu hút sự chú ý đến chủ đề của sự chú ý có chọn lọc vào đầu những năm 1950, các nhà nghiên cứu đã đề xuất hai mô hình cấu trúc của sự chú ý có chọn lọc: mô hình lựa chọn sớm và mô hình lựa chọn muộn.  &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Mô hình lựa chọn sớm của Broadbent (1958) và Treisman (1964) đã xem xét sự chú ý có chọn lọc trong bối cảnh của một mô hình xử lý thông tin. Trong đó, các kích thích đến được chuyển đổi liên tiếp từ các thuộc tính cảm giác cơ bản thành các biểu diễn ngữ nghĩa phức tạp hơn. Chú ý có chọn lọc được xem như một loại bộ lọc hoặc nút cổ chai hạn chế luồng thông tin qua hệ thống. Theo Broadbent và Treisman, nút thắt cổ chai này xuất hiện sớm trong hệ thống xử lý thông tin, do đó chỉ những đặc điểm tri giác cấp thấp mới có thể nhận biết được trước khi có sự lựa chọn có chủ ý. Do đó, các lý thuyết chọn lọc sớm cho rằng các đặc điểm ngữ nghĩa cấp cao hơn không thể được nhận thức sớm trong quá trình xử lý. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Mô hình lựa chọn muộn cho rằng nút thắt cổ chai xảy ra muộn hơn trong hệ thống xử lý thông tin. Do đó, mức cao hơn, quá trình xử lý ý nghĩa trừu tượng có thể xảy ra trước khi lựa chọn có chủ ý diễn ra (Deutsch &amp;amp; Deutsch, 1963). Mặc dù đã vài thập kỷ trôi qua kể từ khi vấn đề này được giải thích rõ ràng, nhưng câu hỏi về việc lựa chọn xảy ra sớm hay muộn vẫn chưa được giải đáp.&lt;br /&gt;
                                                                                               &lt;br /&gt;
==Tài liệu tham khảo==&lt;br /&gt;
# Inhoff, A. W., &amp;amp; Rayner, K., ''Parafoveal word perception: A case against semantic preprocessing'', Perception and Psychophysics, 27, 1980, 457 - 464.&lt;br /&gt;
# Underwood, G., ''Lexical recognition of embedded unattended words: Some implications for reading processes'', Acta Psychologica, 47, 1981, 267 - 283.&lt;br /&gt;
# Paap, K. R., &amp;amp; Newsome, S. L., ''Parafoveal information is not sufficient to produce semantic or visual priming, Perception and Psychophysics'', 29, 1981, 457 - 466.&lt;br /&gt;
# Pashler, H. E., ''The psychology of attention'', Cambridge, MA: MIT Press, Treisman, A. M. (1960), Contextual cues in selective listening, Quarterly Journal of Experimental Psychology, 12, 1998, 242 - 248.&lt;/div&gt;</summary>
		<author><name>Diemquynh834</name></author>
	</entry>
	<entry>
		<id>https://bktt.vn/index.php?title=Ch%C6%B0%C6%A1ng_tr%C3%ACnh_Head_Start&amp;diff=22449</id>
		<title>Chương trình Head Start</title>
		<link rel="alternate" type="text/html" href="https://bktt.vn/index.php?title=Ch%C6%B0%C6%A1ng_tr%C3%ACnh_Head_Start&amp;diff=22449"/>
		<updated>2023-01-11T09:44:08Z</updated>

		<summary type="html">&lt;p&gt;Diemquynh834: Tạo trang mới với nội dung “{{sơ}}'''Chương trình Head Start''' là một chương trình can thiệp toàn diện cho trẻ nhỏ và gia đình của những đứa trẻ sốn…”&lt;/p&gt;
&lt;hr /&gt;
&lt;div&gt;{{sơ}}'''Chương trình Head Start''' là một chương trình can thiệp toàn diện cho trẻ nhỏ và gia đình của những đứa trẻ sống trong cảnh nghèo đói. Đây là chương trình lớn nhất và dài nhất được thành lập ở Hoa Kỳ để chuẩn bị cho việc tham gia thành công vào các hoạt động giáo dục ở các trường mầm non.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Head Start là chương trình giáo dục mầm non. Nó đã mở rộng khả năng tiếp cận mầm non cho trẻ em đủ điều kiện trong các gia đình có thu nhập thấp. Head Start được thành lập vào năm 1965 trong khuôn khổ cuộc chiến chống đói nghèo của Tổng thống Lyndon Johnson. Mục tiêu của chương trình là thúc đẩy sự sẵn sàng đến trường thông qua việc cung cấp các dịch vụ y tế, giáo dục, dinh dưỡng và xã hội.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Head Start được hình thành như một chiến dịch quốc gia để kích hoạt người nghèo cải thiện địa vị của họ thông qua tự lực và những cơ hội giáo dục. Head Start được hình dung như một chương trình để giúp trẻ mẫu giáo nghèo bắt đầu đi học bình đẳng với trẻ em của những gia đình giàu có hơn. Chiến lược gia chính của Tổng thống Lyndon Johnson trong chương trình là Sargent Shriver đã triệu tập một hội đồng gồm các chuyên gia trong lĩnh vực giáo dục, sức khỏe thể chất và sức khỏe tâm thần, công tác xã hội và phát triển tâm lý để thiết kế chương trình. Sự đa dạng của nhóm chuyên gia đã làm cho Head Start trở thành một chương trình giáo dục nghiêm túc và có tiêu điểm.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Chương trình dựa trên triết lý “Trẻ em cần được quan tâm toàn diện”. Chương trình bao gồm nhiều mục tiêu liên quan đến sự sẵn sàng đi học của trẻ. Trẻ em được tiêm chủng, khám sức khỏe và nha khoa, được theo dõi và điều trị nếu cần. Trẻ em sẽ ăn những bữa ăn nóng hổi và đồ ăn nhẹ bổ dưỡng, cha mẹ của trẻ sẽ được dạy để cung cấp chế độ ăn uống lành mạnh tại nhà. Chương trình giáo dục mầm non phù hợp với trẻ về mặt phát triển thể chất, tâm lý và văn hóa, bao gồm cả ngôn ngữ và các kỹ năng sống khác thông qua những trải nghiệm để thúc đẩy sự phát triển xã hội và tình cảm của trẻ. Cha mẹ của trẻ tình nguyện tham gia lớp học, tham dự các lớp của riêng mình và có vai trò trong quản lý chương trình.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Các nhu cầu và mục tiêu của gia đình được đánh giá và hỗ trợ thông qua các dịch vụ được chương trình cung cấp và các liên kết đến các cơ quan và cộng đồng. Head Start phát triển sự hợp tác của cộng đồng để tăng cường sự sẵn có và cung cấp nhân lực cho các dịch vụ. Chương trình là cần thiết đối với những can thiệp sớm của trẻ em.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Bắt đầu vào mùa hè năm 1965, Head Start mở cửa phục vụ hơn nửa triệu trẻ em và gia đình của họ. Năm 2001 có hơn 905.000 trẻ em tham dự Head Start với 48.500 phòng học trên toàn nước Mỹ. Đa số là những trẻ em 3 - 4 tuổi có cha mẹ với thu nhập dưới mức chuẩn nghèo của Liên Bang. Khoảng 13% là trẻ em khuyết tật. Ngân sách năm 2002 chi cho chương trình khoảng 6,5 tỷ đô la. Theo luật, những người thuộc diện tài trợ nhận được 80% tài trợ của họ từ Chính phủ Liên Bang và phần còn lại từ các tổ chức khác, thường là cộng đồng. Vào năm 2019, Quốc hội Mỹ đã chi hơn 10 tỷ đô la cho Head Start. Dựa trên dữ liệu gần đây nhất, hàng năm có 1 triệu trẻ em được hưởng từ Chương trình. Sự đầu tư đáng kể này vào trẻ em là một bằng chứng cho thấy các khoản đầu tư sớm cho con người, đặc biệt là đầu tư vào trường mầm non đã đem lại tác động tích cực cho sự phát triển cho trẻ.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Mỗi trung tâm Head Start phải tập trung vào ba hoạt động chính: 1) dịch vụ phát triển trẻ em (thể chất và sức khỏe tâm thần, dinh dưỡng, giáo dục mầm non); 2) quan hệ đối tác gia đình và cộng đồng (bao gồm sự tham gia của cha mẹ và xã hội cho các dịch vụ hỗ trợ) và 3) thiết kế và quản lý chương trình (để nâng cao chất lượng và trách nhiệm giải trình). Mặc dù các thành phần này phải phù hợp với các tiêu chuẩn quốc gia, song các trung tâm được khuyến khích để điều chỉnh dịch vụ theo các nhu cầu và nguồn lực địa phương. Ví dụ, một số hoạt động của chương trình cung cấp các dịch vụ tại nhà và cung cấp dịch vụ chăm sóc trẻ em để phù hợp với công việc của cha mẹ trẻ.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Head Start lúc đầu chỉ tập trung vào trẻ mầm non, sau đó đã chuyển sang cả học sinh tiểu học. Chương trình còn chú ý đến phòng ngừa và can thiệp cho trẻ trước những năm mầm non như trẻ sơ sinh đến 3 tuổi. Trong năm 2001, có 650 chương trình như vậy phục vụ hơn 55.000 trẻ sơ sinh và trẻ mới biết đi. Đánh giá ban đầu cho thấy có nhiều kết quả tích cực đối với cách tiếp cận này.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Kết quả của nghiên cứu của Head Start và các biện pháp can thiệp sớm khác đều đến cùng một kết luận: Điểm IQ tăng lên trong thời gian học mẫu giáo (sau này được tìm thấy là do có động lực tốt hơn và quen với các biện pháp thử nghiệm), nhưng sự phát triển này mất dần sau một vài năm học tiểu học.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Khi các nhà nghiên cứu xem xét kết quả rộng hơn, họ tìm thấy nhiều lợi ích lâu dài hơn từ chương trình. Chất lượng của chương trình mầm non đã nâng cao thành tích học tập, giảm số trẻ phải giáo dục đặc biệt và để giảm tình trạng phạm pháp của người chưa thành niên sau này. Các kết quả khảo sát cho thấy rằng những trẻ tốt nghiệp chương trình Head Start đã sẵn sàng vào mẫu giáo và có thể phát triển tốt hơn cho việc đi học sau này, trẻ em khỏe mạnh, có các kỹ năng xã hội và học tập mà các em cần.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Các nghiên cứu cho thấy, những đứa trẻ tham gia chương trình ít phạm tội hơn so với những trẻ không tham gia. Những người tham gia chương trình đã kết hôn ổn định hơn, con cái của họ ít có nguy cơ bị đình chỉ học và có nhiều khả năng tốt nghiệp trung học và được làm việc hơn (James Heckman và Ganesh Karapakula). Nghiên cứu tác động của Head Start cũng phát hiện ra rằng Head Start đã cải thiện kỹ năng nhận thức của trẻ. Head Start mang lại kết quả tốt hơn về sức khỏe, giáo dục cho trẻ và kinh tế cho gia đình trong dài hạn. Nghiên cứu của Lauren Bauer và Diane Schanzenbach cho thấy, Head Start đã tạo nên sự phát triển về xã hội, cảm xúc và hành vi trong các thước đo kiểm soát bản thân của trẻ, lòng tự trọng và thực hành nuôi dạy con cái tích cực ở tuổi trưởng thành. Nghiên cứu của Chloe Gibbs và Andrew Barr cho thấy, con cái của những người đã tiếp xúc với Head Start đã giảm thiểu tình trạng mang thai ở tuổi vị thành niên và phạm tội và tăng trình độ học vấn. &lt;br /&gt;
                                                                                                                         &lt;br /&gt;
==Tài liệu tham khảo==&lt;br /&gt;
# Kazdin A.E. (Editor in chief), ''Encyclopedia of Psychology: 8 volume set'', APA Publishing, Oxford University Press, Vol. 7, 2000, pp. 87 - 91.&lt;br /&gt;
# Strickland B. (Executive editor), ''The Gale Encyclopedia of Psychology'', Gale Group, 2001, pp. 199.&lt;br /&gt;
# Freedheim D.K., ''Handbook of Psychology'', Vol. 1, History of Psychology, John Wiley &amp;amp; Sons, 2003, pp. 124 - 125.  &lt;br /&gt;
# Sally J. Styfco, ''Head start'', W. Edward Craighead and Charles B. Nemeroff Editors The Concise Corsini Encyclopedia of Psychology and Behavioral Science, John Wiley &amp;amp; Sons, Inc. 2004.  &lt;br /&gt;
# Lauren Bauer, ''Does Head Star work? The debate over the Head Star impact study, explained'', 2019. &lt;br /&gt;
# Brown Center Chalkboard series, https://www.brookings.edu/blog/brown-center-chalkboard/ 2019/06/14/does-head-start-work-the-debate-over-the-head-start-imp, 2019.&lt;/div&gt;</summary>
		<author><name>Diemquynh834</name></author>
	</entry>
	<entry>
		<id>https://bktt.vn/index.php?title=Deoxyribonucleic_Axit_(DNA)&amp;diff=22446</id>
		<title>Deoxyribonucleic Axit (DNA)</title>
		<link rel="alternate" type="text/html" href="https://bktt.vn/index.php?title=Deoxyribonucleic_Axit_(DNA)&amp;diff=22446"/>
		<updated>2023-01-11T09:36:29Z</updated>

		<summary type="html">&lt;p&gt;Diemquynh834: Tạo trang mới với nội dung “{{sơ}}'''Deoxyribonucleic Axit (DNA)''' là một chất hữu cơ ở nhiễm sắc thể trong nhân tế bào mã hóa, mang thông tin di truyền v…”&lt;/p&gt;
&lt;hr /&gt;
&lt;div&gt;{{sơ}}'''Deoxyribonucleic Axit (DNA)''' là một chất hữu cơ ở nhiễm sắc thể trong nhân tế bào mã hóa, mang thông tin di truyền và là yếu tố cơ bản của di truyền.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Nguồn gốc của DNA==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Là chất truyền các đặc tính di truyền axit deoxyribonucleic (DNA) tự sao chép chính xác và xác định cấu trúc của các sinh vật mới bằng cách quản lý cấu trúc của protein. DNA lần đầu tiên được cô lập bởi thầy thuốc người Thụy Sĩ Friedrich Miescher, người mà vào năm 1869, đã khám phá ra một chất vi mô trong mủ của băng gạc được tháo bỏ sau phẫu thuật. Vì nó nằm trong nhân của tế bào, ông đã gọi nó là “nuclein”. Năm 1878, Albrecht Kossel đã cô lập được thành phần không phải là protein của “nuclein”, axit nucleic và sau đó ông cô lập được năm nucleobase cơ bản của nó. Năm 1919, Phoebus Levene nhận biết được các đơn vị của nucleotide là base, đường và phosphat. Levene đề xuất rằng DNA chứa một chuỗi các đơn vị nucleotide được liên kết với nhau bằng các nhóm phosphat. Levene đã nghĩ rằng mạch này là ngắn và các base lặp lại theo một thứ tự cố định. Năm 1937, William Astbury chụp được ảnh thành phần nhiễu xạ tia X đầu tiên cho thấy DNA có một cấu trúc đều đặn. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
DNA là phân tử mang thông tin di truyền dưới dạng bộ ba mã di truyền quy định mọi hoạt động sống (sinh trưởng, sinh sản, phát triển v.v.) của các sinh vật và hầu hết virus. Đây là từ viết tắt thuật ngữ tiếng Anh ''deoxyribonucleic acid'', viết tắt: ADN). DNA và RNA là những axit nucleic. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Cùng với protein, lipid và cacbohydrat cao phân tử (polysaccharide) đều là những đại phân tử sinh học chính có vai trò quan trọng thiết yếu đối với mọi dạng sống được biết đến. Phần lớn các phân tử DNA được cấu tạo từ hai mạch polyme sinh học xoắn đều quanh một trục tưởng tượng tạo thành chuỗi xoắn kép.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Hai mạch DNA này được gọi là các polynucleotide vì thành phần của chúng bao gồm các đơn phân ''nucleotide''. Mỗi nucleotide được cấu tạo từ một trong bốn loại nucleobase chứa nitơ hoặc là cytosine (C), guanine (G), adenine (A), hay thymine (T) - liên kết với đường deoxyribose và một nhóm phosphat. Các nucleotide liên kết với nhau thành một mạch DNA bằng liên kết cộng hóa trị giữa phân tử đường của nucleotide với nhóm phosphat của nucleotide tiếp theo, tạo thành “khung xương sống” đường - phosphat luân phiên vững chắc.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Những base nitơ giữa hai mạch đơn polynucleotide liên kết với nhau theo nguyên tắc bổ sung (A liên kết với T và C liên kết với G) thông qua các mối liên kết hydro để tạo nên chuỗi DNA mạch kép. Tổng số lượng cặp base liên quan tới DNA trên Trái Đất ước tính bằng 5,0 x 1037 và nặng khoảng 50 tỷ tấn. Để so sánh, tổng khối lượng của sinh quyển xấp xỉ bằng 4 nghìn tỷ tấn cacbon.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
DNA lưu trữ thông tin sinh học, các mã di truyền đến các thế hệ tiếp theo và để chỉ dẫn cho quá trình sinh tổng hợp protein. Mạch đơn DNA có liên kết hóa học vững chắc chống lại sự phân cắt và hai mạch đơn của chuỗi xoắn kép lưu trữ thông tin sinh học như nhau. Thông tin này được sao chép nhờ sự phân tách hai mạch đơn. Một tỷ lệ đáng kể DNA (hơn 98% ở người) là các đoạn DNA không mã hóa (non-coding), nghĩa là những vùng này không giữ vai trò mạch khuôn để xác định trình tự protein thông qua các quá trình phiên mã, dịch mã.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Hai mạch DNA chạy song song theo hai hướng ngược nhau. Gắn với mỗi phân tử đường là một trong bốn loại ''nucleobase'' (hay các base). Thông tin di truyền được mã hóa bởi trình tự của bốn nucleobase gắn trên mỗi mạch đơn. Những mạch RNA được tổng hợp từ những khuôn mẫu DNA trong quá trình phiên mã. Và dưới sự chỉ dẫn của mã di truyền, phân tử RNA tiếp tục được diễn dịch để xác định trình tự các axit amino ở cấu trúc protein trong quá trình dịch mã.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
DNA ở tế bào nhân thực (động vật, thực vật, nấm và nguyên sinh vật) được lưu trữ bên trong nhân tế bào và một số bào quan, như ty thể hoặc lục lạp. Ngược lại, ở sinh vật nhân sơ (vi khuẩn và vi khuẩn cổ), do không có nhân tế bào, DNA nằm trong tế bào chất. Bên trong tế bào, DNA tổ chức thành những cấu trúc dài gọi là ''nhiễm sắc thể'' (chromosome). Trong giai đoạn phân bào các nhiễm sắc thể hình thành được nhân đôi bằng cơ chế nhân đôi DNA, mang lại cho mỗi tế bào có một bộ nhiễm sắc thể hoàn chỉnh như nhau. Ở nhiễm sắc thể sinh vật nhân thực, những protein chất nhiễm sắc (chromatin) như histone giúp thắt chặt và tổ chức cấu trúc DNA. Chính cấu trúc thắt chặt này sẽ quản lý sự tương tác giữa DNA với các protein khác, quy định vùng nào của DNA sẽ được phiên mã.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
DNA là một polyme dài cấu tạo bởi các đơn phân nucleotide lặp lại. Cấu trúc DNA của mọi loài là không tĩnh (non-static), chứa hai mạch polynucleotide xoắn đều quanh một trục tưởng tượng theo chiều từ trái sang phải (xoắn phải), mỗi một vòng xoắn (khoảng 10,4 cặp nucleotide) dài 34 ångström (3,4 nm) và có bán kính 10 ångström (1,0 nm). Theo một nghiên cứu khác, khi đo đạc trong những dung dịch đặc biệt, chuỗi phân tử DNA rộng từ 22 đến 26 ångström (2,2 đến 2,6 nm) và một đơn vị nucleotide dài 3,3 Å (0,33 nm). Dù cho mỗi đơn vị lặp lại có kích thước rất nhỏ, polyme DNA vẫn có thể là những phân tử rất lớn chứa hàng triệu nucleotide. Ví dụ, DNA trong nhiễm sắc thể lớn nhất ở người, nhiễm sắc thể số 1, chứa xấp xỉ 220 triệu cặp base và dài đến 85 mm nếu được duỗi thẳng.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Phân biệt cấu trúc nucleoside và nucleotide==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Trong những sinh vật sống, DNA thường không tồn tại như một chuỗi đơn lẻ, mà thay vào đó là một cặp chuỗi liên kết chặt khít với nhau. Hai mạch dài này quấn vào nhau như dây leo, tạo thành hình xoắn ốc kép. Một nucleobase liên kết với một phân tử đường tạo thành cấu trúc gọi là ''nucleoside'' và một base liên kết với một phân tử đường và một hoặc nhiều nhóm phosphat gọi là ''nucleotide'' (nucleotide trong DNA và RNA là loại nucleotide chỉ mang một nhóm phosphat). Mạch polyme chứa nhiều nucleotide gắn kết với nhau (như trong DNA) được gọi là polynucleotide. Mỗi nucleotide chứa cả hai thành phần đường và nhóm phosphat đóng vai trò khung xương cho phân tử (giữ cho các đơn phân của mạch liên kết với nhau) và chứa nucleobase để tương tác với mạch DNA còn lại trong chuỗi xoắn kép thông qua hệ thống liên kết hydro.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Khung xương chính của mạch DNA hình thành từ các nhóm phosphat và phân tử đường luân phiên nhau. Phân tử đường trong DNA là 2-deoxyribose, một loại đường pentose (5 cacbon). Các phân tử đường liên kết với nhau thông qua trung gian nhóm phosphat tạo thành liên kết phosphodieste giữa nguyên tử cacbon thứ 3 với nguyên tử cacbon thứ 5 trên hai mạch vòng của hai phân tử đường kế cận. Liên kết bất đối xứng này cho phép xác định hướng chạy của mạch đơn DNA. Xem xét gần hơn trên một chuỗi xoắn kép, người ta nhận thấy các nucleotide hướng theo một chiều trên một mạch và theo chiều ngược lại trên mạch kia, gọi là: hai mạch ''hướng ngược chiều nhau hay đối song song'' (antiparallel). Các đầu không đối xứng kết thúc của chuỗi DNA là đầu 5′ (''năm phẩy'') và đầu 3′ (''ba phẩy''), với đầu 5′ kết thúc bởi nhóm phosphat và đầu 3′ kết thúc bởi nhóm hydroxyl (OH). Sự khác nhau chủ yếu giữa DNA và RNA là ở phân tử đường, với đường 2-deoxyribose trong DNA được thay thế bởi đường ribose trong RNA.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Một phần của DNA, các base nằm ngang giữa hai mạch xoắn. Hai mạch xoắn của chuỗi DNA được gắn ổn định bởi hai lực liên kết chính: liên kết hydro giữa các nucleotide của hai mạch và tương tác chồng chất (base-stacking) giữa các base thơm. Trong môi trường dung dịch của tế bào, liên kết π liên hợp của các base nucleotide sắp xếp vuông góc với trục của phân tử DNA, giảm thiểu tương tác của chúng với lớp vỏ solvat hóa (solvation shell) và do vậy làm giảm năng lượng tự do Gibbs. Bốn base trong DNA là adenine (viết tắt A), cytosine (C, ở Việt Nam còn viết là xitôzin, viết tắt X), guanine (G) và thymine (T). Bốn base này gắn với nhóm đường/phosphat để tạo thành nucleotide hoàn chỉnh, như adenosine monophosphate. Adenine ghép cặp với thymine và guanine ghép cặp với cytosine, ký hiệu bằng các cặp base A-T và G-C.&lt;br /&gt;
                                                                               &lt;br /&gt;
==Tài liệu tham khảo==&lt;br /&gt;
# Gribbin, John, ''In Search of the Double Helix'', New York: McGraw-Hill, 1985. &lt;br /&gt;
# Neil A. Campbell, Jane B. Reece, Lisa A. Urry, Michael L. Cain, Steven A. Wasserman, Peter V. Minorsky, Robert B. Jackson. “5”, ''Biology 8th Edition: Pearson Benjamin Cummings'', ISBN  978-0805368444, 2008, pp. 86.&lt;br /&gt;
# Harvey Lodish, Arnold Berk, Chris A. Kaiser, Monty Krieger, Anthony Bretscher. “4”, ''Molecular Cell Biology'', W. H. Freeman, ISBN 97814292341392017, 2012, pp. 2, .&lt;br /&gt;
# Alberts B., Johnson A., Lewis J., Raff M., Roberts K., Walter P., ''Molecular Biology of the Cell'' (ấn bản 6), Garland, pp. Chapter 4: DNA, Chromosomes and Genomes, ISBN 97808153 44322, 2014.&lt;br /&gt;
# Nuwer, Rachel, Counting All the DNA on Earth, ''The New York Times'' (New York: The New York Times Company), ISSN 0362-4331.2015, “The Biosphere: Diversity of Life”, ''Aspen Global Change Institute'', Basalt, CO. 2015, 2015.&lt;/div&gt;</summary>
		<author><name>Diemquynh834</name></author>
	</entry>
	<entry>
		<id>https://bktt.vn/index.php?title=Di_truy%E1%BB%81n_h%E1%BB%8Dc_h%C3%A0nh_vi&amp;diff=22442</id>
		<title>Di truyền học hành vi</title>
		<link rel="alternate" type="text/html" href="https://bktt.vn/index.php?title=Di_truy%E1%BB%81n_h%E1%BB%8Dc_h%C3%A0nh_vi&amp;diff=22442"/>
		<updated>2023-01-11T09:25:51Z</updated>

		<summary type="html">&lt;p&gt;Diemquynh834: Tạo trang mới với nội dung “{{sơ}}'''Di truyền học hành vi''' là một phân ngành của di truyền tâm lý nghiên cứu ảnh hưởng của thành phần di truyền c…”&lt;/p&gt;
&lt;hr /&gt;
&lt;div&gt;{{sơ}}'''Di truyền học hành vi''' là một phân ngành của di truyền tâm lý nghiên cứu ảnh hưởng của thành phần di truyền của một sinh vật lên hành vi của nó, cũng như sự tương tác giữa di truyền và môi trường lên hành vi. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Hai thập kỷ qua đã tạo ra sự gia tăng theo cấp số nhân trong nghiên cứu kiểm tra các yếu tố di truyền và môi trường ảnh hưởng đến cả các kiểu hành vi bình thường và không điển hình. Sự tích lũy nhanh chóng kiến thức mới này minh họa tác động rộng rãi của các phương pháp di truyền phân tử và hành vi.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Trong lĩnh vực Tâm lý học, di truyền học hành vi nghiên cứu về các kiểu hành vi gia đình hoặc hành vi kế thừa và các cơ chế di truyền của các đặc điểm hành vi của con người, tập trung vào mối quan hệ giữa sự biến đổi di truyền và các nét tâm lý. Một cách cụ thể hơn, di truyền học hành vi nghiên cứu về cách thức mà sự biến đổi di truyền có thể ảnh hưởng đến các kiểu hình tâm lý, bao gồm khả năng nhận thức, tính cách, bệnh tâm thần và thái độ xã hội của cá nhân.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Các phương pháp di truyền học hành vi được thiết kế để ước tính ảnh hưởng tương đối của các yếu tố di truyền và môi trường đối với sự khác biệt của cá nhân về một đặc điểm hoặc các triệu chứng của rối loạn. Ảnh hưởng của gen được định lượng bằng cách ước tính hệ số di truyền, tỷ lệ phương sai của quần thể đối với một tính trạng do ảnh hưởng của gen. Tỷ lệ phương sai do các yếu tố môi trường có thể được chia thành các ảnh hưởng môi trường được chia sẻ và không được chia sẻ. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Ảnh hưởng chung đến môi trường là những ảnh hưởng tương tự đến các thành viên trong một gia đình, do đó làm tăng tính tương đồng của các cá nhân trong một gia đình so với các cá thể không liên quan trong quần thể. Ngược lại, các ảnh hưởng môi trường không được chia sẻ có thể chỉ ảnh hưởng đến một cá nhân trong gia đình hoặc có ảnh hưởng khác đến các thành viên khác nhau trong gia đình. Trong cả hai trường hợp, ảnh hưởng môi trường không được chia sẻ là những ảnh hưởng dẫn đến sự khác biệt giữa các cá nhân trong một gia đình.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Vì các cá nhân không thể được phân công ngẫu nhiên vào các nguồn gốc môi trường hoặc di truyền khác nhau, các nghiên cứu về gia đình quan tâm đến vấn đề nhận con nuôi và sinh đôi đã tập trung vào các sự kiện xảy ra tự nhiên khác nhau để ước tính mức độ ảnh hưởng của một đặc điểm hoặc rối loạn do di truyền hoặc môi trường. Trong thiết kế nghiên cứu gia đình, tỷ lệ mắc chứng rối loạn được so sánh giữa những người thân ruột thịt của những người có và không mắc chứng rối loạn. Nếu chứng rối loạn xảy ra thường xuyên hơn ở các thành viên trong gia đình của những người mắc chứng rối loạn, điều này cho thấy rằng các yếu tố gia đình làm tăng nguy cơ mắc chứng rối loạn này.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Các nghiên cứu về gia đình trước đây đã phát hiện ra rằng hầu hết các đặc điểm rối loạn tâm lý đều có tính chất gia đình. Tuy nhiên, vì rối loạn có thể xảy ra trong các gia đình do ảnh hưởng di truyền hoặc các yếu tố môi trường chung, nên việc nhận con nuôi và nghiên cứu sinh đôi là cần thiết để lý giải vấn đề.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Các phương pháp tiếp cận di truyền phân tử cho thấy mặc dù ước tính 99,8% trình tự axit deoxyribonucleic (DNA) bao gồm mã di truyền của con người là giống hệt nhau giữa tất cả mọi người, trình tự di truyền khác nhau ở hàng nghìn vị trí trên 0,2% còn lại của bộ gen người. Nhiều sự khác biệt về trình tự này gây ra sự khác biệt riêng lẻ trong quá trình sản xuất protein, sau đó có thể dẫn đến sự khác biệt của từng cá nhân trong sự phát triển thần kinh hoặc hoạt động của não người trưởng thành nếu sự khác biệt về trình tự xảy ra trong một gen được biểu hiện trong hệ thống thần kinh trung ương. Hai phương pháp chính có thể được sử dụng để xác định vị trí gần đúng của các gen có chứa sự khác biệt về trình tự ảnh hưởng đến một tính trạng.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Nhà tâm lý học Turkheimer (2010) qua hàng loạt các thực nghiệm nghiên cứu trên các cặp song sinh, trên những người là con nuôi và các mối quan hệ họ hàng khác đã ghi nhận 3 quy luật của di truyền hành vi, gồm:&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
# Tất cả các đặc điểm hành vi của con người đều mang tính di truyền, theo nghĩa là các đặc điểm hành vi bị ảnh hưởng ở một mức độ nào đó bởi sự biến đổi gen.&lt;br /&gt;
# Ảnh hưởng của việc được nuôi dưỡng trong cùng một gia đình nhỏ hơn so với ảnh hưởng của kiểu gen.&lt;br /&gt;
# Một phần đáng kể của những biến đổi phức tạp trong kiểu hành vi của con người không được tính là do ảnh hưởng của gen hay của gia đình.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Kế thừa từ các tiến bộ khoa học liên quan đến việc giải mã bộ gen, các phát hiện về ADN, Chabris và cộng sự (2015) đã bổ sung thêm quy luật thứ tư, đó là: &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Một đặc điểm hành vi điển hình của con người có liên quan đến rất nhiều biến thể di truyền, mỗi biến thể chỉ chiếm một tỷ lệ rất nhỏ trong các biến thể hành vi.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Nhìn chung, những thảo luận xoay quanh ý niệm “tự nhiên hay nuôi dưỡng”, nghĩa là thảo luận về đặc điểm tâm lý của con người do ảnh hưởng của những kế thừa về mặt sinh học hay do tác động từ môi trường sống (như môi trường giáo dục, xã hội) trong một thời gian dài đã đi đến thống nhất là cả di truyền và môi trường đều tác động đến hành vi con người. Các nhà tâm lý học đương đại tập trung nhiều hơn vào câu hỏi: Làm thế nào để gen và môi trường phối hợp với nhau để ảnh hưởng đến hành vi con người?&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Về ý nghĩa nghiên cứu di truyền hành vi đối với hệ thống chẩn đoán và chẩn đoán tâm thần trong tương lai cho thấy trái ngược với các tình trạng các bệnh như bệnh Parkinson do một gen duy nhất gây ra, ngày càng có nhiều dữ liệu cho thấy rằng hầu như tất cả các đặc điểm và rối loạn tâm lý đều do sự kết hợp của nhiều yếu tố di truyền, môi trường và các yếu tố rủi ro. Hơn nữa, có khả năng nhiều gen này làm tăng nguy cơ mắc nhiều hơn một chứng rối loạn, làm cho ranh giới giữa các chẩn đoán tương đối khác biệt có thể khó nhận ra. Các phương pháp hành vi và di truyền phân tử sẽ cung cấp một công cụ thiết yếu để cải thiện bệnh học của các chẩn đoán tâm thần bằng cách tiết lộ các yếu tố nguy cơ phổ biến và duy nhất góp phần vào sự phát triển của các rối loạn phức tạp.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Tài liệu tham khảo==&lt;br /&gt;
# Turkheimer, E., ''Three laws of behavior genetics and what they mean, Current Directions in Psychological Science'', 9, 2000, pp. 160 - 164.&lt;br /&gt;
# American Psychological Association, ''APA concise dictionary of psychology'', Washington, DC: American Psychological Association, 2009.&lt;br /&gt;
# Chabris, C.F., Lee, J.J., Cesarini, D., Benjamin, D.J., &amp;amp; Laibson, D.I., ''The Fourth Law of Behavior Genetics, Current Directions in Psychological Science'', 24 (4), doi: 10.1177/096372 1415580430, 2015, pp. 304 - 312.&lt;/div&gt;</summary>
		<author><name>Diemquynh834</name></author>
	</entry>
	<entry>
		<id>https://bktt.vn/index.php?title=%C4%90%C3%A0o_t%E1%BA%A1o_quan_h%E1%BB%87_con_ng%C6%B0%E1%BB%9Di&amp;diff=22438</id>
		<title>Đào tạo quan hệ con người</title>
		<link rel="alternate" type="text/html" href="https://bktt.vn/index.php?title=%C4%90%C3%A0o_t%E1%BA%A1o_quan_h%E1%BB%87_con_ng%C6%B0%E1%BB%9Di&amp;diff=22438"/>
		<updated>2023-01-11T09:14:55Z</updated>

		<summary type="html">&lt;p&gt;Diemquynh834: Tạo trang mới với nội dung “{{sơ}}'''Đào tạo quan hề con người''' là một quá trình có mục đích của nhà tâm lý học hoặc điều phối viên đã được…”&lt;/p&gt;
&lt;hr /&gt;
&lt;div&gt;{{sơ}}'''Đào tạo quan hề con người''' là một quá trình có mục đích của nhà tâm lý học hoặc điều phối viên đã được đào tạo nhằm nâng cao nhận thức và kỹ năng của bản thân, sự thấu hiểu về những người khác, tăng hiệu quả quản lý và hiệu quả làm việc nhóm của đối tượng đào tạo trong một khoảng thời gian xác định.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Carl Rogers từng dự báo “Đào tạo quan hệ con người giống như phát minh xã hội quan trọng nhất của thế kỷ XX”. Tuy nhiên, trên thực tế, đào tạo quan hệ con người đã không đáp ứng được những kỳ vọng vốn có trong tuyên bố đó. đào tạo quan hệ con người  , hay còn được biết đến là đào tạo các nhóm động lực, các nhóm gặp gỡ, huấn luyện tính nhạy cảm hay các Nhóm-T (T-groups) (để đào tạo), hiếm khi là tâm điểm của lý thuyết hoặc thực hành tâm lý học trong thập kỷ đầu tiên của thế kỷ XXI. Với những trường hợp ngoại lệ khả thi của những người đã cam kết với quan điểm tâm lý học nhân văn, đào tạo quan hệ con người   đơn giản đã trở thành một phương pháp tiếp cận để làm tăng hiệu quả quản lý và hiệu quả làm việc nhóm.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Quá trình đào tạo quan hệ con người   điển hình thường bao gồm một nhóm nhỏ, từ 12 đến 15 người cùng nhau gặp gỡ trong một khoảng thời gian xác định với mục tiêu nâng cao nhận thức của bản thân, sự thấu hiểu về những người khác và kiến thức cũng như kỹ năng của họ về động lực nhóm nhỏ. Với sự hỗ trợ của một điều phối viên đã được đào tạo, các nhóm theo quy trình đã được định hướng này sẽ cùng tham gia vào các cuộc thảo luận, các hoạt động và bài tập cho phép người tham gia thể hiện bản thân mình và đồng thời nhận lại những phản hồi qua phản ứng của các thành viên khác trong nhóm về sự thể hiện đó được họ cảm nhận ra sao.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Khi mỗi thành viên trong nhóm cung cấp phản hồi, họ sẽ hiểu được phản ứng của họ giống với những thành viên khác như thế nào, và bởi thế, họ cũng sẽ hiểu họ là những người quan sát hiệu quả ra sao. Yếu tố chìa khóa để thúc đẩy sự thay đổi thông qua đào tạo quan hệ con người   là quá trình phản hồi, ở đó những quan sát và phản ứng khác nhau được chia sẻ. Điều phối viên hoặc người hướng dẫn sẽ giải thích, làm mẫu và giám sát những phản hồi để đảm bảo rằng tất cả những phản hồi đó đều dựa trên hành vi, không phán xét và được đưa ra trong một bối cảnh hữu ích.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Qua quá trình phản hồi này, người tham gia sẽ hiểu hơn về bản thân họ, đặc biệt là sức ảnh hưởng từ hành vi của họ lên những người khác. Các chương trình đào tạo này thường kéo dài từ 2 đến 5 ngày.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Một mô hình hữu dụng để hiểu được đào tạo quan hệ con người   thực hiện chức năng như thế nào để nâng cao nhận thức của bản thân là Cửa sổ Johari (Johari Window) (Luft, 1961). &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Trong mô hình Cửa sổ Johari (Johari Window), ở góc phần tư thứ nhất (góc phần tư mở hay công khai - Ô mở) thể hiện những hành vi được biết đến với bản thân và những người khác. Góc phần tư thứ hai (góc phần tư khó nhận thấy - Ô mù) thể hiện những hành vi được mọi người nhận biết nhưng bản thân khó nhận ra. Trong khi đó, góc phần tư thứ ba (góc phần tư được ẩn dấu hay bí mật - Ô ẩn) lại đề cập đến những hành vi được nhận biết bởi bản thân, còn người khác thì khó nắm bắt. Góc phần tư thứ tư (góc phần tư chưa được biết đến - Ô đóng) thể hiện những hành vi mà cả bản thân lẫn những người xung quanh đều khó nhận biết. Có thể nói, mục tiêu quan trọng nhất của đào tạo quan hệ con người   là gia tăng diện tích của khu vực công khai (góc phần tư thứ nhất) và giảm thiểu diện tích của khu vực khó nhận thấy và được ẩn dấu (góc phần tư thứ hai và thứ ba). Việc gia tăng khu vực công khai này được cho là cách thức quan trọng để tăng năng lực và hiệu quả tương tác trong các mối quan hệ giữa con người với con người. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Một người có thể mở rộng góc phần tư thứ nhất (khu vực công khai) của họ qua việc bộc lộ bản thân, từ đó giảm thiểu góc phần tư thứ ba (khu vực bí mật) và qua việc tiếp nhận những phản hồi về hành vi của người đó, đặc biệt là ảnh hưởng của hành vi này lên người khác, điều này làm giảm thiểu góc phần tư thứ hai (khu vực khó nhận thấy). Đào tạo quan hệ con người   thường được thiết kế để khơi gợi ra những hành vi bộc lộ bản thân - những hành vi thường không được thể hiện bởi cá nhân, cho phép người khác mở rộng hiểu biết về một con người. Sau đó, người lãnh đạo hoặc người hướng dẫn sẽ động viên cá nhân yêu cầu phản hồi về ảnh hưởng của những hành vi đó lên các thành viên khác trong nhóm. Do đó, việc bộc lộ bản thân và phản hồi sẽ làm tăng góc phần tư thứ nhất (khu vực mở hay công khai) và có khả năng làm tăng năng lực tương tác giữa người với người. Sự giảm thiểu kích thước góc phần tư thứ hai (khu vực khó nhận thấy) và thứ ba (khu vực được che dấu) sau đó có thể giảm thiểu kích thước của góc phần tư thứ tư (khu vực chưa được biết đến). Tất cả những điều này được tiến hành trong môi trường thí nghiệm mà khuyến khích các thử nghiệm về hành vi và cũng là nơi mà sự tin tưởng, sự không đề phòng và sự ấm áp giữa người với người chiếm ưu thế. Theo một kiểu tương tự, những người tham gia vào quá trình đào tạo quan hệ con người   có thể được trợ giúp bởi điều phối viên để quan sát các quá trình làm việc nhóm khác nhau khi chúng diễn ra trong chương trình. Các giai đoạn khác nhau của sự phát triển nhóm có thể được ghi chú lại và các vai trò nhóm khác nhau mà người tham gia đóng có thể được kiểm tra, các quá trình đưa ra quyết định của nhóm cũng có thể được xem xét, v.v. Do đó, đào tạo quan hệ con người được xem như một phương tiện biểu lộ cho cả việc học tập, tìm hiểu về bản thân và cả động lực nhóm.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Vai trò của điều phối viên (được biết đến như người hướng dẫn hay người lãnh đạo nhóm) trong đào tạo quan hệ con người là hỗ trợ nhóm trong việc thiết lập cấu trúc và những chuẩn mực ngay từ thời gian đầu tiên của quá trình học tập, ở cả hai mức độ: bản thân và nhóm.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Có một vài lý do làm giảm hứng thú trong đào tạo quan hệ con người   dưới góc độ của các nhà tâm lý học. Sự thiếu hụt của việc tiêu chuẩn hóa trong đào tạo quan hệ con người, nhiều sự thay đổi trong việc rèn luyện và các kỹ năng của điều phối viên đào tạo quan hệ con người và những báo cáo về sự suy sụp cảm xúc nghiêm trọng trong đào tạo quan hệ con người đều là những tác nhân, cũng như những giảm sút về hứng thú bởi các nhà tâm lý học xã hội trong nghiên cứu các nhóm nhỏ (Goodstein &amp;amp; Dovico, 1979). Nhưng có lẽ, yếu tố quan trọng nhất là việc thiếu hụt các bằng chứng theo kinh nghiệm về hiệu quả dài lâu của đào tạo quan hệ con người.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Nghiên cứu về tính hiệu quả của đào tạo quan hệ con người gợi ý rằng mặc dầu việc đào tạo này có thể mang lại những thay đổi tích cực về hành vi nhưng vẫn còn khá ít các bằng chứng về tác động của việc đào tạo khi chuyển sang môi trường nhà ở của những người tham gia. Một trường hợp ngoại lệ đối với những phát hiện này là bản báo cáo của Hand, Richards và Slocum (1973), họ đã theo dõi một nhóm các nhà quản lý trong vòng 18 tháng sau khi những người đó tham gia vào quá trình đào tạo quan hệ con người và nhận thấy rằng, trái ngược với nhóm kiểm soát phù hợp, những thành viên trong nhóm được đào tạo đã có nhiều hiểu biết hơn về bản thân và nhạy cảm hơn với những người khác và những người cấp dưới của họ cũng nhận ra những sự thay đổi này. Nghiên cứu cũng đã chỉ ra những đánh giá về sự thể hiện này chỉ tăng lên đối với những người tham gia đã được đào tạo, hướng dẫn - những người làm việc trong môi trường tư vấn, nhưng điều đó không đúng với những người hoạt động trong môi trường độc lập. Nhìn chung, các chứng cứ ủng hộ cho tác động lâu dài của đào tạo quan hệ con người lên năng lực tương tác giữa người với người là có hạn, điều này chắc chắn là một yếu tố quan trọng trong đào tạo quan hệ con người.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Tuy nhiên, những gì đạt được quan trọng nhất của đào tạo quan hệ con người là sự tập trung vào tầm quan trọng của phản hồi trong việc thay đổi hành vi con người. Sự tập trung này có thể giúp giải thích cho hứng thú hiện thời của các nhà tâm lý học và những người khác trong việc sử dụng “phản hồi 360 độ” và trong huấn luyện quản lý dựa trên những phản hồi đó. Trong “phản hồi 360 độ”, mỗi cá nhân được đánh giá bởi cấp trên, người ngang hàng và cấp dưới bằng cách sử dụng công cụ đánh giá hành vi tiêu chuẩn, đáng tin cậy. Những đánh giá này sau đấy sẽ được so sánh với đánh giá bản thân của từng cá nhân và bất cứ sự khác biệt nào đều trở thành cơ sở cho việc đào tạo/huấn luyện làm giảm thiểu những khác biệt này - một quá trình có mục đích tương tự như đào tạo quan hệ con người   nhưng dựa trên tập dữ liệu mà những nhà tâm lý học tin cậy.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Tài liệu tham khảo==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
# Luft, J., ''The Johari window: A graphic model of awareness in interpersonal behavior, Human Relations Training News'', 5 (1), 1961, 6 - 7. &lt;br /&gt;
# Campbell, J. R., &amp;amp; Dunnette, M. D., ''The effectiveness of Tgroup experiences in managerial training and development, Psychological Bulletin'', 70, 1968, pp. 73 - 104. &lt;br /&gt;
# Dunnette, M. D., &amp;amp; Campbell, J. P., ''Laboratory education: Impact on people and organizations, Industrial Relations'', 8, 1968, pp. 1 - 45.&lt;br /&gt;
# Hand, H. H., Richards, M. D., &amp;amp; Slocum, J. W., ''Organizational climate and the effectiveness of a human relations training program, Academy of Management Journal'', 16 (2), 1973, pp. 185 - 195.&lt;br /&gt;
# Goodstein, L. D., &amp;amp; Dovico, M., ''The rise and fall of the small group, Journal of Applied Behavioral Science'', 15, 1979, pp. 320 - 328.&lt;/div&gt;</summary>
		<author><name>Diemquynh834</name></author>
	</entry>
	<entry>
		<id>https://bktt.vn/index.php?title=Giai_%C4%91o%E1%BA%A1n_ph%C3%A1t_tri%E1%BB%83n_c%E1%BB%A7a_Erickson&amp;diff=22436</id>
		<title>Giai đoạn phát triển của Erickson</title>
		<link rel="alternate" type="text/html" href="https://bktt.vn/index.php?title=Giai_%C4%91o%E1%BA%A1n_ph%C3%A1t_tri%E1%BB%83n_c%E1%BB%A7a_Erickson&amp;diff=22436"/>
		<updated>2023-01-11T09:00:37Z</updated>

		<summary type="html">&lt;p&gt;Diemquynh834: Tạo trang mới với nội dung “ {{sơ}}'''Giai đoạn phát triển của Erickson (Tên cũ: Các giai đoạn phát triển của Erickson )''' là lý thuyết phân tích tâm lý…”&lt;/p&gt;
&lt;hr /&gt;
&lt;div&gt;&lt;br /&gt;
{{sơ}}'''Giai đoạn phát triển của Erickson (Tên cũ: Các giai đoạn phát triển của Erickson )''' là lý thuyết phân tích tâm lý học toàn diện, xác định một chuỗi gồm 8 giai đoạn mà một người phát triển lành mạnh sẽ phải trải qua từ lúc lọt lòng cho đến khi già. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Năm 1959, nhà tâm lý học Mỹ, gốc Đức Erik Erikson (1902 - 1994) đưa ra lý thuyết về các giai đoạn phát triển tâm lý theo lứa tuổi.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Năm giai đoạn đầu diễn ra tới năm 18 tuổi và ba giai đoạn còn lại trải dài tới tuổi trưởng thành. Mỗi giai đoạn được đặc trưng bởi một dạng khủng hoảng tâm lý xã hội xuất phát từ sự xung đột giữa nhu cầu của cá nhân và yêu cầu của xã hội. Nếu khủng hoảng này được giải quyết nó sẽ là tiền đề cho sự phát triển tâm lý của cá nhân trong giai đoạn tiếp theo. Ngược lại, nếu khủng hoảng không được giải quyết thì sự thất bại này sẽ gây nên những rối loạn phát triển trong những giai đoạn sau của con người.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Giai đoạn 1: ''Niềm tin và nghi ngờ (từ 0 - 1 tuổi)'': Trong giai đoạn này, trẻ có quan hệ xã hội chủ yếu với bố, mẹ, đặc biệt là người mẹ và những người trong gia đình. Sự quan tâm, chăm sóc của bố mẹ tạo cho trẻ lòng tin, cảm giác được thỏa mãn, thứ mà chúng sẽ mang theo đến các mối quan hệ khác và chúng sẽ có thể cảm thấy an toàn ngay cả khi bị đe dọa. Thành công trong giai đoạn này sẽ dẫn đến đức tin. Bằng cách phát triển cảm giác tin tưởng, trẻ có thể hy vọng rằng ngay cả khi có khủng hoảng mới xảy ra thì vẫn có khả năng sẽ có người giúp đỡ chúng. Không có được đức tin sẽ dẫn đến sự phát triển của sợ hãi.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Giai đoạn 2: ''Niềm tin và nghi ngờ (1 - 3 tuổi)'': Đây là giai đoạn hình thành tính tự chủ, ý thức độc lập, mong muốn có quyền riêng ở đứa trẻ. Trẻ luôn luôn nói “để con”, “của con”, “tự con làm”,… và đôi khi chúng tỏ ra bướng bỉnh. Những hành vi luôn ngăn cấm và hạn chế sự thể hiện tính độc lập của trẻ sẽ làm cho trẻ dễ nảy sinh cảm giác nghi ngờ, xấu hổ dẫn đến nhút nhát và lệ thuộc vào người khác. Nếu trẻ trong giai đoạn này được khuyến khích và hỗ trợ để trở nên độc lập, chúng sẽ trở nên tự tin hơn và giữ vững khả năng của mình để tồn tại trong thế giới. Nếu trẻ em bị chỉ trích, quá kiểm soát, hoặc không có cơ hội để khẳng định mình, chúng bắt đầu cảm thấy không đủ khả năng để tồn tại và sau đó có thể trở nên quá phụ thuộc vào người khác, thiếu lòng tự tôn và cảm thấy có một cảm giác xấu hổ hay nghi ngờ vào khả năng của mình.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Giai đoạn 3: ''Khả năng khởi sự công việc và mặc cảm - Giai đoạn phallic (3 - 6 tuổi)'': Nó còn được coi là giai đoạn của óc sang kiến - giai đoạn của sự sáng tạo, bởi trẻ khá tò mò, muốn tìm hiểu thế giới xung quanh bằng nhiều con đường. Chính vì vậy, chúng thường có những trò chơi nguy hiểm, hay đặt ra nhiều câu hỏi “tại sao?”. Nếu có được cơ hội này, trẻ em phát triển ý thức chủ động và cảm thấy an toàn về khả năng để dẫn dắt người khác và đưa ra quyết định của mình. Ở giai đoạn này cần động viên, khuyến khích trí tưởng tượng, tò mò của trẻ dưới sự kiểm soát của người lớn. Ngược lại, nếu xu hướng này bị cản trở hoặc trẻ bị nhận những lời chỉ trích, bị kiểm soát, sẽ phát triển cảm giác tội lỗi ở chúng. Lúc đó trẻ cảm thấy bản thân giống như một mối phiền toái cho người khác và vì thế sau này chúng sẽ là người luôn theo sau, thiếu sự chủ động, trẻ sẽ không biết làm việc tốt, có xu hướng rụt rè và cảm giác tội lỗi.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Giai đoạn 4: ''Giai đoạn tiềm ẩn (6 - tuổi dậy thì)'': Trẻ ở giai đoạn này thường cần cù, chăm chỉ, hào hứng tiếp thu những kỹ năng mới. Quan hệ xã hội với bạn bè bắt đầu chiếm tỷ trọng lớn. Nếu trẻ em được khuyến khích và củng cố cho các sáng kiến của mình, chúng bắt đầu cảm thấy cần cù và cảm thấy tự tin vào khả năng của mình để đạt được mục đích đề ra. Nếu sáng kiến này không được khuyến khích, khi bị hạn chế bởi cha mẹ hoặc giáo viên, trẻ bắt đầu cảm thấy thua kém hơn, nghi ngờ khả năng của mình và vì vậy có thể không đạt tới tiềm năng thực của mình. Cơ thể của trẻ phát triển chưa cân đối, sự điều hòa, phối hợp chân tay chưa nhịp nhàng và ăn khớp, do vậy đôi khi trẻ tỏ ra vụng về. Không vì vậy mà la mắng trẻ, hãy khuyến khích trẻ tham gia các hoạt động, đây là tiền đề cho việc hình thành cảm giác thành công ở trẻ. Sự cấm đoán sẽ làm cho trẻ không dám giao tiếp, không có cơ hội để phát triển trí tuệ. Cảm giác tự ti, kém cỏi cũng bắt nguồn từ chính những hạn chế này.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Giai đoạn 5: ''Giai đoạn sinh dục (Tuổi dậy thì đến 20 tuổi)'': Khi này cơ thể trẻ đã phát triển nhanh, cân đối dần và đây là thời kỳ quá độ từ trẻ em sang người lớn. Một mặt, trẻ đang muốn thể hiện sự “người lớn” ở mình nhưng đôi khi cũng có những biểu hiện thoái bộ về thời nhỏ. Chúng đã tạo dựng cho mình lòng tự trọng rất lớn. Trong khoảng thời gian này, trẻ tìm hiểu và bắt đầu hình thành bản sắc riêng của mình dựa trên các kết quả của các cuộc khám phá. Thất bại trong việc thiết lập một ý thức về bản sắc trong xã hội (“Tôi không biết những gì tôi muốn khi tôi lớn lên”) có thể dẫn đến nhầm lẫn vai trò. Nhầm lẫn vai trò liên quan đến các cá nhân không được chắc chắn về bản thân hoặc vị trí của mình trong xã hội. Thái độ và hành vi thể hiện sự không tôn trọng trẻ hay những lời quở trách, phê phán đối với trẻ dễ làm cho trẻ tự ái hay dỗi hờn.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Giai đoạn 6: ''Gắn bó và Cô lập (20 - 35 tuổi)'': Erik Erikson xem đây là tuổi của yêu thương và lao động (tình yêu nam nữ, tình cảm gia đình, bố mẹ, con cái..), học hành và nghề nghiệp. Trong giai đoạn này, khả năng độc lập, tự chủ, ý chí nghị lực, tinh thần trách nhiệm của cá nhân là khá cao. Nếu không có được sự yêu thương con người có xu hướng cô lập, vị kỷ, tự say mê với chính mình.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Giai đoạn 7: ''Sáng tạo và Ngừng trệ (35 - 60 tuổi)'': Lứa tuổi trung niên là lứa tuổi mà phần lớn cá nhân đã có sự hoàn thiện về gia đình, nghề nghiệp, quan hệ xã hội. Những người ở lứa tuổi này đã tích lũy được nhiều kinh nghiệm sống cũng như kinh nghiệm trong công việc, vì vậy người ta thường coi đây là giai đoạn của tư duy sáng tạo, của sự hoàn thiện với tính độc lập cao, khả năng tự chủ và  cống hiến cho khoa học kỹ thuật cũng như cho gia đình và xã hội. Nếu như cá nhân trong giai đoạn này chưa đạt được các yêu cầu về gia đình, xã hội và nghề nghiệp, thì họ thường rơi vào tình trạng ngưng trệ, thường có cảm giác như không làm được việc gì đó quan trọng cho bản thân, gia đình và xã hội.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Giai đoạn 8: ''Hoàn thành và Thất vọng (60 tuổi trở đi)'': Khi đã vào giai đoạn này con người thường có thay đổi lớn theo hướng giảm sút về sức khỏe, về thu nhập và các mối quan hệ xã hội. Việc con cái trưởng thành, lập gia đình và sống độc lập, hay chấm dứt lao động để về hưu dễ làm họ có cảm giác hụt hẫng, thậm chí cảm thấy cô đơn, lo lắng. Nếu người già mãn nguyện với những gì họ đã đạt được ở trong các giai đoạn trước như sự nghiệp, gia đình, con cái,… thì họ dễ dàng chấp nhận những giảm sút về sức khỏe, thu nhập và vị thế xã hội, họ cũng không day dứt khi cận kề cái chết. Ngược lại, những người thấy mình chưa làm được nhiều điều, chưa hoàn thành “nghĩa vụ” đối với gia đình và xã hội, khi về già họ thường kém thích nghi với những thay đổi, quá trình lão hóa ở họ diễn ra nhanh hơn và họ thường hối tiếc về quá khứ.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Học thuyết về các giai đoạn phát triển tâm lý theo lứa tuổi của Erik Erikson mang lại nhiều đóng góp cho tâm lý học phát triển. Cùng với các học thuyết phát triển tâm lý theo giai đoạn khác trong Tâm lý học, ông đã dựng nên một khung khổ phát triển tâm lý con người từ lúc sinh ra đến lúc về già sát với cuộc sống, một lý thuyết phát triển có thể kiểm chứng bằng thực tiễn. Một trong những thế mạnh của lý thuyết Erikson là khả năng kết hợp chặt chẽ các giai đoạn phát triển tâm lý quan trọng trong cả vòng đời con người. Tuy nhiên, lý thuyết về các giai đoạn phát triển tâm lý xã hội của Erikson là khá mơ hồ về nguyên nhân của những sự phát triển. Nó cũng chưa chỉ ra được những kinh nghiệm nào con người cần phải có để thành công giải quyết những xung đột tâm lý xã hội khác nhau và chuyển từ giai đoạn này qua giai đoạn khác? Lý thuyết của ông cũng không đưa ra được một cơ chế chung để giải quyết khủng hoảng tâm lý ở các giai đoạn phát triển.&lt;br /&gt;
                                                                                          &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Tài liệu tham khảo==&lt;br /&gt;
# Vũ Dũng (Chủ biên), ''Từ điển Tâm lý học'', Nxb. Từ điển bách khoa, Hà Nội, 2008.&lt;br /&gt;
# Erikson, Erik H. (Erik Homburger), ''Dimensions of a new identity'', W.W. Norton and Co. ISBN 9780393009231, OCLC 732894649, 1979.&lt;br /&gt;
# Gross, R. D., &amp;amp; Humphreys, P., ''Psychology: The science of mind and behaviour'', London: Hodder &amp;amp; Stoughton, 1992.&lt;br /&gt;
# Bee, H. L., ''The developing child'', London: HarperCollins, 1992.&lt;br /&gt;
# McAdams, D. P., &amp;amp; De St. Aubin, E., ''A Theory of Generativity and Its Assessment through Self-Report, Behavioral Acts, and Narrative'' Themes in Autobiography, Journal of Personality and Social Psychology, 62 (6), Retrieved February 15, 2017, 1992, pp. 1.003 - 1.015.&lt;br /&gt;
# Raymond J. Corsini, ''The Dictionary of Psychology'', Braun - Brumfield, ML, 1999.&lt;br /&gt;
# Hutchison, Elizabeth D., ''Dimensions of Human Behavior: The Changing Life Course'', 4th ed., Vol. 10, SAGE Publications Ltd, 2010.&lt;/div&gt;</summary>
		<author><name>Diemquynh834</name></author>
	</entry>
	<entry>
		<id>https://bktt.vn/index.php?title=L%C3%A0m_vi%E1%BB%87c_v%C3%A0_vui_ch%C6%A1i_(T%E1%BB%AB_c%C5%A9:_Ch%C6%A1i_v%C3%A0_l%C3%A0m_vi%E1%BB%87c)&amp;diff=22434</id>
		<title>Làm việc và vui chơi (Từ cũ: Chơi và làm việc)</title>
		<link rel="alternate" type="text/html" href="https://bktt.vn/index.php?title=L%C3%A0m_vi%E1%BB%87c_v%C3%A0_vui_ch%C6%A1i_(T%E1%BB%AB_c%C5%A9:_Ch%C6%A1i_v%C3%A0_l%C3%A0m_vi%E1%BB%87c)&amp;diff=22434"/>
		<updated>2023-01-11T08:47:08Z</updated>

		<summary type="html">&lt;p&gt;Diemquynh834: Tạo trang mới với nội dung “{{sơ}}'''Làm việc và vui chơi (Từ cũ: Chơi và làm việc)''' là quá trình hành động với đối tượng để đạt được mục t…”&lt;/p&gt;
&lt;hr /&gt;
&lt;div&gt;{{sơ}}'''Làm việc và vui chơi (Từ cũ: Chơi và làm việc)''' là quá trình hành động với đối tượng để đạt được mục tiêu vật chất, tinh thần đặt ra. Vui chơi là quá trình làm việc với đối tượng để đạt được mục tiêu tinh thần, giải trí. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Đặc tính công nghệ của các nền văn minh hiện đại tiên tiến có xu hướng tách biệt giữa công việc và giải trí. Một phần mở rộng hơn nữa của những sự tách biệt này là để phân biệt động cơ làm việc với động cơ giải trí. Trong đó, động cơ làm việc là duy trì sự sống, còn động cơ chơi là đáp ứng lợi ích của cá nhân. Do đó, làm việc là sự nỗ lực có mục đích, gồm những hành động mang tính hiệu quả; còn chơi là hoạt động mang tính lựa chọn tự do, làm theo mong muốn của cá nhân.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Mối quan hệ làm việc và vui chơi==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Làm việc và vui chơi là sự kết hợp khác nhau của nỗ lực, sự ép buộc và tính tự phát. Khi cá nhân càng nỗ lực, thời gian chịu đựng càng lâu thì áp lực phải dừng lại và nghỉ ngơi càng trở nên mạnh mẽ. Sự quan tâm và can thiệp bên trong hoặc những mối đe dọa trừng phạt hoặc hủy diệt bên ngoài là các yếu tố duy trì sự nỗ lực chống lại áp lực đang tích tụ. Tính tự phát đề cập đến sự quan tâm, tự đầu tư và thể hiện bản thân. Các yếu tố này sẽ chuyển hóa những hoạt động đầy nỗ lực thành sự tự thể hiện sáng tạo, vui tươi. Hoạt động biến đổi này là hình ảnh thu nhỏ của chơi. Đối với trẻ việc làm việc và vui chơi gắn liền với nhau.  &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Nghiên cứu về tổ chức gần đây cho thấy bức tranh khác nhau về mối quan hệ này. Chơi đóng có thể đóng vai trò thúc đẩy sự đổi mới, động cơ và tính linh hoạt trong công việc, tuy vậy, công việc và chơi không tách rời nhau trong tổ chức hậu công nghiệp. Nhiều tổ chức ngày càng gia tăng ý thức thử nghiệm các hình thức chơi khác nhau, chẳng hạn như bài tập xây dựng nhóm, trò chơi mô phỏng, hoạt động giải câu đố, những bữa tiệc văn phòng, những ngày hội hóa trang theo chủ đề.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Chơi như là việc tiếp tục công việc, can thiệp vào công việc và chiếm đoạt công việc. Trong quan hệ thứ nhất (chơi là việc tiếp tục công việc), vui chơi và làm việc được tách biệt nhưng vẫn nằm trong mối quan hệ hợp tác, ở đó, cả hai đều đóng góp vào việc đạt được mục tiêu của tổ chức. Trong tình huống này, chơi được định nghĩa hoàn toàn gần như theo công việc, chẳng hạn như trong các môn thể thao của công ty, nhiều trường hợp mà trò chơi được sử dụng trực tiếp để thúc đẩy các quy trình tổ chức khác nhau. Trong mối quan hệ thứ hai (đóng vai như sự can thiệp vào công việc), chơi mang tính tự chủ hơn: mối quan hệ của nó với công việc không còn hài hòa. Trò chơi có thể khắc phục một cuộc khủng hoảng trong tổ chức và như là cách xử lý khủng hoảng để đạt được mục tiêu xác định. Trong mối quan hệ thứ ba (chơi chiếm vị trí soán ngôi) khi chơi thể hiện khả năng đảm nhận những công việc trọng tâm trong tổ chức, những công việc mà bản thân làm việc không có khả năng giải quyết.  &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Các giai đoạn phát triển làm việc và vui chơi== &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
* ''Giai đoạn thơ ấu'': Theo các nhà nghiên cứu, ở trẻ em, chơi là một hoạt động tiêu hao năng lượng dư thừa và là phương tiện giúp trẻ nâng cao khả năng làm chủ. Trẻ em sử dụng các trò chơi để thử sức và chuẩn bị cho vai trò người lớn được mong đợi. Sự phát triển về thể chất và trí tuệ của đứa trẻ đi kèm với những trò chơi tinh vi hơn với yêu cầu làm chủ.  &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
* ''Giai đoạn lao động'': Các nhà tâm lý học và xã hội học công nghiệp chỉ ra rằng nhiều công việc và nghề nghiệp yêu cầu và cho phép những cam kết lâu dài cùng với sự tự thể hiện linh hoạt. Đây là sự pha trộn giữa sự ép buộc, nỗ lực và tính tự phát, đánh dấu sự kết hợp giữa công việc và vui chơi.  &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
* ''Giai đoạn nghỉ ngơi và nghỉ hưu'': Trong giai đoạn này, người lao động sử dụng thời gian không làm việc vào các công việc thứ hai, các hoạt động giáo dục, công việc gia đình và chăm sóc trẻ em.  &lt;br /&gt;
                                                                                         &lt;br /&gt;
==Tài liệu tham khảo==&lt;br /&gt;
# Bordin, E. S., ''Fusing work and play: A challenge to theory and research'', Academic Psychology Bulletin, 1979.&lt;br /&gt;
# Dandridge, T. C., ''Ceremony as an integration of work and play, Organization Studies'', 7 (2), 1986, pp. 159 - 170.&lt;br /&gt;
# Dougherty, D. and Takacs, H., ''Team Play: Heedful Interrelating as the Boundary for Innovation’, Long Range Planning'', 37 (6), 2004, pp. 569 - 90.&lt;br /&gt;
# Kane, P., ''The Play Ethic, London: Pan Books'', 2004.&lt;br /&gt;
# Roos, J., Victor, B. and Statler, M., ''Playing Seriously with Strategy, Long Range Planning'', 37 (6), 2004, pp. 549 - 68.&lt;br /&gt;
# Sharma, R. N., &amp;amp; Chandra, S. S., ''Advanced Industrial Psychology'', Atlantic Publishers &amp;amp; Dist, 2004.&lt;br /&gt;
# Jacobs, C. D. and Statler, M., Toward a Technology of Foolishness: Developing Scenarios Through Serious Play, ''International Studies of Management and Organization'', 36 (3), 2006, pp. 77 - 92. &lt;br /&gt;
# Sørensen, B. M., &amp;amp; Spoelstra, S., ''Play at work: Continuation, intervention and usurpation, Organization'', 19 (1), 2012, pp. 81 - 97.&lt;/div&gt;</summary>
		<author><name>Diemquynh834</name></author>
	</entry>
	<entry>
		<id>https://bktt.vn/index.php?title=Abraham_harold_Maslow_(1908_-_1970)&amp;diff=22433</id>
		<title>Abraham harold Maslow (1908 - 1970)</title>
		<link rel="alternate" type="text/html" href="https://bktt.vn/index.php?title=Abraham_harold_Maslow_(1908_-_1970)&amp;diff=22433"/>
		<updated>2023-01-11T08:40:23Z</updated>

		<summary type="html">&lt;p&gt;Diemquynh834: Tạo trang mới với nội dung “ Abraham harold Maslow (1908 - 1970)  {{sơ}}'''Abraham harold Maslow (1908 - 1970)''' là nhà tâ…”&lt;/p&gt;
&lt;hr /&gt;
&lt;div&gt;&lt;br /&gt;
[[File:Abraham harold Maslow (1908 - 1970).jpg|thumb|Abraham harold Maslow (1908 - 1970)]]&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
{{sơ}}'''Abraham harold Maslow (1908 - 1970)''' là nhà tâm lý học người Mỹ, nhân vật trung tâm của Tâm lý học nhân văn về   những tiềm năng con người. Abraham Maslow là một nhà tâm lý học người Mỹ được biết đến nhiều nhất đối với việc đưa ra hệ thống cấp bậc của nhu cầu, lý thuyết về sức khỏe tâm lý xác định trên việc thực hiện nhu cầu ưu tiên, mà đỉnh cao là quá trình tự hiện thực hóa.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Sự nghiệp của Maslow==&lt;br /&gt;
 &lt;br /&gt;
Maslow là giáo sư tâm lý học tại Đại học Quốc tế Alliant, Đại học Brandeis, Cao đẳng Brooklyn, Trường Nghiên cứu Xã hội mới và Đại học Columbia. Ông nhấn mạnh tầm quan trọng của việc tập trung vào những phẩm chất tích cực ở con người, thay vì coi họ như một “túi triệu chứng”. Một cuộc khảo sát về Tâm lý học đại cương công bố năm 2002 đã xếp hạng Maslow là nhà tâm lý học thứ mười được trích dẫn nhiều nhất trong thế kỷ XX.  &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Tuổi trẻ, học tập và sự nghiệp Maslow sinh năm 1908 và lớn lên ở Brooklyn, New York. Maslow học trường trung học nam sinh, một trong những trường trung học hàng đầu ở Brooklyn. Tại đây, Maslow là thành viên chủ chốt của nhiều câu lạc bộ học thuật và trở thành biên tập viên của Tạp chí La tinh. Đây là một điều kiện để phát triển năng lực của Maslow.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Maslow theo học trường cao đẳng thành phố New York sau khi tốt nghiệp trung học. Sau đó, Maslow tốt nghiệp trường cao đẳng thành phố và theo học cao học tại Đại học Wisconsin để nghiên cứu Tâm lý học. Khóa đào tạo tâm lý học của Maslow tại Đại học Wisconsin chủ yếu là đào tạo nhà hành vi thực nghiệm. Tại Wisconsin, Maslow theo đuổi một hướng nghiên cứu về điều tra hành vi thống trị của linh trưởng và tình dục. Trải nghiệm ban đầu của Maslow về chủ nghĩa hành vi đã để lại cho ông một tư duy thực chứng mạnh mẽ. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Maslow nhận được bằng Tiến sĩ tâm lý học tại Đại học Wisconsin năm 1934. Sau đó ông bắt đầu nghiên cứu Y học. Nhưng Maslow đã ngừng nghiên cứu lĩnh vực này sau một năm, sau đó Maslow nhận được học bổng nghiên cứu sau tiến sĩ để làm việc với Edward Thorndike tại Đại học Columbia. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Sau khi chuyển đến New York, Maslow đã gặp gỡ nhiều nhà khoa học xã hội châu Âu nổi tiếng đã chạy trốn khỏi Đức Quốc xã. Một số người trong số những người di cư này đã trở thành cố vấn của ông, bao gồm các nhà phân tâm học Alfred Adler, Erich Fromm, Karen Horney và các nhà tâm lý học Gestalt như Max Wertheimer  (1880 - 1943) và Kurt Koffka (1886 - 1941). &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Năm 1937, Maslow bắt đầu giảng dạy tại Trường Cao đẳng Brooklyn. Theo sự thúc giục của nhà nhân loại học Ruth Benedict (1887 - 1948), người mà Maslow đã gặp tại Columbia. Maslow đã dành cả mùa hè năm 1938 để nghiên cứu thực địa trong một khu dân cư của người da đỏ Blackfoot ở Alberta, Canada, với sự hỗ trợ tài chính từ Hội đồng Nghiên cứu Khoa học Xã hội. Cuộc sống gia đình và những trải nghiệm đã ảnh hưởng đến những ý tưởng tâm lý của ông. Sau Chiến tranh Thế giới lần thứ hai, Maslow bắt đầu đặt câu hỏi về cách các nhà tâm lý học đưa ra kết luận của họ. Mặc dù không hoàn toàn đồng ý, nhưng ông có ý tưởng riêng về cách hiểu tâm trí con người. Ông gọi hướng nghiên cứu mới của mình là Tâm lý học nhân văn.&lt;br /&gt;
 &lt;br /&gt;
Maslow không đủ điều kiện tham gia quân đội. Tuy nhiên, sự khủng khiếp của chiến tranh đã truyền cảm hứng cho tầm nhìn về hòa bình. Điều này dẫn ông đến những nghiên cứu tâm lý mang tính đột phá về việc tự hiện thực hóa bản thân. Các nghiên cứu bắt đầu dưới sự giám sát của hai cố vấn, nhà nhân chủng học Ruth Benedict và nhà tâm lý học Gestalt Max Wertheimer - những người mà ông ngưỡng mộ cả về chuyên môn và cá nhân. Đây là cơ sở cho nghiên cứu và suy nghĩ suốt đời của ông về sức khỏe tâm thần và tiềm năng con người. Ông mở rộng chủ đề này, sử dụng ý tưởng từ các nhà tâm lý học khác và bổ sung những ý tưởng mới. Chẳng hạn như các khái niệm về hệ thống phân cấp nhu cầu, định lượng, siêu năng lực, con người tự hiện thực hóa và trải nghiệm đỉnh cao. Maslow là giáo sư và người đứng đầu Khoa Tâm lý học tại Đại học Brandeis từ năm 1951 đến năm 1969, một năm trước khi ông qua đời vào năm 1970. Ông trở thành thành viên chính thức của Viện Laughlin ở California (Laughlin Institute in California).&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Tâm lý nhân văn của Maslow==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Hầu hết các nhà tâm lý học trước Maslow đã quan tâm đến những người bất thường và bệnh tật của con người. Ông kêu gọi mọi người thừa nhận các nhu cầu cơ bản của họ trước khi giải quyết các nhu cầu cao hơn và cuối cùng là tự hiện thực hóa. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Maslow muốn biết điều gì tạo nên sức khỏe tinh thần tích cực của con người. Tâm lý học nhân văn đã làm nảy sinh một số liệu pháp khác nhau, tất cả đều được hướng dẫn bởi ý tưởng rằng con người sở hữu các nguồn lực bên trong để tăng trưởng và chữa bệnh. Quan điểm của liệu pháp là giúp loại bỏ những trở ngại đối với việc cá nhân đạt được chúng. Nổi tiếng nhất trong số này là liệu pháp lấy khách hàng làm trung tâm. &lt;br /&gt;
Các nguyên tắc cơ bản của tâm lý học nhân văn:&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
# Hoạt động hiện tại của ai đó là khía cạnh quan trọng nhất của họ. Các nhà nhân văn nhấn mạnh đến hiện tại, thay vì xem xét quá khứ hoặc cố gắng dự đoán tương lai.&lt;br /&gt;
# Để khỏe mạnh về mặt tinh thần, các cá nhân phải chịu trách nhiệm cá nhân về hành động của mình, bất kể hành động đó là tích cực hay tiêu cực.&lt;br /&gt;
# Mỗi người, đơn giản bởi bản thân vốn dĩ đã rất xứng đáng. Mặc dù bất kỳ hành động nhất định nào có thể là tiêu cực, nhưng những hành động này không làm mất đi giá trị của một con người.&lt;br /&gt;
# Mục tiêu cuối cùng của cuộc sống là đạt được sự phát triển và hiểu biết cá nhân. Chỉ khi không ngừng cải thiện bản thân và hiểu rõ bản thân thì một cá nhân mới có thể hạnh phúc thực sự. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Lý thuyết Tâm lý nhân văn phù hợp với những người nhìn thấy mặt tích cực và tin vào ý chí của con người. Lý thuyết này rõ ràng trái ngược với Lý thuyết quyết định sinh học của S. Freud. Một ưu điểm quan trọng khác của Lý thuyết Tâm lý nhân văn là nó tương thích với các trường phái tư tưởng khác. Hệ thống phân cấp của Maslow cũng có thể áp dụng cho các chủ đề khác. Chẳng hạn như tài chính, kinh tế học hoặc thậm chí trong lịch sử hoặc tội phạm học. Tâm lý học nhân văn, cũng còn được gọi là Tâm lý học tích cực.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Các nhà tâm lý học nhân văn tin rằng mỗi người đều có mong muốn mãnh liệt để nhận ra hết tiềm năng của mình, đạt đến mức độ “tự hiện thực hóa”. Điểm chính của phong trào mới, đạt đến đỉnh cao vào năm 1960, là nhấn mạnh tiềm năng tích cực của con người. Maslow đã liệt kê ra một danh sách những người năng động và thành công trong lịch sử mà ông coi là những “người tự hiện thực hóa”, bao gồm: Thomas Jefferson (1743 - 1826), Abraham Lincoln (1809 - 1865), Jane Addams (1860 - 1935), Albert Einstein (1879 - 1955) và Eleanor Roosevelt (1884 - 1962).&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Trải nghiệm đỉnh cao và bình nguyên==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Ngoài thói quen đáp ứng nhu cầu thông thường, Maslow đã hình dung ra những khoảnh khắc trải nghiệm phi thường, được gọi là “Trải nghiệm đỉnh cao” của con người. Đó là những khoảnh khắc sâu sắc của tình yêu, sự hiểu biết, hạnh phúc hoặc sung sướng, trong đó cá nhân cảm thấy toàn diện hơn, sống động, tự lập hơn và là một phần của thế giới, nhận thức rõ hơn về sự thật, công lý, hòa hợp, tốt đẹp, v.v. Những người tự thực tế hóa có nhiều khả năng có những trải nghiệm đỉnh cao. Nói cách khác, những “trải nghiệm đỉnh cao” là sự phản ánh việc nhận thức tiềm năng con người của một người và thể hiện tầm cao của sự phát triển nhân cách. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Trong các tác phẩm sau này, Maslow đã chuyển sang một mô hình hòa nhập hơn. Bên cạnh những trải nghiệm đỉnh cao mãnh liệt có những khoảng thời gian dài hơn của nhận thức về sự thanh thản của bản thân mà ông gọi là trải nghiệm “bình nguyên” (plateau experiences). Ông đã mượn thuật ngữ này từ nhà khoa học và học viên yoga người Ấn Độ, UA Asrani, người mà ông đã trao đổi thư từ. Maslow tuyên bố rằng sự thay đổi từ trải nghiệm đỉnh cao sang trải nghiệm bình nguyên có liên quan đến quá trình lão hóa tự nhiên, trong đó một cá nhân có sự thay đổi về giá trị sống, về những gì thực sự quan trọng trong cuộc sống của một người và những gì không quan trọng. Mặc dù có ý nghĩa cá nhân với trải nghiệm bình nguyên, Maslow không thể tiến hành một nghiên cứu toàn diện về hiện tượng này do các vấn đề sức khỏe vào cuối đời ông. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Tháp thứ bậc nhu cầu==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Thứ bậc nhu cầu của Maslow được biểu thị như một kim tự tháp với những nhu cầu cơ bản hơn ở phía dưới. Maslow đã mô tả nhu cầu của con người được sắp xếp theo thứ bậc sẵn có - những nhu cầu cấp bách hơn được thỏa mãn trước, tiếp đó đến những nhu cầu cao hơn. Trong các tác phẩm của mình, ông không đưa ra hình ảnh về tháp nhu cầu, có thể do một nhà xuất bản nào đó đã vẽ ra tháp này để minh họa về thứ bậc nhu cầu của con người. Tháp thứ bậc nhu cầu của Maslow gồm các nhu cầu theo thứ bậc sau:&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
[[File:Tháp nhu cầu Maslow.png|thumb|Tháp nhu cầu Maslow]]&lt;br /&gt;
 &lt;br /&gt;
# Ở cấp độ dưới cùng là “Nhu cầu cơ bản hoặc nhu cầu sinh lý” của một con người: thức ăn, nước uống, giấc ngủ, tình dục, cân bằng nội môi và bài tiết.&lt;br /&gt;
# Ở cấp độ tiếp theo là “Nhu cầu An toàn: an ninh, trật tự và ổn định”. Hai cấp độ nhu cầu này rất quan trọng đối với sự sống còn về thể chất của con người. Một khi các cá nhân có dinh dưỡng cơ bản, nơi ở và sự an toàn, họ sẽ cố gắng hoàn thành nhiều việc hơn.&lt;br /&gt;
# Cấp độ thứ ba là nhu cầu “Yêu và được yêu”. Đây là những nhu cầu tâm lý. Khi các cá nhân đã chăm sóc bản thân về mặt thể chất, họ sẵn sàng chia sẻ bản thân với những người khác. Chẳng hạn như với gia đình và bạn bè.&lt;br /&gt;
# Cấp độ thứ tư là nhu cầu được “Thừa nhận”. Nhu cầu này đạt được khi cá nhân cảm thấy thoải mái với những gì họ đã hoàn thành. Đây là cấp độ cần phải có năng lực và được công nhận. Chẳng hạn như thông qua địa vị và mức độ thành công. Sau đó là cấp độ “Nhận thức”, nơi các cá nhân tự kích thích trí tuệ và khám phá. Tiếp theo là cấp độ “Thẩm mỹ”, là nhu cầu về sự hài hòa, trật tự và cái đẹp.&lt;br /&gt;
# Ở đỉnh của kim tự tháp là “Nhu cầu tự hiện thực hóa” xảy ra khi các cá nhân đạt đến trạng thái hòa hợp và thấu hiểu, bởi vì họ đang tham gia vào việc đạt được toàn bộ tiềm năng của mình. Khi một người đã đạt đến trạng thái tự hiện thực hóa, họ tập trung vào bản thân và cố gắng xây dựng hình ảnh của chính mình. Họ có thể nhìn nhận vấn đề này dưới góc độ cảm xúc như sự tự tin hoặc bằng cách hoàn thành một mục tiêu đã đặt ra. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Bốn cấp độ đầu tiên được gọi là nhu cầu Thâm hụt hoặc D - nhu cầu. Điều này có nghĩa là nếu chúng ta không có đủ một trong bốn nhu cầu đó, chúng ta sẽ có cảm giác rằng cần phải có được nó. Nhưng khi có được chúng, ta sẽ cảm thấy mãn nguyện. Những nhu cầu này không phải là động cơ thúc đẩy.&lt;br /&gt;
                                                                                                 &lt;br /&gt;
==Tài liệu tham khảo==&lt;br /&gt;
# Vũ Dũng (Chủ biên), ''Từ điển Tâm lý học'', Nxb. Từ điển bách khoa, 2008, tr. 158 - 159.&lt;br /&gt;
# Brookman, David M. ''Maslow's Hierarchy and Student Retention'', NACADA Journal, Vol. 9,  No 1, Spring, 1989, pp. 69 - 74.&lt;br /&gt;
# Richard L. Schott, Abraham Maslow, humanistic psychology, and organization leadership: A Jungian perspective, ''Journal of Humanistic Psychology'', 32, DOI: 10.1177/0022167892321008. S2CID145356419, 1992, pp. 106 - 120.&lt;br /&gt;
# Kazdin A.E. (Editor in chief), ''Encyclopedia of Psychology: 8 volume set'', APA Publishing, Oxford University Press, Vol. 7, 2000, pp. 87 - 91.&lt;br /&gt;
# Strickland B. (Executive editor), ''The Gale Encyclopedia of Psychology'', Gale Group, 2001, pp. 199.&lt;br /&gt;
# Nicholson, Ian (February), ''Giving up maleness: Abraham Maslow, masculinity, and the boundaries of psychology'', History of Psychology, 4 (1), DOI: 10.1037/1093-4510.4.1.79, 2001, pp. 79 - 91.&lt;br /&gt;
# Hoffman, E., ''Abraham Maslow: A Biographer's Reflection'', Journal of Humanistic Psychology,&lt;br /&gt;
48 (4), DOI: 10.1177/0022167808320534. S2CID 144442841, 2008, pp. 439 - 443.&lt;/div&gt;</summary>
		<author><name>Diemquynh834</name></author>
	</entry>
	<entry>
		<id>https://bktt.vn/index.php?title=M%E1%BA%A5t_t%C3%ADnh_t%E1%BB%B1_ch%E1%BB%A7&amp;diff=22432</id>
		<title>Mất tính tự chủ</title>
		<link rel="alternate" type="text/html" href="https://bktt.vn/index.php?title=M%E1%BA%A5t_t%C3%ADnh_t%E1%BB%B1_ch%E1%BB%A7&amp;diff=22432"/>
		<updated>2023-01-11T08:12:47Z</updated>

		<summary type="html">&lt;p&gt;Diemquynh834: Tạo trang mới với nội dung “{{sơ}}'''Mất tính tự chủ (Tên cũ: Bi quan để tự vệ)''' là một trạng thái tâm lý của cá nhân, biểu hiện ở sự giảm ý…”&lt;/p&gt;
&lt;hr /&gt;
&lt;div&gt;{{sơ}}'''Mất tính tự chủ (Tên cũ: Bi quan để tự vệ)''' là một trạng thái tâm lý của cá nhân, biểu hiện ở sự giảm ý thức, dẫn đến có hành vi dễ chịu sự tác động bởi tình huống hiện tại hoặc các chuẩn mực nhóm hơn các chuẩn mực cá nhân hoặc chuẩn mực xã hội. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Mất tính tự chủ thường dễ xảy ra khi các cá nhân đắm chìm trong một nhóm hỗn tạp, nhưng cũng có thể xảy ra ngoài nhóm khi các dấu hiệu tình huống bên ngoài thu hút mạnh sự quan tâm của cá nhân, làm mất sự chú ý của họ vào bản thân.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Gustave Le Bon, năm 1895, đề xuất rằng một đám đông người có thể trở thành một thực thể thống nhất, vận hành như thể được hướng dẫn bởi một bộ óc tập thể, với những cảm xúc và hành vi dễ dàng lan truyền từ người này sang người khác. Festinger Pepitone và Newcomb là người đầu tiên đưa ra thuật ngữ mất tính tự chủ và mô tả nó như một hiện tượng mà ở đó các cá nhân đắm chìm trong một nhóm, đến mức họ tham gia vào các hoạt động vi phạm pháp luật, những hành vi lệch lạc. Những ý tưởng này đã được mở rộng và hoàn thiện trong những năm sau đó bởi nhiều nhà tâm lý học xã hội Mỹ và châu Âu. Nhiều lý thuyết đã được phát triển và hàng chục thí nghiệm được thực hiện đã xác định được các yếu tố quan trọng có thể dẫn đến mất tính tự chủ. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Mất tính tự chủ có thể giúp giải thích nhiều dạng hành vi tập thể chống đối xã hội. Ví dụ, những kẻ bạo loạn có thể cảm thấy mất thể diện và không thể làm chủ giữa một đám đông vô thức; những người hâm mộ thể thao có thể hét lên những lời tục tĩu vào trọng tài khi chìm trong đám đông những cổ động viên.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Các nghiên cứu mất tính tự chủ đã xác định một số yếu tố ảnh hưởng đến sự xuất hiện và mức độ mất tính tự chủ như sau:&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
''Quy mô nhóm'', khi quy mô của nhóm hoặc quy mô đám đông tăng lên, thì khả năng mất tính tự chủ cũng tăng theo.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
''Tính nặc danh'', một số nghiên cứu cho rằng tính nặc danh đóng một vai trò quan trọng đối với mất tính tự chủ. Ví dụ, Zimbardo đã phát hiện ra rằng: những phụ nữ mặc áo khoác và mũ trùm đầu quá khổ trong phòng thí nghiệm sẵn sàng gây sốc điện cho người khác hơn những phụ nữ mặc quần áo bình thường và đeo bảng tên. Một nghiên cứu thông minh của Diener và các đồng nghiệp về lừa đảo hoặc người bị lừa trong lễ hội Halloween ở Seattle đã minh họa thêm tầm quan trọng của tính nặc danh (các nhà quan sát ngầm nhận ra rằng những đứa trẻ không cung cấp thông tin về bản thân có khả năng lấy thêm kẹo nhiều hơn gấp đôi so với những đứa trẻ cung cấp thông tin về bản thân).&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Le Bon giải thích lý do của hành bất thường của cá nhân trong đám đông bởi tính chất vô danh của đám đông, Những cá nhân trong điều kiện bình thường, sợ mất danh dự hoặc sợ bị trừng phạt, luôn thận trọng khi hành động. Nhưng khi hòa mình vào đám đông, họ tìm thấy chỗ dựa tinh thần to lớn của đám đông, đặc biệt, khi đám đông mang tính vô danh, hợp rồi lại tan, tinh thần trách nhiệm ràng buộc các cá nhân không còn. Vì thế, họ không sợ những hậu quả có thể xảy ra do hành động của cá nhân họ gây ra, họ buông theo tiếng gọi của tình cảm, bản năng.&lt;br /&gt;
 &lt;br /&gt;
Những trải nghiệm làm giảm khả năng nhận thức về bản thân cũng có thể góp phần tạo ra mất tính tự chủ. Nhận dạng nhóm cũng là một nguyên nhân của mất tính tự chủ. Reicher, Spears và Postmes cho rằng mất tính tự chủ xảy ra khi các cá nhân chuyển sự chú ý từ bản sắc cá nhân họ sang một bản sắc xã hội hoặc tập thể nhiều hơn và do đó, chú ý đến các chuẩn mực nhóm và chuẩn mực xã hội trong bối cảnh xã hội tức thời hơn là các chuẩn mực cá nhân.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Tài liệu tham khảo==&lt;br /&gt;
# Trần  Hiệp (Chủ biên), ''Tâm lý học xã hội: Những vấn đề lý luận'', Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, 1997.&lt;br /&gt;
# Vũ Dũng (Chủ biên), ''Từ điển Tâm lý học'', Nxb. Từ điển bách khoa, 2008, tr. 158 - 159.&lt;br /&gt;
# Alan E. Kazdin (Editor in chief), ''Encyclopedia of Psychology'', American Psychological Association, Oxford University Press, Vol. 8, 2000.&lt;br /&gt;
# Strickland B. (Executive editor), ''The Gale Encyclopedia of Psychology'', Gale Group, 2001, pp. 199.&lt;/div&gt;</summary>
		<author><name>Diemquynh834</name></author>
	</entry>
	<entry>
		<id>https://bktt.vn/index.php?title=Adolf_Meyer_(1866_-_1950)&amp;diff=22431</id>
		<title>Adolf Meyer (1866 - 1950)</title>
		<link rel="alternate" type="text/html" href="https://bktt.vn/index.php?title=Adolf_Meyer_(1866_-_1950)&amp;diff=22431"/>
		<updated>2023-01-11T08:03:47Z</updated>

		<summary type="html">&lt;p&gt;Diemquynh834: Tạo trang mới với nội dung “Adolf Meyer (1866 - 1950) {{sơ}}'''Adolf Meyer (1866 - 1950)''' là bác sĩ tâm thần người Mỹ gốc…”&lt;/p&gt;
&lt;hr /&gt;
&lt;div&gt;[[File:Adolf Meyer (1866 - 1950).jpg|thumb|Adolf Meyer (1866 - 1950)]]&lt;br /&gt;
{{sơ}}'''Adolf Meyer (1866 - 1950)''' là bác sĩ tâm thần người Mỹ gốc Thụy Sĩ, người đã phát triển khái niệm về tâm sinh học. Người nổi tiếng với tư cách là bác sĩ tâm thần đầu tiên của Bệnh viện Johns Hopkins (1910 - 1941). Ông là chủ tịch của Hiệp hội Tâm thần học Hoa Kỳ năm 1927 - 1928 và là một trong những nhân vật có ảnh hưởng nhất trong ngành Tâm thần học trong nửa đầu thế kỷ XX.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Gia đình và đào tạo==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Adolph Meyer sinh ra ở Niederweningen, Thụy Sĩ năm 1866. Ông là con trai của một mục sư Zwinglian. Meyer nhận được một nền giáo dục y tế sâu rộng về Thần kinh học ở Zurich Meyer, nhận bằng MD từ Đại học Zurich vào năm 1892, nơi ông nghiên cứu Thần kinh học dưới thời Auguste Forel. Trong thời gian học tại trường đại học, Meyer đã du học ở Paris, London và Edinburgh, làm việc dưới sự chỉ đạo của John Hughlings Jackson và Jean-Martin Charcot. Từ năm 1893, Meyer làm việc cho một số bệnh viện, bao gồm: Bệnh viện tiểu bang ở Kankakee, Illinois, với tư cách là một nhà nghiên cứu bệnh học và Viện Bệnh lý Dịch vụ bệnh viện tiểu bang New York, nơi ông đã tham gia vào việc đào tạo bác sĩ tâm thần. Meyer sau đó gia nhập khoa Cornell Medical Trường đại học ở Thành phố New York, nơi ông từng là giáo sư Tâm thần học. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Hoạt động khoa học==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Năm 1909, G. Stanley Hall (1844 - 1924), một nhà tâm lý học và cựu học sinh của William James, mời Meyer đến trường Cao đẳng Clark ở Worcester, Massachusetts, nhân dịp kỷ niệm 20 năm thành lập trường. Ở đây Meyer đã gặp Sigmund Freud và Carl Jung. Năm 1910 Meyer được bổ nhiệm làm giáo sư tâm thần học tại Đại học Johns Hopkins và là giám đốc của Phòng khám Tâm thần Henry Phipps, nơi đã trở thành một cơ sở quốc tế, một trung tâm đào tạo bác sĩ tâm thần nổi tiếng.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Meyer có rất nhiều ảnh hưởng đến ngành Tâm thần học Hoa Kỳ. Ông được gọi là “Trưởng khoa Tâm thần học Hoa Kỳ” và công việc của Meyer đã có ảnh hưởng rộng rãi đến lý thuyết và thực hành của Tâm thần học. Theo quan điểm của Meyer, chẩn đoán và điều trị rối loạn tâm thần phải bao gồm một hiểu biết về bệnh nhân như một người. Cách tiếp cận này, ngày nay sẽ được gọi là “toàn diện”, liên quan đến nghiên cứu bệnh nhân từ nhiều khía cạnh khác nhau - y tế, tiểu sử, giáo dục và cả nghệ thuật.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Meyer cũng đi tiên phong trong thúc đẩy các chuyến thăm gia đình bệnh nhân để bác sĩ tâm thần hiểu môi trường bệnh nhân đã sống và họ sẽ trở lại nơi nào khi điều trị đã hoàn thành. Meyer tin rằng các yếu tố cấu thành cuộc sống của con người liên quan tích cực với nhau.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Khi còn ở trong hệ thống Bệnh viện Bang New York, Meyer là một trong những người đầu tiên truyền bá những ý tưởng của Freud về tầm quan trọng của  tình dục và ảnh hưởng của việc nuôi dạy sớm đối với nhân cách của người trưởng thành. Meyer tìm thấy nhiều ý tưởng và phương pháp trị liệu sâu sắc và hữu ích của Freud, nhưng ông bác bỏ Phân tâm học như một cách giải thích căn nguyên của các rối loạn tâm thần để ủng hộ Lý thuyết sinh học tâm lý của riêng ông. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Meyer không coi bệnh tâm thần phân liệt là một căn bệnh không thể điều trị được với tiên lượng tử vong như thường thấy trong Khoa Tâm thần học Kraepelinian. Thay vào đó, ông đề xuất quan điểm cho rằng các yếu tố năng động có thể dẫn đến bệnh tâm thần suy nhược và ông ủng hộ việc điều trị bệnh nhân cá nhân theo phương pháp riêng. Với quan điểm này của Meyer coi liệu pháp tâm lý là cung cấp những tiên lượng lạc quan, đã giúp đưa tư duy Phân tâm học vào Tâm thần học và mở rộng ảnh hưởng của nó trong lĩnh vực này từ giữa thế kỷ XX.  &lt;br /&gt;
 &lt;br /&gt;
Meyer ủng hộ tích hợp các nghiên cứu tâm lý con người và sinh học thành một hệ thống duy nhất mà ông gọi là ''Tâm sinh học''. Các mục tiêu của liệu pháp sinh học tâm lý là sự tích hợp thành công về các khía cạnh khác nhau của nhân cách bệnh nhân. Các bước liên quan đến ''liệu pháp tâm lý'' này bao gồm phân tích các yếu tố tâm lý, xã hội học và sinh học có liên quan đến bệnh tình của bệnh nhân; làm việc với bệnh nhân ở một mức độ tỉnh táo, bám sát vào thông tin ban đầu và sử dụng kết hợp các phương pháp điều trị đạt yêu cầu cho cả bác sĩ tâm thần và bệnh nhân. Thông qua liệu pháp giải quyết cả ngắn hạn và các vấn đề dài hạn, mục tiêu của Meyer là giúp bệnh nhân điều chỉnh tốt nhất có thể để cuộc sống thay đổi. Một phần của quá trình trị liệu bao gồm hỗ trợ bệnh nhân trong việc sửa đổi những điều chỉnh không lành mạnh đối với hoàn cảnh của họ thông qua hướng dẫn, gợi ý và cải tiến mà Meyer được gọi là “rèn luyện thói quen”. Sự nhấn mạnh của Meyer về thói quen mở rộng đến cả đối tượng là bệnh tâm thần phân liệt. Meyer cho rằng những nguyên nhân bệnh của bệnh nhân là do những thói quen có hại mắc phải trong một thời gian dài, trong kết hợp với các yếu tố sinh học, bao gồm cả di truyền.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Đối với ''chứng loạn thần kinh'', Meyer tin rằng nó khác với ''rối loạn tâm thần'' ở chỗ chỉ một phần của nhân cách được tham gia. Meyer đã xem bệnh nhân loạn thần kinh là do cá nhân phải chịu đựng những kỳ vọng không thực tế và không có khả năng chấp nhận bản thân như họ vốn có.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Năm 1908, Meyer được trở thành giám đốc một phòng khám tâm thần mới tại Bệnh viện Johns Hopkins. Công việc của Meyer tại Phipps Clinic được cho là khía cạnh quan trọng nhất trong sự nghiệp của ông. Mô hình của ông cho Phòng khám Phipps là kết hợp giữa công việc lâm sàng và phòng thí nghiệm. Đây là lần đầu tiên những yếu tố này được kết hợp trong một viện tâm thần ở Hoa Kỳ. Meyer đã kết hợp một số phương pháp thực hành của Kraepelin vào phòng khám. Những thực hành này bao gồm quan sát rộng rãi bệnh nhân và nghiên cứu cả giai đoạn có triệu chứng và giai đoạn phục hồi của bệnh tâm thần cùng với giai đoạn bệnh cấp tính. &lt;br /&gt;
 &lt;br /&gt;
Meyer, cùng với Clifford Beers sáng lập Phong trào sức khỏe tâm thần và là một nhân vật chủ chốt trong phong trào sức khỏe tâm thần ở Hoa Kỳ. Mục tiêu của phong trào này là giáo dục công chúng về bệnh tâm thần và đạt được đối xử nhân đạo hơn đối với bệnh nhân tâm thần. Các bác sĩ tâm thần và bác sĩ thần kinh trước đây phần lớn bị hạn chế bởi thực hành trong các viện tâm thần. Meyer ủng hộ việc sử dụng bác sĩ tâm thần trong trường học, nhà tù và nhiều môi trường cộng đồng và nơi làm việc. Do đó, ông đã có công trong việc mở rộng đáng kể vai trò của các bác sĩ tâm thần. &lt;br /&gt;
                                                                                                &lt;br /&gt;
==Tài liệu tham khảo==&lt;br /&gt;
# Grob, Gerald, ''The Inner World of American Psychiatry'', 1890 - 1940, New Brunswick: Rutgers University Press, ISBN 978-0813510811, Jump up to: “Adolf Meyer “Adolf Meyer “Adolf Meyer Guide”. www.medicalarchives.jhmi.edu.Retrieved 2015-04-01, 1985, pp. 21.&lt;br /&gt;
# Meyer, A., ''The philosophy of occupation therapy. Archives of Occupational Therapy'', 1, 1992, pp. 1 - 10.&lt;br /&gt;
# Strickland B. (Executive editor), ''The Gale Encyclopedia of Psychology'', Gale Group, 2001, pp. 199.&lt;br /&gt;
# Freedheim D.K., ''Handbook of Psychology, Vol. 1, History of Psychology'', John Wiley &amp;amp; Sons, 2003, pp. 124 - 125. &lt;br /&gt;
# Christiansen, C.H., ''Adolf Meyer Revisited:Connections between Lifestyle, resilience and illness'', Journal of Occupational Science, 14 (2), DOI: 10.1080/14427591.2007.9686586.S2CID14395 7625, 2007, pp. 63 - 76.  &lt;br /&gt;
# Scull, Andrew; Schulkin, Jay, ''Psychobiology, Psychiatry, and Psychoanalysis: The Intersecting Careers of Adolf Meyer, Phyllis Greenacre, and Curt Richter'', Medical History,  53 (1), DOI: 10.1017/s002572730000329x. ISSN 0025-7273. PMC 2629172. PMID 19190747, 2009, pp. 5 - 36.   &lt;br /&gt;
# Parry, Manon, ''From a Patient's Perspective: Clifford Whittingham Beers' Work to Reform Mental Health Services'', American Journal of Public Health, 100 (12), DOI: 10.2105/AJPH.2010.191411. ISSN 0090-0036. PMC 2978191.PMID 21068416, 2010, pp. 2.356 - 2.357.&lt;/div&gt;</summary>
		<author><name>Diemquynh834</name></author>
	</entry>
	<entry>
		<id>https://bktt.vn/index.php?title=Nh%C3%B3m_t%E1%BB%B1_l%E1%BB%B1c&amp;diff=22430</id>
		<title>Nhóm tự lực</title>
		<link rel="alternate" type="text/html" href="https://bktt.vn/index.php?title=Nh%C3%B3m_t%E1%BB%B1_l%E1%BB%B1c&amp;diff=22430"/>
		<updated>2023-01-11T07:48:35Z</updated>

		<summary type="html">&lt;p&gt;Diemquynh834: Tạo trang mới với nội dung “{{sơ}}'''Nhóm tự lực (Tên cũ: các nhóm tự lực)''' là sự liên kết những người có cùng vị thế xã hội, sở thích, hoàn c…”&lt;/p&gt;
&lt;hr /&gt;
&lt;div&gt;{{sơ}}'''Nhóm tự lực (Tên cũ: các nhóm tự lực)''' là sự liên kết những người có cùng vị thế xã hội, sở thích, hoàn cảnh, bệnh tật   trong cộng đồng với mục đích tự tìm cách tương trợ, giúp đỡ, hỗ trợ vật chất, tinh thần lẫn nhau một cách tích cực và tiết kiệm.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Với sự phát triển của kinh tế, văn hóa, xã hội như Việt Nam hiện nay thì xu hướng ra đời của nhóm tự lực ngày càng trở nên phổ biến. Ví dụ, Nhóm “Hy vọng” liên kết các bệnh nhân ung thư nhằm tương trợ, hỗ trợ vật chất và tinh thần cho nhau để đối phó với hoàn cảnh hoặc nhóm “Vì sức khỏe cộng đồng” liên kết giữa những người nông dân trồng rau xanh có cùng sở thích sản xuất theo mô hình VIETGAP.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Quan điểm và các hướng tiếp cận vấn đề==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Các nhà tâm lý học có nhiều quan điểm và cách tiếp cận khác nhau đối với nhóm tự lực trong đó nổi bật nhất là cách tiếp cận tâm lý xã hội và cách tiếp cận tâm lý lâm sàng. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Tâm lý học xã hội coi nhóm tự lực là một trong các nhóm không chính thức, các thành viên ở đây là những người cùng địa vị, cảnh ngộ liên kết với nhau dựa trên sở thích, nguyện vọng cá nhân hoặc các quan hệ không chính thức (tự giác, tự nguyện) nhằm mục đích hỗ trợ, giúp đỡ lẫn nhau về tinh thần và vật chất bằng mọi cách có thể. Câu hỏi đặt ra ở đây là động lực liên kết họ với nhau là gì? Động lực thúc đẩy liên kết giữa họ trước hết xuất phát từ đặc điểm tâm lý của nhóm xã hội này là: các thành viên thường đồng nhất về vị thế xã hội, có cùng hoàn cảnh, bệnh tật tương ứng vì thế họ có nhận thức, tình cảm, nhu cầu tương đối giống nhau dễ hiểu nhau và đồng cảm với nhau. Thứ hai, khi tham gia vào nhóm họ không cần bất cử thủ tục giấy tờ gì mà vẫn nhận được sự trợ giúp kịp thời đặc biệt là về mặt tình cảm trong mọi tình huống, ngữ cảnh thời gian và không gian (giúp đỡ ngay không cần hỏi ý kiến gia đình hoặc cơ quan có trách nhiệm). Thứ ba, khi tham gia vào nhóm họ luôn được chào đón một cách chân tình, được giao lưu chia sẻ mà không bị phân biệt đối xử cho dù xuất phát từ bất cứ dân tộc, nhóm xã hội, địa vị kinh tế, xã hội nào. Thứ tư, hình thức tham gia nhóm là tự nguyện, tự giác vì vậy các thành viên không bị bất kỳ sức ép nào về năng lực, sức khỏe (thể chất, tinh thần), bệnh tật, địa vị kinh tế, xã hội hoặc đặc điểm màu da, sắc tộc. Thứ năm, khi tham gia nhóm các thành viên có thể nhận được những tri thức, kỹ năng, kinh nghiệm ứng phó với hoàn cảnh, bệnh tật của chính mình từ các thành viên nhóm tự lực từ đó họ củng cố được niềm tin vào chính mình, vào gia đình và xã hội, gắn kết tình cảm cộng đồng để đối mặt với thực tiễn. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Các nhà tâm lý học xã hội cho rằng xu hướng phát triển nhóm tự lực là một thực tế khách quan: xã hội càng phát triển thì tính chất nhân văn, nhân đạo trong hoạt động của cá nhân, nhóm ngày càng được đánh giá cao vì vậy xu hướng phát triển nhóm tự lực là hoàn toàn có thể đoán được. Mặt khác hậu quả của sự phát triển xã hội cũng hết sức khôn lường: khoảng cách giàu nghèo ngày càng lớn, các nhóm yếu thế (di cư, di dân, bị lạm dụng), các nhóm HIV, bệnh tật nguy hại (ung thư, đái tháo đường, suy thận...), ô nhiễm môi trường, biến đổi khí hậu ngày càng tăng vì thế nhu cầu trợ giúp lẫn nhau trong cộng đồng ngày càng cấp thiết.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Về mặt chính sách xã hội, để quản lý có hiệu quả hơn việc tăng cường thúc đẩy, thành lập nhóm tự lực bởi tính chất và vai trò không thể thay thế của nhóm trong xã hội hiện đại bởi một số lý do sau:&lt;br /&gt;
# Tính chất không chính thức của nhóm tự lực giúp cho họ mềm dẻo, kịp thời hơn trong công việc trợ giúp lẫn nhau&lt;br /&gt;
# Nhóm tự lực hoạt động theo những nguyên tắc, quy định riêng giữa họ (thỏa thuận nhau) vì thế không cần tới sự quản lý, điều hành trực tiếp từ các cơ quan chức năng làm giảm bớt công việc quản lý và tiết kiệm tài chính cho xã hội&lt;br /&gt;
# khuyến khích hình thức quản lý tự chủ, tự chịu trách nhiệm thông qua nhóm tự lực nhằm nâng cao ý thức của các thành viên và cộng đồng đối với hoạt động hỗ trợ xã hội. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Các nhà tâm lý lâm sàng coi nhóm tự lực là một trong các mô hình trợ giúp, can thiệp và trị liệu thuận tiện, nhanh chóng, có hiệu quả cho các khách hàng bởi một số lý do sau: &lt;br /&gt;
# Nhóm tự lực luôn lấy thành viên của mình làm trung tâm và hoạt động của nhóm là hướng tới việc nâng cao ý thức, trách nhiệm, niềm tin của họ vào bản thân và cộng đồng để ứng phó với các vấn đề của họ một cách có hiệu quả nhất&lt;br /&gt;
# Xã hội càng phát triển thì tác động của công việc, môi trường xã hội và môi trường tự nhiên tới sức khỏe thể chất và tinh thần càng tăng, số người cần trợ giúp lâm sàng ngày càng tăng vì vậy việc xây dựng các mô hình trị liệu, can thiệp thuận tiện, hiệu quả là rất quan trọng&lt;br /&gt;
# Sử dụng nhóm tự lực trong tâm lý lâm sàng giúp cho khách hàng có thể tự can thiệp, trị liệu, hỗ trợ lẫn nhau một cách có hiệu quả (bởi họ rất hiểu nhau) mà tiết kiệm được thời gian, tiền bạc và tài chính cho họ&lt;br /&gt;
# Một số dạng tâm bệnh trong xã hội hiện đại như: lạm dụng các chất gây nghiện, game, stress do áp lực công việc ngày càng trở nên rất phổ biến vì vậy việc can thiệp, trị liệu thông qua nhóm tự lực có ý nghĩa đặc biệt quan trọng&lt;br /&gt;
# Theo các nhà tâm lý học lâm sàng mặt nổi bật trong trị liệu, can thiệp khách hàng thông qua nhóm tự lực là khơi dậy và thúc đẩy tính tích cực, chủ động đối phó với vấn đề của họ một cách hiệu quả nhất&lt;br /&gt;
# Trợ giúp khách hành thông qua nhóm tự lực đã tác động tới toàn bộ nhân cách của khách hàng, những người thân và cộng đồng (nhận thức, cảm xúc và hành vi) vì vậy nó giúp khách hàng không chỉ đối phó được với vấn đề gặp phải mà còn giúp phục hồi nhân cách và sự hỗ trợ từ người thân, cộng đồng.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Ở Hoa Kỳ kể từ khi dịch vụ chăm sóc sức khỏe có quản lý ra đời cùng với việc kiểm soát chi phí đi kèm theo, nhóm tự lực đã trở nên phổ biến. Ví dụ, những người được cấp bảo hiểm sức khỏe tâm thần hạn chế (không đầy đủ) họ liên kết lại tìm cách tự giúp đỡ, hỗ trợ vật chất, tinh thần cho nhau để điều trị có hiệu quả hoặc những người trị liệu nghiện rượu liên kết với nhau tìm cách giúp nhau phục hồi sức khỏe thể chất, tinh thần.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Một trong những hình thức phổ biến nhất của nhóm tự lực đang hoạt động tại Hoa Kỳ là các nhóm mười hai bước. Trong lịch sử nhóm người nghiện rượu Ẩn danh (AA) - hoạt động từ năm 1935 ở Hoa Kỳ. Nhóm AA và các nhóm hoạt động theo chương trình 12 bước khác đã hoạt động dựa trên tinh thần giúp cuộc sống và ý chí của một người chuyển sang “một quyền lực cao hơn” (để được hướng dẫn và tự đánh giá - chìa khóa để phục hồi). Ngoài AA và các tổ chức anh em của nó (Chất gây nghiện Ẩn danh - NA); hoặc Cocain Ẩn danh (CA). Một số nhóm hoạt động theo chương trình 12 bước được xây dựng để điều trị các rối loạn tâm thần, chẳng hạn như Game thủ ẩn danh (GA), người tâm thần phân liệt ẩn danh (SA) và người nghiện ăn ẩn danh (OA). Các tổ chức tự lực đã hỗ trợ cho những người bị bệnh sức khỏe tâm thần hoặc có vấn đề về sức khỏe như: hỗ trợ cho những người đang điều trị tăng cân, HIV, xơ cứng, loạn dưỡng cơ, ung thư, chứng tiểu tiện không kiểm soát và cả cho gia đình của những người này. Nhóm tự lực đã hoạt động vượt xa những gì được coi là có vấn đề nhằm hỗ trợ những người muốn chia sẻ sở thích, hoàn cảnh, bao gồm cả việc hỗ trợ nhóm phụ nữ cho con bú, người độc thân, người lớn tuổi và người mới được làm cha mẹ.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Nhóm tự lực gia đình cũng đã tồn tại như: Al-Anon, một tổ chức dành cho gia đình và bạn bè của những người nghiện rượu, là một tổ chức đồng hành với AA hoặc Alateen - một chương trình dành cho thanh thiếu niên bị ảnh hưởng bởi rượu. Các nhóm hỗ trợ cho những người chăm sóc những bệnh nhân bị các căn bệnh nguy hiểm đến tính mạng như: ung thư ở trung tâm điều trị và bệnh viện chuyên khoa.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Xu hướng tự giúp đỡ ngày càng tăng là kết quả của sự hỗ trợ sáng tạo của cộng đồng trực tuyến. Phòng trò chuyện, bảng thông báo hoặc các danh sách gửi thư điện tử đều mang lại sự tiện lợi giúp truy cập hỗ trợ những người cùng hoàn cảnh. Nhiều trang web lớn về chăm sóc sức khỏe cho khách hàng đã cung cấp các diễn đàn thảo luận về bệnh tật, rối loạn trực tuyến. Trang web dịch vụ thương mại trực tuyến như America Online (AOL) cung cấp các dịch vụ thương mại chăm sóc sức khỏe và hỗ trợ bệnh nhân. Những nhóm này được kiểm duyệt bởi một cơ sở y tế chuyên nghiệp độc quyền và dân cư trong cộng đồng. Một số nhóm tự lực đã có từ lâu như: nhóm cho con bú có tổ chức các cuộc họp trực tuyến ngoài trang web của riêng họ.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Lợi ích của nhóm tự lực==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Khả năng tiếp cận của nhóm tự lực là một trong những tính năng hấp dẫn nhất. Vì không phải trả phí hoặc lệ phí (ngoại trừ các khoản đóng góp tự nguyện nhỏ để trang trải chi phí cho các cuộc họp), các tổ chức như AA đã chi phí trị liệu hiệu quả nhất. Ngoài ra, các cuộc họp thường được tổ chức ở các bệnh viện địa phương, trung tâm chăm sóc sức khỏe, nhà thờ và các tổ chức cộng đồng khác. Đối với các tổ chức chi nhánh bên dưới đã khuyến khích việc tham dự của khách hàng thông qua số lượng các cuộc họp được tổ chức hàng tuần ở các khu đô thị lớn. Và với sự gia tăng của hỗ trợ trực tuyến mới cho cộng đồng và sự phát triển nhanh chóng khả năng truy cập internet, các nhóm tự lực đang trở nên dễ tiếp cận với người dân ở các vùng nông thôn cũng như ở các thành phố lớn. Nhóm tự lực trực tuyến còn mang lại lợi ích bổ sung từ việc “ẩn danh” của họ đã phá vỡ mọi rào cản về tuổi tác, khuyết tật thể chất, chủng tộc và văn hóa, hoặc các yếu tố gây ức chế khi gặp mặt trực tiếp. Việc tham gia vào nhóm tự lực đã làm tăng ý thức cộng đồng và cảm nhận thuộc về cộng đồng cho các bệnh nhân tâm thần và những người thiếu sự hỗ trợ tinh thần và sự đồng cảm từ bạn bè và gia đình. Môi trường này là một phần quan trọng cho sự hồi phục sức khỏe thể chất và tâm thần của họ. Ngoài việc giảm bớt sự cô lập về cảm xúc, nhóm tự lực có xu hướng trao quyền cho cá nhân và thúc đẩy lòng tự trọng của họ. Ví dụ: AA khuyến khích và tài trợ cho việc xây dựng quan hệ với một thành viên khác, phát biểu tại các cuộc họp và các tương tác tích cực với người cùng cảnh khác. Quan sát nội tâm là một tính năng thiết yếu của nhóm tự lực, đặc biệt là trong các tổ chức tuân theo chương trình phục hồi gồm 12 bước. Ví dụ, bước thứ tư của AA là để các thành viên thực hiện “tìm kiếm hành trang và đạo đức - không sợ hãi” của chính họ và bước thứ mười là các thành viên tiếp tục “thực hiện kê khai” và thừa nhận sai lầm của mình. Cách làm như vậy rất có lợi cho những cá nhân đang gặp khó khăn đối với những suy nghĩ và cảm xúc hướng dẫn hành vi của họ. Về mặt này, bước thứ mười hai của chương trình giống như liệu pháp nhận thức (ở một mức độ nào đó) là thừa nhận những suy nghĩ sai lầm hoàn toàn có thể dẫn đến thay đổi hành vi tiêu cực.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Một số nghiên cứu đã chỉ ra rằng các chương trình 12 bước có thể đem lại hiệu quả trong việc điều trị những người lạm dụng rượu và thuốc gây nghiện. Chương trình này như liệu pháp nhận thức - hành vi hoặc liệu pháp tâm lý. Hơn nữa, nếu một bệnh nhân nội trú được bắt đầu theo chương trình 12 bước, nhưng được khuyến khích thiết lập chương trình can thiệp, trị liệu theo phương pháp truyền thống (với nhà cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe), thì sau khi điều trị truyền thống kết thúc bệnh nhân có thể trở lại chương trình 12 bước điều này sẽ giúp nâng cao hiệu can thiệp, quả trị liệu.  &lt;br /&gt;
                                                                                     &lt;br /&gt;
==Tài liệu tham khảo==&lt;br /&gt;
# Vũ Dũng (Chủ biên), ''Từ điển Tâm lý học'', Nxb. Từ điển bách khoa, 2008, tr. 158 - 159.&lt;br /&gt;
# Strickland B. (Executive editor), ''The Gale Encyclopedia of Psychology'', Gale Group, 2001, pp. 199.&lt;br /&gt;
# Freedheim D.K., ''Handbook of Psychology, Vol. 1, History of Psychology'', John Wiley &amp;amp; Sons, 2003, pp. 124 - 125. &lt;br /&gt;
# American Self-Help Clearinghouse, ''Self-Help Sourcebook Online'', http://mentalhelp.net/ selfhelp/, 2021.&lt;br /&gt;
# Alcoholics Anonymous World Services, Inc. General Service Office. P.O. Box 459, Grand Central Station, New York, NY, USA. 10163, fax: 212-870-3003, 212-870-3400, http://www. alcoholics-anonymous.org.2021.&lt;br /&gt;
# National Self-Help Clearinghouse, Graduate School and University Center of The City University of New York, 365 5th Avenue, Suite 3300, New York, NY, USA. 10016, 212-817-1822. Email: info@selfhelpweb.org.www.selfhelpweb.org.2021.&lt;/div&gt;</summary>
		<author><name>Diemquynh834</name></author>
	</entry>
	<entry>
		<id>https://bktt.vn/index.php?title=Ph%C3%B2ng_ng%E1%BB%ABa_lo%E1%BA%A1i_ba&amp;diff=22429</id>
		<title>Phòng ngừa loại ba</title>
		<link rel="alternate" type="text/html" href="https://bktt.vn/index.php?title=Ph%C3%B2ng_ng%E1%BB%ABa_lo%E1%BA%A1i_ba&amp;diff=22429"/>
		<updated>2023-01-11T07:36:47Z</updated>

		<summary type="html">&lt;p&gt;Diemquynh834: Tạo trang mới với nội dung “{{sơ}}'''Phòng ngừa loại ba (Tên cũ: Bảo vệ lãnh thổ)''' tổng hợp các biện pháp chữa trị và phục hồi chức năng cho nh…”&lt;/p&gt;
&lt;hr /&gt;
&lt;div&gt;{{sơ}}'''Phòng ngừa loại ba (Tên cũ: Bảo vệ lãnh thổ)''' tổng hợp các biện pháp chữa trị và phục hồi chức năng cho những bệnh nhân mắc phải căn bệnh mãn tính, ảnh hưởng xấu đến hoạt động sống bình thường, nhằm cải thiện chất lượng cuộc sống bằng cách giảm thiểu khuyết tật, hạn chế hoặc trì hoãn các biến chứng và tái hồi chức năng cơ quan bị tổn thương cho họ. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Phân Loại==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Phòng ngừa, (prophylaktikos - tiếng Hy Lạp cổ - bảo vệ) một tập hợp của nhiều loại biện pháp nhằm ngăn chặn một hiện tượng, hoặc loại bỏ các yếu tố nguy cơ. Trong y học, dựa theo lịch sử phát triển của một căn bệnh, người ta phân ra năm giai đoạn: ủ bệnh, nhiễm bệnh, cận lâm sàng, lâm sàng và phục hồi (hay tàn tật, tử vong). Các biện pháp y tế dự phòng tương ứng được nhóm hợp thành các loại phòng ngừa khác nhau tương ứng với các giai đoạn phát triển nhất định của bệnh, nhằm ngăn ngừa sự phát triển của nó. Tùy thuộc vào tình trạng sức khỏe, sự hiện diện của các yếu tố nguy cơ bệnh hoặc mức độ bệnh lý, trong khoa học người ta phân ra ba loại phòng ngừa bệnh tật sau đây.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
===Phòng ngừa loại một===&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Phòng ngừa loại một: hệ thống các biện pháp nhằm ngăn ngừa sự xuất hiện và tác động của các yếu tố nguy cơ phát sinh bệnh tật (tiêm chủng, làm việc và nghỉ ngơi hợp lý, chất lượng dinh dưỡng, hoạt động thể lực, bảo vệ môi trường, v.v.). Phòng ngừa loại một nhằm mục đích ngăn ngừa bệnh tật hoặc thương tích trước khi nó xảy ra. Điều này được thực hiện bằng cách ngăn ngừa phơi nhiễm với các mối nguy hiểm gây ra bệnh tật hoặc thương tích, thay đổi các hành vi không lành mạnh hoặc không an toàn có thể dẫn đến bệnh tật hoặc thương tích và tăng khả năng chống lại bệnh tật hoặc thương tích.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
===Phòng ngừa loại hai===&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Phòng ngừa loại hai: một tập hợp các biện pháp nhằm loại bỏ các yếu tố nguy cơ rõ rệt, trong những điều kiện nhất định (căng thẳng, suy yếu hệ thống miễn dịch, căng thẳng quá mức đối với bất kỳ hệ thống chức năng nào khác của cơ thể) có thể dẫn đến khởi phát, đợt cấp và tái phát bệnh. Phòng ngừa loại hai nhấn mạnh vào việc phát hiện bệnh sớm và mục tiêu của nó là những cá nhân đang có biểu hiện khỏe mạnh với các dạng cận lâm sàng của bệnh. Điều này được thực hiện bằng cách phát hiện và điều trị bệnh hoặc chấn thương càng sớm càng tốt để ngăn chặn hoặc làm chậm tiến trình của nó, khuyến khích các hành vi cá nhân để ngăn chặn tái phát. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Thực hiện các chương trình phục hồi chức năng đưa mọi người trở lại sức khỏe và chức năng ban đầu, ngăn ngừa bệnh chuyển sang mãn tính. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
===Phòng ngừa loại ba===&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Phòng ngừa loại ba: một tập hợp các biện pháp để phục hồi chức năng cho những bệnh nhân đã có bệnh mãn tính nào đó làm giảm hoặc mất chức năng sống bình thường của họ. Phòng ngừa loại ba khác so với hai loại đầu tiên vì nó liên quan đến việc giảm tác dụng lâu dài của bệnh bằng cách giúp bệnh nhân kiểm soát tình trạng và các triệu chứng mãn tính có ảnh hưởng lâu dài đến cuộc sống người bệnh. Về thời gian, phòng ngừa loại ba  nhằm vào cả giai đoạn lâm sàng và sau điều trị bệnh, nó hướng tới những bệnh nhân có triệu chứng sau điều trị và nhằm mục đích giảm mức độ nghiêm trọng của bệnh cũng như bất kỳ di chứng nào liên quan tới bệnh. Các hình thức phòng ngừa loại ba  thường là những nỗ lực phục hồi chức năng, các chương trình giúp người bệnh quản lý các vấn đề sức khỏe và chấn thương lâu dài, thường phức tạp (bệnh mãn tính, suy giảm chức năng vĩnh viễn) để cải thiện khả năng hoạt động, chất lượng cuộc sống và tuổi thọ của họ. Phòng ngừa loại ba cùng lúc nhằm đến nhiều mục đích: &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
* Mục đích xã hội (xây dựng niềm tin vào sự phù hợp với xã hội của bản thân)&lt;br /&gt;
* Mục đích lao động (khả năng khôi phục kỹ năng làm việc)&lt;br /&gt;
* Mục đích tâm lý (phục hồi hoạt động, hành vi) &lt;br /&gt;
* Mục đích y tế (phục hồi chức năng của các cơ quan và hệ thống cơ thể).&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Nội dung==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Nội dung phòng ngừa loại ba  bao gồm các công việc: dạy cho bệnh nhân và người nhà của họ kiến thức và kỹ năng liên quan đến một bệnh hoặc nhóm bệnh cụ thể; kiểm tra y tế cho bệnh nhân mắc bệnh mãn tính và người khuyết tật, bao gồm kiểm tra y tế với mục đích đánh giá sự thay đổi của tình trạng sức khỏe và tiến trình của bệnh; thực hiện theo dõi thường xuyên và thực hiện các biện pháp phục hồi và cấp thuốc đầy đủ; tiến hành thích ứng y tế và tâm lý với các tình huống thay đổi của tình trạng sức khỏe, hình thành nhận thức và thái độ đúng đắn đối với các khả năng và nhu cầu thay đổi của cơ thể; thực hiện các hoạt động mang tính chất nhà nước, kinh tế, y tế và xã hội, nhằm giảm mức độ ảnh hưởng của các yếu tố rủi ro có thể thay đổi; bảo tồn khuyết tật còn sót lại và khả năng thích ứng trong môi trường xã hội; tạo điều kiện hỗ trợ cuộc sống tối ưu cho bệnh nhân và người khuyết tật (ví dụ: sản xuất dinh dưỡng y tế, thực hiện các quyết định về kiến trúc và quy hoạch, tạo điều kiện thích hợp cho người khuyết tật, v.v.).&lt;br /&gt;
                     &lt;br /&gt;
==Tài liệu tham khảo==&lt;br /&gt;
# Vũ Dũng (Chủ biên), ''Từ điển Tâm lý học'', Nxb. Từ điển bách khoa, Hà Nội, 2008.&lt;br /&gt;
# Institute of Medicine, ''Reducing risks for mental disorders'', Washington, DC: National Academy Press, 1994.&lt;br /&gt;
# Kottke T.E., Solberg L.I., Brekke M.L., Cabrera A., Marquez M.A., ''Delivery rates for preventive services in 44 midwestern clinics'', Mayo Clin. Proc, 72 (6), 515 - 23, 1997.&lt;br /&gt;
# Last, J. M., ''A dictionary of epidemiology'' (4th ed.), New York: Oxford University Press, 2000. &lt;br /&gt;
# Smith R.A., Andrews K.S., Brooks D., Fedewa S.A., Manassaram-Baptiste D., Saslow D., Brawley 9.OW, Wender R.C., ''Cancer screening in the United States: A review of current American Cancer Society guidelines and current issues in cancer screening'', CA Cancer J. Clin, 67 (2), 2017, pp. 100 - 121.&lt;br /&gt;
# Chung S., Romanelli R.J., Stults C.D., Luft H.S., ''Preventive visit among older adults with Medicare's introduction of Annual Wellness'', Prev Med. Oct; 115, [PMC free article] [PubMed], 2018, pp. 110 - 118.&lt;/div&gt;</summary>
		<author><name>Diemquynh834</name></author>
	</entry>
	<entry>
		<id>https://bktt.vn/index.php?title=Carl_Rogers_(1902_-_1987)&amp;diff=22428</id>
		<title>Carl Rogers (1902 - 1987)</title>
		<link rel="alternate" type="text/html" href="https://bktt.vn/index.php?title=Carl_Rogers_(1902_-_1987)&amp;diff=22428"/>
		<updated>2023-01-11T07:21:45Z</updated>

		<summary type="html">&lt;p&gt;Diemquynh834: Tạo trang mới với nội dung “Carl Rogers (1902 - 1987)  {{sơ}}'''Carl Rogers (1902 - 1987)''' là nhà tâm lý học người Mỹ, ngư…”&lt;/p&gt;
&lt;hr /&gt;
&lt;div&gt;[[File:Carl Rogers (1902 - 1987).jpg|thumb|Carl Rogers (1902 - 1987)]]&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
{{sơ}}'''Carl Rogers (1902 - 1987)''' là nhà tâm lý học người Mỹ, người đã phát triển phương pháp trị liệu tâm lý lấy bệnh nhân làm trung tâm được gọi là Tâm lý học nhân văn. Rogers được nhiều người coi là một trong những cha đẻ của nghiên cứu tâm lý trị liệu. Với nghiên cứu tiên phong này ông được Hiệp hội Tâm lý học Hoa Kỳ (APA) vinh danh và trao tặng Giải thưởng cho những đóng góp khoa học xuất sắc vào năm 1956. Rogers được coi là người thứ sáu trong số các nhà tâm lý học nổi tiếng của thế kỷ XX và là người thứ hai, trong số các bác sĩ (sau Sigmund Freud). Ông được coi là nhà tâm lý trị liệu đầu tiên có ảnh hưởng nhất trong lịch sử.  &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Rogers sinh ngày 8 tháng 1 năm 1902 tại Oak Park, Illinois, ngoại ô Chicago. Ông lớn lên trong một gia đình Cơ đốc giáo theo trào lưu chính thống, Rogers đã theo học tại  Đại học Wisconsin và nghiên cứu tại Chủng viện Thần học Union trước khi quyết định theo đuổi Tiến sĩ Giáo dục học và Tâm lý học lâm sàng tại Trường Đại học Columbia. Rogers được nhận bằng Thạc sĩ năm 1928 và bằng Tiến sĩ vào năm 1931.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Từ năm 1928 đến năm 1939, Rogers đã làm việc với tư cách là cố vấn tại Hiệp hội Phòng chống bạo lực cho Trẻ em ở Rochester. Năm 1940 Rogers trở thành giáo sư Tâm lý học lâm sàng tại Đại học Bang Ohio, nơi ông viết cuốn sách thứ hai, ''Tư vấn và Trị liệu Tâm lý'' (Counseling and Psychotherapy, 1942). Trong đó, Rogers gợi ý rằng thân chủ, bằng cách thiết lập mối quan hệ với nhà trị liệu để thấu hiểu, chấp nhận, có thể giải quyết những khó khăn và có được cái nhìn sâu sắc cần thiết để tái cấu trúc cuộc sống của mình. Vào thời điểm này, Rogers đã phát triển phần lớn lý thuyết lấy khách hàng làm trung tâm trong trị liệu tâm lý mới của mình.&lt;br /&gt;
  &lt;br /&gt;
Các cách tiếp cận lấy con người làm trung tâm là cách tiếp cận độc đáo riêng của Rogers hiểu biết về mối quan hệ của con người. Cách tiếp cận này được ứng dụng rộng rãi trong nhiều lĩnh vực như: Tâm lý học và tư vấn (điều trị lấy khách hàng làm trung tâm), trong giáo dục (lấy học sinh làm trung tâm), trong tổ chức và các thiết chế khác. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Rogers tin rằng tình trạng tinh thần của hầu hết tất cả bệnh nhân - những người mà ông gọi là khách hàng, có thể được cải thiện trong môi trường tâm lý trị liệu thích hợp. Trọng tâm của môi trường này là một mối quan hệ cá nhân chặt chẽ giữa thân chủ và nhà trị liệu. Rogers sử dụng thuật ngữ “khách hàng” thay cho “bệnh nhân” thể hiện sự từ chối của ông đối với mối quan hệ truyền thống có tính độc đoán giữa nhà trị liệu và thân chủ. Quan điểm của Rogers là thân chủ và nhà trị liệu có quan hệ bình đẳng trong mối quan hệ này. Khách hàng xác định hướng chung của trị liệu, trong khi nhà trị liệu tìm cách tăng thêm những hiểu sâu sắc về bản thân khách hàng thông qua các câu hỏi. Một dấu hiệu nổi bật của phương pháp Rogers là nhà trị liệu phải có một thái độ tôn trọng, cũng như có một niềm tin vào khả năng của thân chủ trong việc đối phó và giải quyết các vấn đề của họ. Liệu pháp của Rogers là kết quả quá trình nghiên cứu với quan điểm niềm tin là một yếu tố cơ bản có tính bản chất của con người. Nó là động lực để con người hiện thực hóa đầy đủ tiềm năng tích cực của mình. Quan điểm trên dựa vào một cái nhìn tích cực về con người. Điều đó trái ngược với quan điểm Phân tâm học về con người - con người bị thúc đẩy bởi các xung lực chống đối xã hội. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Trong quan điểm của Rogers, nhiệm vụ chính của liệu pháp là loại bỏ những trở ngại của khách hàng đối với việc ''tự hiện thực hóa''. Mặt khác, trái ngược với Phân tâm học, những người theo phương pháp trị liệu của Rogers nhấn mạnh những cảm xúc và thái độ hiện tại của khách hàng hơn là những trải nghiệm ''thời thơ ấu''.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Sau khi rời bang Ohio vào năm 1945, Rogers giảng dạy tại các khoa của Đại học Chicago và Đại học của Wisconsin. Từ năm 1947 đề năm 1956, ông là chủ tịch của Hiệp hội Tâm lý Hoa Kỳ (APA). Khi uy tín của Rogers ngày càng lớn thì liệu pháp tâm lý của ông ngày càng được lan truyền nhanh chóng trong xã hội.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Liệu pháp Rogerian được thực hành rộng rãi trong những năm 1950 và 1960 khi các nguyên lý của Chủ nghĩa chống chế tài đã mang lại một sự hấp dẫn rộng rãi đối với nhiều người. Rogers đã xuất bản cuốn sách ''Trị liệu lấy khách hàng làm trung tâm: Thực hành hiện tại, ý nghĩa và Lý thuyết'' (Client - Centered Therapy: Its Current Practice, Implications, and Theory) vào năm 1951 và công bố nhiều bài báo trong thập kỷ sau đó.   &lt;br /&gt;
       &lt;br /&gt;
Trong những năm 1960, Rogers đã bị thu hút bởi ''Phong trào tiềm năng của con người'' đã bắt đầu ở California và ông đã áp dụng một số nguyên tắc đối với phong trào này bao gồm nhấn mạnh vào việc diễn đạt thẳng thắn và cởi mở về cảm giác và việc sử dụng liệu pháp nhóm. Năm 1964, ông và vợ chuyển đến La Jolla, California, nơi ông tiếp tục viết và thuyết trình và phục vụ với tư cách là một cư dân tại Viện Khoa học Hành vi Phương Tây.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Một trong những đóng góp lớn của Rogers là lý thuyết của ông về sự phát triển của nhân cách. Về sự ''phát triển của nhân cách'', Rogers mô tả các nguyên tắc hơn là các giai đoạn. Vấn đề chính của lý thuyết này là sự phát triển của một ''khái niệm về bản thân'' và sự tiến bộ từ một bản thân không khác biệt trở thành một bản thân hoàn toàn khác biệt. Khái niệm bản thân là khái niệm nhất quán có tổ chức bao gồm nhận thức về các đặc điểm của “tôi” hoặc “tôi” và nhận thức về các mối quan hệ của “tôi” hoặc “tôi” với người khác và với các khía cạnh khác nhau của cuộc sống cùng với các giá trị gắn liền với các nhận thức này. Nó là một yếu tố có sẵn cho nhận thức mặc dù không nhất thiết phải có trong nhận thức. Nó là một chất lỏng và thay đổi trong quá trình thai nghén, một quá trình nhưng tại bất kỳ thời điểm nào nó là một thực thể cụ thể (Rogers, 1959).&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Trong sự phát triển của khái niệm bản thân, ông coi sự tích cực có điều kiện và vô điều kiện là chìa khóa. Những người được nuôi dưỡng trong một môi trường được quan tâm có sự tích cực vô điều kiện, có cơ hội để hoàn thiện bản thân. Những người được nuôi dưỡng trong một môi trường được coi trọng có điều kiện chỉ cảm thấy xứng đáng nếu họ phù hợp với các điều kiện (những gì Rogers mô tả là ''điều kiện xứng đáng'') đã được những người khác đặt ra cho họ. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Trong mười năm cuối đời, Rogers quan tâm sâu sắc đến công cuộc đổi mới giáo dục. Sử dụng nguyên tắc trung tâm từ phương pháp trị liệu của mình là lấy con người làm trung tâm, Rogers tin rằng giáo viên (như nhà trị liệu) nên đóng vai trò là người điều hành thay vì giám khảo hoặc người chỉ dẫn sự thật.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Những cuốn sách khác của Roger bao gồm ''Psychotherapy and Personality Change (1954), Freedom to Learn: A View of What Education Might Become (1969), Carl Rogers on Encounter Groups (1970), Carl Rogers on Personal Power (1977), and A Way of Being (1980)''.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Tâm lý học nhân văn và nguyên tắc lấy con người làm trung tâm của Rogers có ảnh hưởng đến Tâm lý học và Giáo dục học Việt Nam. Chúng đã và đang được ứng dụng rộng rãi trong trị liệu tâm lý và giáo dục ở Việt Nam hiện nay.&lt;br /&gt;
                                                                                            &lt;br /&gt;
==Tài liệu tham khảo==&lt;br /&gt;
# Vũ Dũng (Chủ biên), ''Từ điển Tâm lý học'', Nxb. Từ điển bách khoa, 2008, tr. 158 - 159.&lt;br /&gt;
# Rogers, Carl. and Stevens, B., ''Person to Person: The Problem of Being Human'', Lafayette, CA: Real People Press, 1967.&lt;br /&gt;
# Thorne, Brian, ''Carl Rogers'', London: Sage Publications, 1992.&lt;br /&gt;
# Kazdin A.E. (Editor in chief), ''Encyclopedia of Psychology: 8 volume set'', APA Publishing, Oxford University Press, Vol. 7, 2000, pp. 87 - 91.&lt;br /&gt;
# Strickland B. (Executive editor), ''The Gale Encyclopedia of Psychology'', Gale Group, 2001, pp. 199.&lt;br /&gt;
# Freedheim D.K., ''Handbook of Psychology'', Vol. 1, History of Psychology, John Wiley &amp;amp; Sons, 2003, pp. 124 - 125. &lt;br /&gt;
# W. Edward Craighead and Charles B. Nemeroff (Editors), ''The Concise Corsini Encyclopedia of Psychology and Behavioral Science'', Published by John Wiley &amp;amp; Sons, Inc, Hoboken, New Jersey, Third edition, 2004, pp. 156 - 157.&lt;/div&gt;</summary>
		<author><name>Diemquynh834</name></author>
	</entry>
	<entry>
		<id>https://bktt.vn/index.php?title=R%E1%BB%91i_lo%E1%BA%A1n_t%C3%A2m_l%C3%BD&amp;diff=22427</id>
		<title>Rối loạn tâm lý</title>
		<link rel="alternate" type="text/html" href="https://bktt.vn/index.php?title=R%E1%BB%91i_lo%E1%BA%A1n_t%C3%A2m_l%C3%BD&amp;diff=22427"/>
		<updated>2023-01-11T07:05:45Z</updated>

		<summary type="html">&lt;p&gt;Diemquynh834: Tạo trang mới với nội dung “{{sơ}}'''Rối loạn tâm lý (Tên cũ: Rối loạn thần kinh chức năng)''' là một thuật ngữ được sử dụng để mô tả các bệ…”&lt;/p&gt;
&lt;hr /&gt;
&lt;div&gt;{{sơ}}'''Rối loạn tâm lý (Tên cũ: Rối loạn thần kinh chức năng)''' là một thuật ngữ được sử dụng để mô tả các bệnh về tâm lý nhưng không phải là loạn thần (nonpsychotic mental illness), dẫn đến cảm giác lo âu, phiền muộn và suy giảm chức năng.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Nguồn gốc==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Từ “neurosis” có nghĩa là “rối loạn thần kinh”, xuất hiện từ những năm cuối thể kỷ XVIII bởi Willian Cullen, một bác sĩ người Scotland. Định nghĩa của Cullen về loạn thần kinh (neurosis) gồm các rối loạn và triệu chứng liên quan đến hệ thần kinh, không có nguyên nhân thực thể rõ ràng. Sigmund Freud về sau sử dụng thuật ngữ loạn thần kinh lo âu (anxiety neurosis) để mô tả các bệnh lý tinh thần hay phiền muộn kèm với lo âu cực độ làm tiêu chuẩn định nghĩa. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Có nhiều quan điểm khác nhau về cách sử dụng thuật ngữ “loạn thần kinh” trong lâm sàng ngày nay. Thuật ngữ này thường không được sử dụng làm một mục trong chẩn đoán bởi các nhà tâm lý học và các bác sĩ tâm thần tại Mỹ và được loại trừ khỏi Sổ tay Chẩn đoán và Thống kê các loại Rối loạn tâm thần (DSM) của Hiệp hội Tâm thần học Hoa Kỳ vào năm 1980 và ở tái bản lần thứ ba của xuất bản này; mặc dù nó vẫn xuất hiện ở tái bản lần thứ hai. Một số chuyên gia sử dụng thuật ngữ này để mô tả triệu chứng lo âu và các hành vi liên quan, hoặc các bệnh tâm lý nằm ngoài các rối loạn tâm thần (ví dụ: tâm thần phân liệt, hoang tưởng…). Một số khác, chủ yếu là các nhà phân tích tâm thần học (các bác sĩ tâm thần theo đuổi các mô hình điều trị phân tích tâm lý, như Freud và Carl Jung), sử dụng thuật ngữ này để mô tả quá trình bên trong của bệnh tâm lý (bất đồng vô thức) mà gây ra sự lo âu đặc hiệu cho một loạn thần kinh.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Phân loại==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Các rối loạn thần kinh khác với các rối loạn tâm thần ở chỗ các cá nhân với triệu chứng bệnh loạn thần kinh vẫn có một nhận thức rõ ràng về thực tại, trong khi các bệnh tâm thần thì không. Một số phân loại cơ bản về bệnh loạn thần kinh, tâm thần bao gồm:&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
* Rối loạn lo âu (Anxiety Neurosis): Một bệnh tâm lý được định nghĩa bởi lo âu cực độ, đôi khi đi kèm các cơn hoảng loạn (panic attack) và biểu hiện thực thể bởi run rẩy, đau ngực, toát mồ hôi và buồn nôn.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
* Rối loạn trầm cảm (Depressive Neurosis): Một bệnh tâm lý được định nghĩa bởi cảm giác sâu sắc về nỗi buồn và sự tuyệt vọng, đi kèm với việc mất đi những thích thú đã có từ trước.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
* Rối loạn ám ảnh cưỡng chế (Obsessive-Compulsive Disorder): Sự tồn tại thường xuyên và dai dẳng của ý nghĩ hay hình ảnh (ám ảnh) và phải thực hiện lặp đi lặp lại các hành vi có tính chất ép buộc (cưỡng chế).&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
* Rối loạn cảm giác bản thể (Somatization) (từng được gọi là loạn thần - hysteria): Sự tồn tại các triệu chứng thực thể không thể giải thích được bằng một bệnh lý, nhưng được thay bằng biểu hiện của lo âu hoặc các rối loạn tâm lý khác.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
* Rối loạn stress sau chấn thương (hay loạn thần kinh sau chiến tranh-Post Traumatic Stress Disorder): Stress cực độ và mất chức năng sau khi chứng kiến những sự kiện gây sang chấn tâm lý như chiến tranh, hay liên quan đến chấn thương nặng hay cái chết.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Loạn thần kinh bù đắp (Compensation Neurosis): Không hẳn là một rối loạn thần kinh mà là một dạng giả vờ các triệu chứng tâm lý vì tiền hoặc vì lợi ích cá nhân. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Nguyên nhân ==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Vào năm 1996, một loại gen và những alen (hai phần của một gen phụ trách việc mã hóa của bộ gen đó) được cho là có liên quan tới rối loạn thần kinh. Gene được phát hiện có chức năng kiểm soát lượng serotonin (một chất dẫn truyền thần kinh của hệ thần kinh trung ương) được tiết ra bằng việc sản xuất một protein giúp vận chuyển chất này. Protein vận chuyển này mang serotonin qua khoảng synapse (khoảng không giữa các tế bào neuron thần kinh) để kích thích tế bảo thần kinh khác và cũng hỗ trợ tế bào thần kinh ban đầu tái hấp thu (hay còn gọi là quá trình “reuptake”) serotonin. Trong trường hợp của “gen loạn thần kinh”, các alen tương ứng với gene này, như alen đơn ký hiệu là s cho alen ngắn, có biểu hiện kiểu hình tổng hợp thiếu protein vận chuyển serotonin, trong khi một alen khác ký hiệu là l cho alen dài lại biểu hiện kiểu hình tổng hợp quá nhiều protein này. Khi lượng protein vận chuyển được tổng hợp không đủ, một lượng lớn serotonin sẽ tích tụ trong khoảng synapse, mà không được truyền đi hay tái hấp thu, dẫn đến các triệu chứng hay bệnh lý thần kinh chức năng, cho đến khi đủ protein vận chuyển cho hai việc này. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Một nghiên cứu liên quan trên 500 bệnh nhân loạn thần kinh cho thấy, các bệnh nhân có đặc điểm tính cách (personality traits) dễ rối loạn thần kinh, thường có một cặp alen ngắn (hoặc một ngắn một dài) không tổng hợp đủ protein vận chuyển. Phát hiện này giống với một nghiên cứu khác vào cùng năm cho thấy, những phụ nữ ở 37 nước khác nhau có điểm số đo lường rối loạn thần kinh luôn cao hơn đàn ông. Việc điểm cao trên thang đo này biến thiên qua các đặc điểm về tầng lớp kinh tế - xã hội và văn hóa, nhưng lại cho thấy xu hướng nghiêng về một giới, ủng hộ giả thiết về cơ sở di truyền của bệnh lý loạn thần kinh. Tuy nhiên, một nghiên cứu trên hơn 9.500 cư dân của Vương quốc Anh vào năm 1998 cho thấy người có chất lượng sống thấp hơn có tỷ lệ rối loạn cao hơn. Điều này có thể là do các yếu tố di truyền làm cá nhân có khuynh hướng lo âu và rối loạn thần kinh chức năng hơn và các yếu tố ngoại lai, như tình trạng kinh tế - xã hội, làm xuất hiện, phát sinh triệu chứng bệnh lý này.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Chẩn đoán==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Bệnh nhân với các triệu chứng của bệnh lý tâm thần cần được kiểm tra khám đầy đủ và chi tiết để loại trừ các nguyên nhân thực thể như u não và chấn thương đầu. Nếu một dạng loạn thần kinh được nghi ngờ, một nhà tâm lý học hoặc một bác sĩ tâm thần sẽ thường sắp xếp một buổi phỏng vấn bệnh nhân và đưa ra các bài kiểm tra lâm sàng (như thang điểm, bảng kiểm, bộ câu hỏi…) để đánh giá tình trạng tâm lý. Các bài kiểm tra có thể được đưa ra để đánh giá và chẩn đoán loạn thần kinh bao gồm Thang đo Neuroticism Extraversion and Openness (NEO-R), Sixteen Personality Factor Questionnaire (16PF) và bộ câu hỏi Social Maladjustment Schedule.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Điều trị==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Loạn thần kinh nên được điều trị bởi nhà tư vấn, nhà tâm lý trị liệu, nhà tâm lý học, bác sĩ tâm lý và các nhân viên chăm sóc sức khỏe tâm thần. Điều trị cho một bệnh nhân loạn thần kinh phụ thuộc vào các triệu chứng hiện hữu và mức độ suy giảm chức năng gây ra cho bệnh nhân. Các phương pháp điều trị có thể bao gồm liệu pháp tâm lý, liệu pháp nhận thức - hành vi, liệu pháp sáng tạo (như nghệ thuật trị liệu, âm nhạc trị liệu) hoặc sử dụng thuốc, hoặc qua các bài tập thư giãn.&lt;br /&gt;
                                                                                         &lt;br /&gt;
==Tài liệu tham khảo==&lt;br /&gt;
# Vũ Dũng (Chủ biên), ''Từ điển Tâm lý học'', Nxb. Từ điển bách khoa, 2008, tr. 158 - 159.&lt;br /&gt;
# American Psychiatric Association, ''Diagnostic and Statistical Manual of Mental Disorders'' 4th ed. Washington, DC: American Psychiatric Press, Inc, 1994. &lt;br /&gt;
# Fenichel, Otto M., ''The Psychoanalytic Theory of Neurosis'': 50th Anniversary Edition. New York: W.W. Norton &amp;amp; Son, 1995.&lt;br /&gt;
# Kazdin A.E. (Editor in chief), ''Encyclopedia of Psychology: 8 volume set'', APA Publishing, Oxford University Press, Vol. 7, 2000, pp. 87 - 91.&lt;br /&gt;
# Strickland B. (Executive editor), ''The Gale Encyclopedia of Psychology'', Gale Group, 2001, pp. 199.&lt;br /&gt;
# Freedheim D.K., Handbook of Psychology, Vol. 1, ''History of Psychology'', John Wiley &amp;amp; Sons, 2003, pp. 124 - 125. &lt;br /&gt;
# W. Edward Craighead and Charles B. Nemeroff (Editors), ''The Concise Corsini Encyclopedia of Psychology and Behavioral Science'', Published by John Wiley &amp;amp; Sons, Inc, Hoboken, New Jersey, Third edition, 2004, pp. 156 - 157.&lt;/div&gt;</summary>
		<author><name>Diemquynh834</name></author>
	</entry>
	<entry>
		<id>https://bktt.vn/index.php?title=R%E1%BB%91i_nhi%E1%BB%85u_nh%C3%A2n_c%C3%A1ch_ch%E1%BB%91ng_%C4%91%E1%BB%91i_x%C3%A3_h%E1%BB%99i&amp;diff=22377</id>
		<title>Rối nhiễu nhân cách chống đối xã hội</title>
		<link rel="alternate" type="text/html" href="https://bktt.vn/index.php?title=R%E1%BB%91i_nhi%E1%BB%85u_nh%C3%A2n_c%C3%A1ch_ch%E1%BB%91ng_%C4%91%E1%BB%91i_x%C3%A3_h%E1%BB%99i&amp;diff=22377"/>
		<updated>2023-01-10T09:52:17Z</updated>

		<summary type="html">&lt;p&gt;Diemquynh834: Tạo trang mới với nội dung “{{sơ}}'''Rối nhiễu nhân cách chống đối xã hội''' là những người vô trách nhiệm xã hội, có xu hướng vi phạm pháp luật.…”&lt;/p&gt;
&lt;hr /&gt;
&lt;div&gt;{{sơ}}'''Rối nhiễu nhân cách chống đối xã hội''' là những người vô trách nhiệm xã hội, có xu hướng vi phạm pháp luật. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Các hành vi điển hình của người rối nhiễu nhân cách chống đối xã hội là hành vi không tuân thủ pháp luật và phạm tội, hay lừa dối người khác vì lợi ích cá nhân, thiếu sự đồng cảm với người khác.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Vấn đề rối nhiễu nhân cách chống đối xã hội đã được nghiên cứu khá sớm, nhưng những nghiên cứu chính thức bắt đầu từ đầu thế kỷ XIX. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Philippe Pinel, cha đẻ của Tâm thần học hiện đại đã sử dụng thuật ngữ manie sans delire để mô tả những người không mất trí, nhưng có những cơn bộc phát thịnh nộ và bạo lực phi lý trí. Vào cuối thế kỷ XIX, các nhà tâm thần học Đức đã đưa ra thuật ngữ chứng thái nhân cách để mô tả một loạt các hành vi lệch lạc và lập dị. Các thuật ngữ này sau đó đã được phổ biến bởi bác sĩ tâm thần người Mỹ Hervey Cleckley trong cuốn sách Mask of Sanity xuất bản đầu tiên năm 1941. Thuật ngữ rối nhiễu nhân cách đã được giới thiệu trong ấn bản đầu tiên của Sổ tay Chẩn đoán và thống kê về rối loạn tâm thần (Diagnostic and Statistical Manual of Mental Disorders - DSM-I), xuất bản năm 1952 và được thay thế bởi khái niệm rối nhiễu nhân cách chống đối xã hội năm 1968 trong ấn bản thứ hai của các DSM và nó đã trở thành một thuật ngữ mà sử dụng thường xuyên trong phiên bản thứ tư của DSM.  &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Sự chống đối xã hội thường có lịch sử hành vi từ thời thơ ấu như đánh nhau với bạn cùng trang lứa, xung đột với người lớn, nói dối, gian lận, ăn cắp, phá hoại, đốt lửa, bỏ nhà đi xa và đối xử tàn ác với động vật hoặc trẻ em khác. Khi đến tuổi thanh niên, hành vi chống đối xã hội phát triển ở mức hoàn thiện. Nó được thể hiện ở sự thiếu trách nhiệm xã hội như hiệu suất công việc thấp, không đáng tin cậy, thay đổi công việc thường xuyên và bị sa thải, hành vi phạm tội, nói dối bệnh lý và hay sử dụng bí danh. Số liệu khảo sát tại Hoa Kỳ cho thấy số người rối nhiễu nhân cách chống đối xã hội có từ 2% đến 4% ở nam giới và 0,5% đến 1% ở phụ nữ (Donald W. Black, 2004). &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Rối nhiễu nhân cách chống đối xã hội có thể thay đổi theo hướng tích cực. Bệnh nhân có xu hướng cải thiện hành vi chống đối theo xu hướng tiến bộ khi tuổi tác tăng lên. Đối với những người rối nhiễu nhân cách chống đối xã hội phổ biến là mắc bệnh tâm thần. Nhiều người có hành vi chống đối xã hội thường là những người bị rối nhiễu do sử dụng rượu hoặc ma túy, rối nhiễu tâm trạng, rối nhiễu lo âu hoặc rối nhiễu thiếu tập trung. Một số do rối nhiễu chức năng tình dục, paraphilias, rối nhiễu nhân cách khác. Rối nhiễu kiểm soát (ví dụ, cờ bạc bệnh lý) cũng là những biểu hiện thường xuyên. Những người rối nhiễu nhân cách chống xã hội thường là những người có nguy cơ giết người cao và cũng là những người có nguy cơ tử vong  cao do tự tử.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Những người rối nhiễu nhân cách chống đối xã hội có thể do di truyền ở mức độ nào đó từ gia đình. Kết quả nghiên cứu cho thấy 1/5 những người rối nhiễu nhân cách chống xã hội là họ hàng gần của những kẻ chống đối xã hội. Rối nhiễu nhân cách chống đối xã hội thường thấy ở các cặp song sinh giống hệt nhau hơn là những cặp song sinh khác nhau. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Một số nhà nghiên cứu cho rằng hệ thống thần kinh mãn tính dưới nách là nền tảng của rối nhiễu nhân cách chống đối xã hội. Lý thuyết này được ủng hộ khi người ta tìm thấy bằng chứng là những người chống đối xã hội có nhịp tim khi nghỉ ngơi thấp, độ dẫn điện trên da thấp và biên độ tăng trên các tiềm năng liên quan đến sự kiện. Chất dẫn truyền thần kinh trung ương serotonin có liên quan đến sự bốc đồng và hành vi hung hăng. Mức độ thấp của dịch não tủy 5- axit hydroxyindolacetic (5-HIAA) - một chất chuyển hóa của serotonin đã được tìm thấy ở những người đàn ông có hành vi đốt phá, giết người tàn ác hoặc giết trẻ sơ sinh cùng một gia đình. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Môi trường xã hội và gia đình cũng góp phần vào phát triển các hành vi chống đối xã hội. Người rối nhiễu nhân cách chống đối xã hội xuất hiện nhiều hơn ở những gia đình có cha mẹ xung đột và gia đình của họ thường xuyên bị phá vỡ bởi ngược đãi, ly hôn, ly thân hoặc gia đình vắng mặt cha mẹ thì trẻ em tự thể hiện hành vi chống đối xã hội ở mức độ cao. &lt;br /&gt;
                                                                                                     &lt;br /&gt;
==Tài liệu tham khảo==&lt;br /&gt;
# Vũ Dũng (Chủ biên), ''Từ điển Tâm lý học'', Nxb. Từ điển bách khoa, 2008, tr. 158 - 159.&lt;br /&gt;
# Cleckley, H., ''The mask of sanity: An attempt to clarify some issues about the so-called psychopathic personality'' (5th ed.), St. Louis: Mosby, 1976.  &lt;br /&gt;
# Hare, R. D., ''Without conscience: The disturbing world of the psychopaths among us'', New York: Pocket Books, 1993.&lt;br /&gt;
# Black, D. W., ''Bad boys, bad men: Confronting Antisocial Personality Disorder'', New York: Oxford University Press, 1999.&lt;br /&gt;
# Kazdin A.E. (Editor in chief), ''Encyclopedia of Psychology: 8 volume set'', APA Publishing, Oxford University Press, Vol. 7, 2000, pp. 87 - 91.'&lt;br /&gt;
# Strickland B. (Executive editor), ''The Gale Encyclopedia of Psychology'', Gale Group, 2001, pp. 199.&lt;br /&gt;
# Freedheim D.K., ''Handbook of Psychology'', Vol. 1, History of Psychology, John Wiley &amp;amp; Sons, 2003, pp. 124 - 125. &lt;br /&gt;
# W. Edward Craighead and Charles B. Nemeroff (Editors), ''The Concise Corsini Encyclopedia of Psychology and Behavioral Science'', Published by John Wiley &amp;amp; Sons, Inc, Hoboken, New Jersey, Third edition, 2004,pp. 156 - 157.&lt;/div&gt;</summary>
		<author><name>Diemquynh834</name></author>
	</entry>
	<entry>
		<id>https://bktt.vn/index.php?title=Charles_Edward_Spearman_(1863_-_1945)&amp;diff=22375</id>
		<title>Charles Edward Spearman (1863 - 1945)</title>
		<link rel="alternate" type="text/html" href="https://bktt.vn/index.php?title=Charles_Edward_Spearman_(1863_-_1945)&amp;diff=22375"/>
		<updated>2023-01-10T09:45:18Z</updated>

		<summary type="html">&lt;p&gt;Diemquynh834: Tạo trang mới với nội dung “Charles Edward Spearman (1863 - 1945) {{sơ}}'''Charles Edward Spearman (1863 - 1945)''' là mộ…”&lt;/p&gt;
&lt;hr /&gt;
&lt;div&gt;[[File:Charles Edward Spearman (1863 - 1945).jpg|thumb|Charles Edward Spearman (1863 - 1945)]]&lt;br /&gt;
{{sơ}}'''Charles Edward Spearman (1863 - 1945)''' là một nhà tâm lý học lý thuyết và thực nghiệm người Anh, người tiên phong nghiên cứu về trí thông minh. Charles Edward Spearman là một nhà tâm lý học có ảnh hưởng lớn đến sự phát triển các biện pháp thống kê thường được sử dụng trong tâm lý học và phương pháp thống kê được gọi là phân tích nhân tố. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Các nghiên cứu của Charles Edward Spearman về bản chất của khả năng của con người đã dẫn đến Lý thuyết hai yếu tố về trí thông minh. Trong khi đó, hầu hết các nhà tâm lý học tin rằng tâm lý con người được xác định bởi nhiều yếu tố độc lập, nhưng Spearman lại cho rằng nhân tố chung của trí thông minh (g) có mặt ở các mức độ khác nhau trong những khả năng khác nhau của con người (s). Công trình của Spearman trở thành cơ sở cho việc kiểm tra trí thông minh. Ông cũng xây dựng tám định luật cơ bản của tâm lý học.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Spearman được sinh ra ở London vào năm 1863, ông là con trai thứ hai của Alexander Young và Louisa Ann Caroline Amelia. Spearman được học tại Trường Leamington (Leamington College).&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
=='''Gia nhập quân đội và sự nghiệp khoa học'''==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Spearman có một năng lực khác thường của một nhà tâm lý học. Thời thơ ấu, anh có tham vọng theo nghề học thuật. Ông lần đầu tiên gia nhập quân đội với tư cách là một sĩ quan kỹ sư chính quy vào tháng 8 năm 1883 và được thăng chức đội trưởng vào ngày 8 tháng 7 năm 1893, phục vụ tại Munster Fusiliers, ở Myanma và Ấn Độ. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Sau 15 năm, ông rời khỏi quân ngũ năm 1897 để đi học Tiến sĩ Tâm lý học thực nghiệm. Ở Anh, Tâm lý học thường được xem là một nhánh của triết học và Spearman đã chọn học tại Leipzig dưới thời Wilhelm Wundt. Bởi vì, đó là một trung tâm của “Tâm lý học mới” sử dụng phương pháp khoa học thay vì suy đoán siêu hình. W.Wundt thường xuyên vắng mặt vì nhiều nhiệm vụ và sự nổi tiếng của mình, Spearman chủ yếu làm việc với Felix Krueger và Wilhelm Wirth. Đây là hai người mà ông rất ngưỡng mộ. Ông cũng làm việc với Oswald Külpe tại Đại học Wurzburg và với Georg Elias Müller tại trường Đại học của Gottech.&lt;br /&gt;
 &lt;br /&gt;
Việc học của ông gián đọan bởi cuộc Chiến tranh Boer (Boer War). Vào năm 1897 ông được gọi trở lại quân đội và phục vụ với tư cách là trợ lý của Phó tướng ở Guernsey từ tháng 2 năm 1900. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Ông đã lấy được bằng Tiến sĩ Tâm lý học vào năm 1906. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Spearman kết hôn Fanny Aikman năm 1901. Hai người có bốn người con, ba cô con gái và một người con trai. Người con trai này đã chết sớm vào năm 1941 tại đảo Crete. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
=='''Đo lường trí thông minh'''==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Ông đã công bố bài báo chuyên đề về phân tích nhân tố tình báo (1904) trên Tạp chí Tâm lý học Mỹ (American Journal of Psychology). Trong công trình này, lần đầu tiên Spearman giới thiệu phân tích nhân tố và cố gắng xác định các yếu tố được đo bằng các bài Trắc nghiệm trí thông minh. Sử dụng phương pháp thống kê, Spearman nhận thấy tổng quát về yếu tố thông minh khác biệt với các quá trình ''trí nhớ'', khả năng thể chất và các giác quan. Ông đã chứng minh rằng các trắc nghiệm trí thông minh, ngoài việc đo lường “g” còn đo cụ thể những khả năng mà ông gọi là các yếu tố “s” của người như lời nói, kỹ năng toán học và nghệ thuật. Điều này đã trở thành ''Lý thuyết hai yếu tố về trí thông minh'' của Spearman. Spearman trở về Anh vào năm 1907, ông tham gia một trắc nghiệm tâm lý của Đại học College, London. Spearman đã gặp và gây ấn tượng với nhà tâm lý học William McDougall, người đã sắp xếp cho Spearman thay thế ông khi ông rời vị trí của mình tại Đại học College London. Spearman làm việc ở trường đại học này cho đến khi ông nghỉ hưu vào năm 1931. Ban đầu, ông là người đứng đầu phòng thí nghiệm tâm lý nhỏ. Năm 1911, ông được thăng chức giáo sư về triết học, tâm lý học và logic. Chức danh giáo sư của ông đổi thành giáo sư tâm lý học vào năm 1928 khi Khoa Tâm lý học được tách ra riêng biệt. &lt;br /&gt;
 &lt;br /&gt;
=='''Lý thuyết về trí thông minh'''==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Quan điểm của Spearman về yếu tố “g” (và cả của Godfrey Thomson và Edward Thorndike) đã được đề cập trong quá trình các cuộc khảo sát quốc tế do Carnegie tài trợ. Ở đây, Spearman đưa ra một bản tóm tắt ngắn gọn về những phát hiện và lý thuyết của ông về nhân tố “g”. &lt;br /&gt;
 &lt;br /&gt;
Để trả lời câu hỏi yếu tố “g” là gì, người ta phải phân biệt giữa ý nghĩa của thuật ngữ và sự thật về sự vật. Yếu tố “g” có nghĩa là một số lượng cụ thể có được từ các hoạt động thống kê. Trong một số điều kiện nhất định, điểm của một người trong bài trắc nghiệm tâm lý có thể được chia thành hai yếu tố, một trong số đó luôn giống nhau trong tất cả các bài trắc nghiệm, trong khi điểm khác thay đổi từ bài trắc nghiệm này sang bài trắc nghiệm khác. Yếu tố không đổi này được gọi là yếu tố chung hoặc “g”, trong khi các yếu tố kia được gọi là yếu tố cụ thể. Đây là ý nghĩa của thuật ngữ “g” - yếu tố điểm số. Nhưng ý nghĩa này là đủ để đưa ra thuật ngữ được xác định rõ những điều cơ bản của các khảo sát khoa học. Chúng ta có thể tiến hành tìm hiểu sự thật về yếu tố điểm số hay yếu tố “g”. Chúng ta có thể xác định loại hoạt động tâm lý trong đó “g” đóng một phần chi phối so với các yếu tố khác. Và do đó, phát hiện ra yếu tố “g” đã chiếm ưu thế trong các hoạt động học tiếng Latinh. Yếu tố “g” có xu hướng chiếm ưu thế theo hiệu suất liên quan đến nhận thức về các mối quan hệ hoặc nó đòi hỏi các mối quan hệ được nhìn nhận trong một tình huống nên được chuyển sang một tình huống khác… Khi cân nhắc các bằng chứng, nhiều người trong chúng ta thường nói rằng yếu tố “g” xuất hiện để đo một số dạng năng lượng tinh thần.&lt;br /&gt;
  &lt;br /&gt;
Tuy nhiên, ở vị trí thứ hai, dường như có lý do chính đáng để thay đổi khái niệm năng lượng thành “sức mạnh” (tất nhiên, đó là năng lượng hoặc công việc chia cho thời gian). Theo cách này, người ta có thể nói về sức mạnh tâm trí theo cách tương tự như về sức mạnh con ngựa “g” là yếu tố bình thường của các sự kiện được xác định bẩm sinh.  &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Ngoài ra còn có một yếu tố khác theo đề xuất của Spearman đó là trí thông minh đặc biệt. Trí thông minh đặc biệt dành cho những cá nhân đạt được kết quả thành công cao trong các bài trắc nghiệm tương tự. Tuy nhiên, sau đó Spearman đã giới thiệu yếu tố nhóm đặc biệt với những tương quan không phải là kết quả của yếu tố “g” hoặc “s”. Ý tưởng của ông là vào năm 1938 bị chỉ trích bởi nhà tâm lý học Louis L. Thurstone. Bằng các thí nghiệm của mình, Louis L. Thurstone cho thấy trí thông minh hình thành bảy loại yếu tố chính: số, lý luận, không gian, nhận thức, trí nhớ, lưu loát bằng lời nói và hiểu bằng lời nói. Thurstone cuối cùng đã đồng ý với Spearman rằng có một yếu tố chung trong các phép đo tiềm năng. Sau đó, Raymond Cattell (1963) cũng ủng hộ khái niệm yếu tố chung được lý thuyết hóa bởi Spearman, nhưng nhấn mạnh hai dạng khả năng, được phân biệt bởi sự phát triển của chúng ở tuổi già: ''trí thông minh và sự kết tinh''. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Cùng với thời gian, Spearman ngày càng lập luận rằng từ quan điểm tâm lý học “g” không phải là một khả năng duy nhất mà bao gồm hai khả năng rất khác nhau thường hoạt động chặt chẽ với nhau. Những khả năng này được ông gọi là khả năng “phát sinh”. Thuật ngữ trước đây xuất phát từ gốc “giáo dục” trong tiếng Latinh có nghĩa là “rút ra” và do đó đề cập đến khả năng làm cho ý nghĩa thoát khỏi sự nhầm lẫn. Ông khẳng định rằng để hiểu những khả năng khác nhau này “trong sự tương phản khó khăn, sự hợp tác có mặt khắp nơi và mối liên kết di truyền của họ” cho nghiên cứu về “sự khác biệt cá nhân - và thậm chí cả nhận thức” là “khởi đầu của trí tuệ”. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Mặc dù Spearman lập luận rằng “g” là yếu tố xuất hiện từ một số lượng lớn các bài trắc nghiệm. Tức là nó không được đo một cách hoàn hảo bằng bất cứ trắc nghiệm nào. Thực tế là lý thuyết “g” cho rằng nhiều khả năng có thể nắm bắt được yếu tố duy nhất và Spearman gợi ý rằng “sự hướng dẫn về các mối quan hệ và tương quan” làm nền tảng cho yếu tố chung “g” này dẫn tới một trắc nghiệm tìm hiểu về khả năng chung này (“g”). Ma trận của Raven có thể được coi là một trong những ma trận như vậy. Mặc dù bản thân Raven tuyên bố rõ ràng rằng các bài trắc nghiệm của ông không nên được coi là các bài kiểm tra “thông minh”.    &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Trong khi người ta tranh luận rằng “g” chiếm phần lớn sự khác biệt cá nhân về “khả năng” (được đo bằng các bài trắc nghiệm “không được sử dụng trong trường học”), bởi vì chúng “làm chệch hướng” giáo viên, học sinh, phụ huynh và sự chú ý của các chính trị gia từ ngành kinh doanh giáo dục, Spearman cũng thừa nhận rằng “Mọi đàn ông, phụ nữ và trẻ em bình thường đều là thiên tài về một thứ gì đó”.   &lt;br /&gt;
Mô hình của Spearman có ảnh hưởng, nhưng cũng bị một số người khác phê phán. Chẳng hạn, như Godfrey Thomson. Cụ thể là việc chuyển từ “g” tâm lý sang “g” sinh học - Đó là một cơ chế hoặc cơ chế sinh học đơn nhất. Đây vẫn là vấn đề cần nghiên cứu sâu thêm. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
=='''Phân tích nhân tố'''== &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Phân tích nhân tố là một thử nghiệm thống kê được sử dụng để tìm mối quan hệ giữa nhiều biện pháp tương quan và Spearman đóng một vai trò rõ ràng trong sự phát triển của nó. Spearman đưa ra thuật ngữ phân tích nhân tố và sử dụng nó rộng rãi trong việc phân tích nhiều nghiên cứu về nhận thức. Chính dữ liệu phân tích nhân tố đã khiến Spearman đưa ra các mô hình nhân tố chung và cụ thể ban đầu về năng lực. Spearman đã áp dụng các quy trình toán học cho các hiện tượng tâm lý và hun đúc kết quả phân tích của mình thành một lý thuyết. Điều này ảnh hưởng rất lớn đến tâm lý học hiện đại. Phân tích nhân tố khẳng định mối quan hệ hiện đại và là nền tảng của nhiều nghiên cứu hành vi hiện đại.  &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
=='''Đánh giá cống hiến của Spearman'''==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Khi Spearman được bầu vào Hội Hoàng gia Anh năm 1924  người ta có nhận xét: Tiến sĩ Spearman đã thực hiện nhiều nghiên cứu về tâm lý học thực nghiệm. Nhiều bài báo được xuất bản của ông bao quát một lĩnh vực rộng lớn, nhưng ông đặc biệt nổi bật nhờ công việc tiên phong trong việc áp dụng các phương pháp toán học vào phân tích tâm lý con người và các nghiên cứu ban đầu về mối tương quan trong lĩnh vực này. Ông đã truyền cảm hứng và chỉ đạo công việc nghiên cứu của nhiều thế hệ học trò.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Đứng đầu trong số những thành tựu nghiên cứu của Spearman là việc ông phát hiện ra yếu tố chung (“g”) trong trí thông minh của con người, phát triển tiếp theo của ông về một lý thuyết “g”  và tổng hợp công việc thực nghiệm về năng lực. Spearman bị ảnh hưởng mạnh mẽ bởi các công trình nghiên cứu của Francis Galton. Galton đã đi tiên phong trong tâm lý học và phát triển mối tương quan, công cụ thống kê chính và đã được Spearman sử dụng.  &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Trong thống kê, Spearman đã phát triển mối tương quan thứ bậc (1904), một phiên bản không tham số của tương quan Pearson thông thường, cũng như sự điều chỉnh được sử dụng rộng cho ''phiên bản sớm nhất của “phân tích nhân tố”'' (Lovie &amp;amp; Lovie, 1996). Công việc thống kê của ông không được đồng nghiệp Karl Pearson đánh giá cao do có sự mâu thuẫn sâu sắc giữa họ. &lt;br /&gt;
          &lt;br /&gt;
Mặc dù Spearman đã đạt được sự công nhận nhiều nhất trong thời đại của mình cho công trình nghiên cứu về thống kê. Ông coi công việc này là phục vụ cho hoạt động nghiên cứu của mình về các quy luật tâm lý cơ bản và Spearman nổi tiếng ở cả hai lĩnh vực này.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Spearman là thủ lĩnh của những người quan tâm và sử dụng phương pháp thống kê và thử nghiệm có hệ thống các khả năng của con người thuộc ngành Tâm lý học ở các trường học London. Qua ảnh hưởng của Spearman, trường đại học trở thành trung tâm nghiên cứu Tâm lý học ở Anh. Ông được bầu là một thành viên của Hiệp hội Hoàng gia vào năm 1924 và là Chủ tịch của Hiệp hội Tâm lý học Anh từ năm 1923 đến 1926. Năm 1925 Spearman là Chủ tịch ngành Tâm lý học của Hiệp hội Khoa học vì sự tiến bộ của Anh. Ông trở thành giáo sư tâm lý học tại Đại học năm 1928 và đã được trao một bằng danh dự LLD của Đại học Wittenberg năm 1929. Spearman là hội viên danh dự của nhiều tổ khoa học xã hội nước ngoài.&lt;br /&gt;
                                                                                                  &lt;br /&gt;
=='''Tài liệu tham khảo'''==&lt;br /&gt;
# Vũ Dũng (Chủ biên), ''Từ điển Tâm lý học'', Nxb. Từ điển bách khoa, 2008, tr. 158 - 159.&lt;br /&gt;
# Spearman, C., “C. Spearman”, In ''A history of psychology in autobiography'', edited by Carl Allanmore Murchison, New York: Appleton-Century-Crofts, 1967.&lt;br /&gt;
# Hearnshaw, Leslie, “Spearman, Charles Edward”, In ''Thinkers of the twentieth century: a biographical, bibliographical and critical dictionary'', edited by Elizabeth Devine, Michael Held, James Vinson, and George Walsh. Detroit: Gale Research, 1983.&lt;br /&gt;
# Kazdin A.E. (Editor in chief), ''Encyclopedia of Psychology: 8 volume set'', APA Publishing, Oxford University Press, Vol. 7, 2000, pp. 87 - 91.&lt;br /&gt;
# Strickland B. (Executive editor), ''The Gale Encyclopedia of Psychology'', Gale Group, 2001, pp. 199.&lt;br /&gt;
# Freedheim D.K., ''Handbook of Psychology'', Vol. 1, History of Psychology, John Wiley &amp;amp; Sons, 2003, pp. 124 - 125. &lt;br /&gt;
# W. Edward Craighead and Charles B. Nemeroff (Editors), ''The Concise Corsini Encyclopedia of Psychology and Behavioral Science'', Published by John Wiley &amp;amp; Sons, Inc, Hoboken, New Jersey, Third edition, 2004, pp. 156 - 157.&lt;/div&gt;</summary>
		<author><name>Diemquynh834</name></author>
	</entry>
	<entry>
		<id>https://bktt.vn/index.php?title=T%C3%A2m_l%C3%BD_h%E1%BB%8Dc_n%E1%BB%AF_quy%E1%BB%81n&amp;diff=22372</id>
		<title>Tâm lý học nữ quyền</title>
		<link rel="alternate" type="text/html" href="https://bktt.vn/index.php?title=T%C3%A2m_l%C3%BD_h%E1%BB%8Dc_n%E1%BB%AF_quy%E1%BB%81n&amp;diff=22372"/>
		<updated>2023-01-10T09:33:42Z</updated>

		<summary type="html">&lt;p&gt;Diemquynh834: Tạo trang mới với nội dung “{{sơ}}'''Tâm lý học nữ quyền (Thay mục từ: Đánh giá tâm lý)''' là một phân ngành tâm lý học nghiên cứu về vị trí, vai t…”&lt;/p&gt;
&lt;hr /&gt;
&lt;div&gt;{{sơ}}'''Tâm lý học nữ quyền (Thay mục từ: Đánh giá tâm lý)''' là một phân ngành tâm lý học nghiên cứu về vị trí, vai trò và năng lực của phụ nữ trong xã hội. Tâm lý học nữ quyền còn được gọi là tâm lý học của phụ nữ, phân tích quá trình giới tính được hình thành, nhấn mạnh giá trị trong quan điểm và kinh nghiệm của phụ nữ. Tâm lý học nữ quyền ủng hộ sự bình đẳng về chính trị, xã hội và văn hóa giữa phụ nữ và nam giới. Nó cũng cố gắng xóa bỏ phân biệt giới tính trong xã hội. Người ta có thể nhìn nhận Tâm lý học nữ quyền từ những góc nhìn khác nhau, nhưng tất cả chúng đều thể hiện một cách sâu sắc về khả năng hiện diện của phụ nữ trong tâm lý học.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Tâm lý học nữ quyền thách thức giá trị của các định kiến và kỳ vọng về vai trò truyền thống vốn có về giới, thách thức duy trì các mô hình thống trị của nam giới và sự phụ thuộc của nữ giới trong xã hội của chúng ta. Tâm lý học nữ quyền như một sự phản ứng đối với các quan điểm lý thuyết duy trì một trật tự phụ hệ, trong đó phụ nữ vẫn là thứ yếu. Đồng thời nó đặt ra vấn đề về cấu trúc thể chế xã hội, sự đối xử, thành tích nghề nghiệp, quyền tự quyết có trách nhiệm của phụ nữ và nam giới.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Sự ra đời của Tâm lý học nữ quyền==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Tâm lý học nữ quyền đã nổi lên như một phong trào cơ sở ở Hoa Kỳ vào những năm 60 của thế kỷ XX. Đặc biệt là trong các tác phẩm của Weisstein và Gilligan. Họ tố cáo những thành kiến phân biệt giới tính đang thịnh hành và sự không tồn tại của phụ nữ trong tâm lý học. Những người tiên phong này nhấn mạnh rằng không có tác giả nữ trong bất kỳ lý thuyết chính nào về sự phát triển và hoạt động tâm lý của con người và phụ nữ đã bị bỏ sót, bị bỏ qua, ngay cả với tư cách là những người tham gia nghiên cứu ở giai đoạn hình thành các lý thuyết tâm lý. Weisstein đã chỉ ra vào năm 1971 “Tâm lý học là sự tưởng tượng của đàn ông”. Nghĩa là, các nhà khoa học rút ra kết luận của họ từ việc điều tra đàn ông và khái quát hóa kinh nghiệm của đàn ông một cách mù quáng với trải nghiệm và cuộc sống của phụ nữ.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Bài báo của Weisstein “Tâm lý học tạo nên phụ nữ” đã thách thức chủ nghĩa phân biệt giới tính trong tâm lý học, đồng thời đưa ra một lời chỉ trích kép đối với tâm lý học chính thống rằng nó thiếu tính chặt chẽ về mặt khoa học và nó bỏ qua vai trò của bối cảnh xã hội. Việc thiếu sự chặt chẽ khoa học đề cập đến các thiếu sót trong những trải nghiệm của một nửa dân số (phụ nữ) trong nghiên cứu lý thuyết hỗ trợ tâm lý. Sự thiếu nhận thức về bối cảnh xã hội này đề cập đến sự nhấn mạnh chủ nghĩa cá nhân đã đặc trưng trong phương pháp luận, cũng như trong việc xây dựng lý thuyết cho tâm lý học. Chẳng hạn, bỏ qua tầm quan trọng của quyền lực và giới tính trong hành vi. Những lời chỉ trích này vẫn còn nguyên giá trị và nhiều nhà Tâm lý học nữ quyền ngày nay vẫn nhắc lại khẳng định này. Công trình của Cole năm 1979 có tựa đề ''Công bằng trong khoa học'' là một nghiên cứu tiên phong. Nó tập trung vào sự phân biệt đối xử dựa trên giới tính của sự phân tầng của khoa học. Đóng góp chính của nó là giúp tăng cường hiểu biết về những thách thức, cơ hội và trở ngại của phụ nữ khi nỗ lực hoạt động trong lĩnh vực khoa học. Một số nghiên cứu vào thập kỷ 70 và 80 đã chỉ ra một niềm tin về sự thấp kém của phụ nữ. Sự thấp kém được cho là đã bộc lộ trong các lĩnh vực xã hội và nghề nghiệp khác nhau. Niềm tin này dẫn tới sự phân biệt đối xử với phụ nữ và nó đã cản trở phụ nữ tiếp cận và thành công trong một số ngành nghề nhất định. Phụ nữ gặp phải các hành vi phân biệt đối xử khi đăng ký đào tạo sau đại học, tuyển dụng và xuất bản nghiên cứu của họ. Weisstein, Chesler, Evans Gardner và những người khác vào năm 1970 đã thành lập American Women in Psychology, nay là Phòng 35 của Hiệp hội Tâm lý học Hoa kỳ (American Psychological Association). Chính xác Hội được thành lập vào năm 1973. Trong thời gian này Hiệp hội Tâm lý Canada (CPA) thành lập Ủy ban Địa vị phụ nữ của CPA để khẳng định địa vị của phụ nữ trong Tâm lý học Canada. Sự kiện này đã góp phần làm nổi bật sự hiện diện và kinh nghiệm của phụ nữ trong các lĩnh vực tâm lý học khác nhau (Ví dụ, lý luận đạo đức, đạo đức nữ quyền, lịch sử tâm lý học, tâm lý học lâm sàng, tâm lý học cộng đồng).&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
''Phân tâm học và Tâm lý học nữ quyền''&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Quan điểm nữ quyền nổi tiếng nhất có liên quan đến quan điểm của Phân tâm học. Sử dụng kinh nghiệm làm mẹ của chính mình, Deutsch - một trong những nhà phân tâm học nữ đầu tiên của Hiệp hội Phân tâm học Vienna, đã nhấn mạnh hậu quả của việc đánh giá thấp phụ nữ của phái Freud đối với sức khỏe tâm lý của phụ nữ.  &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Horney, một nhà nữ quyền của phân tâm học đã chỉ trích Deutsch vì đánh đồng phụ nữ với chứng khổ dâm, chỉ ra thách thức vai trò của giới trong sự phát triển nhân cách, đồng thời nhấn mạnh tầm quan trọng của xã hội và văn hóa là yếu tố quyết định sự phát triển bình thường và bệnh lý. Vấn đề quyền phụ nữ cũng được nhấn mạnh trong lý thuyết quan hệ đối tượng của Chodorow và Benjamin cũng như các nhà phân tâm học người Pháp Kristeva, Cixous.   &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
''Tâm lý học lâm sàng và Tâm lý học nữ quyền''&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Trong tâm lý học lâm sàng, nữ quyền có một vị trí vững chắc trong liệu pháp tâm lý. Liệu pháp tâm lý nữ quyền nổi lên như một phản ứng đối với sự thống trị của nam giới trong các ngành và cơ sở chăm sóc sức khỏe tâm thần. Nó phản đối vai trò mà cơ sở chăm sóc sức khỏe tâm thần thực hiện trong việc duy trì sự bất bình đẳng xã hội và quyền lực giữa nam giới và phụ nữ, cũng như giữa các thành viên của nền văn hóa thống trị và những người của nhóm dân tộc thiểu số. &lt;br /&gt;
   &lt;br /&gt;
''Đạo đức và vấn đề nữ quyền''&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Trong đạo đức truyền thống đã nói đến vai trò khác nhau của nam và nữ. Theo truyền thống, nam giới được xã hội hóa để tự chủ và độc lập, trong khi nữ giới được cho là thụ động nhưng yêu thương chăm sóc người khác. Những khác biệt này trong thực tiễn xã hội hóa dẫn đến những giá trị khác nhau. Đối với nam giới, những khác biệt này dẫn đến một nền đạo đức dựa trên sự khẳng định quyền của mình và chấp nhận các nguyên tắc trừu tượng, ngay cả khi phải hy sinh hạnh phúc của người khác. Đối với phụ nữ, những khác biệt này dẫn đến một nền đạo đức dựa trên sự quan tâm, trong đó sự trưởng thành của phụ nữ ngày càng mở rộng phạm vi tinh thần trách nhiệm và lòng trắc ẩn của họ. Gilligan, trong cuốn sách ''A Other Voice'' năm 1982, đã mô tả một trong những lý thuyết tâm lý nổi tiếng nhất về sự phát triển của phụ nữ. Bằng cách lắng nghe các cô gái và phụ nữ giải quyết những tình huống khó xử về đạo đức nghiêm trọng trong cuộc sống của họ, Gilligan đã hình thành sự phát triển của một lý luận đạo đức được tổ chức xung quanh các khái niệm về trách nhiệm và sự chăm sóc. Bà cho rằng những trải nghiệm về bất bình đẳng và sự phụ thuộc trong cuộc sống của phụ nữ và trẻ em gái đã tạo ra một cảm giác đạo đức về bản thân dựa trên sự ràng buộc của con người và được đặc trưng bởi mối liên hệ chặt chẽ với các mối quan hệ. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Nhìn chung, chủ nghĩa nữ quyền đã buộc tâm lý học phải có lập trường bao gồm cả phụ nữ trong lý thuyết, cũng như trong nghiên cứu và thực hành. Việc đưa tâm lý học phụ nữ và tâm lý học trẻ em gái làm chủ đề nghiên cứu hợp pháp không kém phần quan trọng so với việc đặt tên và khám phá các vấn đề chính trong cuộc sống và kinh nghiệm của phụ nữ. Đến nay, Tâm lý học nữ quyền đã cho thấy sức mạnh của tiếng nói của phụ nữ trong việc mở rộng hiểu biết của chúng ta về sự phát triển của con người và nó đang dần thành công trong việc đưa vấn đề giới vào chương trình nghị sự của tâm lý học chính thống. Các khía cạnh khác trong đóng góp của tâm lý nữ quyền liên quan đến việc xây dựng lại các phương pháp nghiên cứu và các ưu tiên để nghiên cứu phụ nữ trong bối cảnh trải nghiệm của họ, tích hợp nhiều sự đa dạng vào tất cả các lĩnh vực phụ của chuyên ngành, phát triển các phương pháp tiếp cận sáng tạo trong liệu pháp tâm lý. Những hiểu biết về nữ quyền đang thay đổi sự hiểu biết của chúng ta trong việc nghiên cứu tâm lý học và sự phát triển của con người.  &lt;br /&gt;
                                                                                         &lt;br /&gt;
==Tài liệu tham khảo==&lt;br /&gt;
# Baker Miller, J., ''Toward a new psychology of women'', Boston: Beacon, 1987.&lt;br /&gt;
# Belenky, M., Clinchy, B., Goldberger, N., &amp;amp; Tarule, J., Women’s ways of knowing: ''The development of self, voice, and mind'', New York: Basic Books. Feminist Psychology 27, 1997.&lt;br /&gt;
# Unger, R., ''Resisting gender: Twenty-five years of feminist psychology'', Thousand Oaks, CA: Sage, 1998.&lt;br /&gt;
# Bosch, E., Ferrer, V., &amp;amp; Gili, M., ''Historia de la Misoginia (History of misogyny)'', Barcelona, Spain: Anthropos, 1999.  &lt;br /&gt;
# Bond, M., &amp;amp; Mulvey, A., ''A history of women and feminist perspectives in community psychology, American Journal of Community Psychology'', 28, 2000, pp. 599 - 630.&lt;br /&gt;
# Brabeck, M., &amp;amp; Ting, K., ''Feminist ethics: Lenses for examining ethical psychological practice'', In M. Brabeck (Ed.), Practicing feminist ethics in psychology, Washington, DC: American Psychological Association, 2000, pp. 17 - 35.&lt;/div&gt;</summary>
		<author><name>Diemquynh834</name></author>
	</entry>
	<entry>
		<id>https://bktt.vn/index.php?title=Edward_Chace_Tolman_(1886_-_1959)&amp;diff=22369</id>
		<title>Edward Chace Tolman (1886 - 1959)</title>
		<link rel="alternate" type="text/html" href="https://bktt.vn/index.php?title=Edward_Chace_Tolman_(1886_-_1959)&amp;diff=22369"/>
		<updated>2023-01-10T09:24:25Z</updated>

		<summary type="html">&lt;p&gt;Diemquynh834: &lt;/p&gt;
&lt;hr /&gt;
&lt;div&gt;[[File:EDWARD CHACE TOLMAN (1886 - 1959).jpg|thumb|Edward Chace Tolman (1886 - 1959)]]&lt;br /&gt;
{{sơ}}''' Edward Chace Tolman (1886 - 1959)''' là nhà tâm lý học người Mỹ, một trong những đại diện nổi bật của Thuyết hành vi. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Ông sinh ngày 14 - 4 - 1886 trong một gia đình khá giả ở West Newton, bang Massachusetts, Mỹ. Năm1907, ông tốt nghiệp trường công lập ở West Newton. Từ 1907 đến 1911, ông học đại học và tốt nghiệp ngành Điện hóa tại Viện Công nghệ Massachussetts. Sau đó, ông không tiếp tục theo đuổi lĩnh vực điện hóa mà quyết định học nghiên cứu sinh tại Đức (1912 - 1915) về Tâm lý học Gestalt.&lt;br /&gt;
 &lt;br /&gt;
Sau khi có bằng tiến sĩ, ông quay về Mỹ, dạy tại Đại học Northwestern, bang Illinois. Năm 1918, ông chuyển về Đại học tổng hợp Berkeley, bang California. Tại đây, ông đã tiến hành các thực nghiệm nghiên cứu cách học trong mê cung ở chuột. Khi giảng chuyên đề Tâm lý học so sánh, ông cảm thấy không thỏa mãn với thuyết Hành vi của J. Watson và bắt đầu soạn thảo cách tiếp cận riêng của mình. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Năm 1932, ông xuất bản cuốn ''“Hành vi có mục đích ở động vật và con người”''. Từ 1932 trở đi, ông và học trò liên tục công bố các bài báo về sự học của động vật. Năm 1942, ông xuất bản cuốn sách ''“Những xung năng hướng tới chiến tranh”'', giải thích về động cơ thúc đẩy con người tham chiến, mô tả các biện pháp kiểm soát xã hội cần phải được thực thi để không xảy ra chiến tranh. Ngày 19-11-1959, ông qua đời ở tuổi 73 tại Berkeley, California, Mỹ.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Thuyết Hành vi của E.C. Tolman có nguồn gốc từ cả hai trường phái: ''Tâm lý học Gestalt'' (K. Koffka) và ''Tâm lý học hành vi'' (J. Watson). Tolman đồng ý với phương pháp luận cơ bản của thuyết Hành vi cho rằng Tâm lý học chỉ có thể được nghiên cứu bằng những thực nghiệm khách quan mang tính khoa học, nhưng ông cũng quan tâm đến các quá trình tâm trí (tri giác, nhận thức…) trong tâm lý học Gestalt. Kết nối hai hướng tiếp cận này, ông phát triển một Lý thuyết mới về hành vi.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Đóng góp đầu tiên của E.C. Tolman là đề xướng nghiên cứu các quá trình bên trong giữa kích thích (S) và phản ứng (R), một cách tiếp cận rất khác với thuyết Hành vi của J. Watson, từ đó đưa ra ''thuyết Hành vi có mục đích'' (còn có tên gọi khác là “hành vi hướng đích”, ''“hành vi có chủ đích”)''. E.C. Tolman tự gọi thuyết Hành vi của mình là ''“Thuyết Hành vi phân tử lượng”'' (coi hành vi là một quá trình mang tính chỉnh thể, không tách ra được từng phản ứng riêng lẻ) để nhấn mạnh sự khác biệt với ''thuyết Hành vi phân tử'' của J. Watson (coi hành vi là tập hợp các hành động vận động tách rời nhau). Theo ông, hành vi tổng thể có hai đặc điểm: &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
# Liên quan trực tiếp tới các biến số trung gian, đặc biệt là “mục đích” và “bản đồ nhận thức” mà cá nhân học được trong quá trình hành động&lt;br /&gt;
# Không đơn thuần là phản ứng sinh học của cơ thể đối với các kích thích, mà còn bao hàm cả các sự kiện vật lý và tâm lý khác.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Đóng góp thứ hai của E.C. Tolman là đưa ra khái niệm ''“bản đồ nhận thức”'' và ''“lý thuyết học tập ngầm ẩn”'' trên cơ sở nghiên cứu sự học của chuột trong mê cung. So sánh các nhóm chuột được thưởng thức ăn sau khi thoát khỏi mê cung, gồm: nhóm 1 (thưởng hàng ngày), nhóm 2 (thưởng sau 6 ngày), nhóm 3 (thưởng sau 2 ngày), ông thấy: nhóm 2 và 3 mắc lỗi ít hơn sau khi được thưởng thức ăn. Điều đó chứng tỏ là, trước khi được thưởng, chuột đã “biết” được đường đi trong mê cung. Nói cách khác, chúng đã có một “bản đồ nhận thức”; đến khi phần thưởng được đưa ra, chúng sử dụng “bản đồ” này để thoát khỏi mê cung nhanh hơn mà thôi. Ông gọi thời kỳ học đầu tiên của lũ chuột (khi chưa có phần thưởng cụ thể, thường xuyên) là ''“học ngầm”''. Ông tin rằng, ở cả động vật và con người, trong đời sống thường ngày, đã xây dựng nên một bản đồ nhận thức về thế giới quanh mình nhằm áp dụng vào việc xác định và thực hiện những mục đích cụ thể. Ông lấy ví dụ, con người đã hình thành “bản đồ” về những địa điểm trong lộ trình ta đi qua hàng ngày, nhưng chỉ nhận ra bản đồ này khi cần tìm một địa điểm cụ thể trong lộ trình đó. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Thoạt nhìn, thuyết Hành vi có mục đích của E.C. Tolman, dường như là sự pha trộn của hai khái niệm: mục đích và hành vi. Tuy nhiên, E.C. Tolman vẫn được coi là một trong những đại diện nổi bật của thuyết Hành vi, vì trung thành với thuyết này, cả về đối tượng và phương pháp nghiên cứu. Về đối tượng nghiên cứu, ông vẫn không khuyến khích tâm lý học chấp nhận khái niệm ý thức. Dù có nói đến yếu tố mục đích, nhưng “mục đích” trong quan niệm của ông, là thứ hiện hữu trong hành động và phương tiện, được định nghĩa theo kiểu hành vi. Về phương pháp nghiên cứu, ông vẫn phủ nhận phương pháp nội quan, không quan tâm đến bất kỳ trải nghiệm bên trong nào của cơ thể, những thứ mà ông và thuyết Hành vi, cho rằng không thể quan sát trực tiếp từ bên ngoài. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Ở Việt Nam, các tư tưởng của E.C. Tolman được ứng dụng nhiều trong dạy học, giáo dục, tham vấn và trị liệu tâm lý, đặc biệt là lý thuyết học tập ngầm ẩn. Trong dạy học và đời sống, việc sử dụng “bản đồ nhận thức”, “sơ đồ tư duy” ngày càng được thừa nhận và phổ biến rộng rãi. Trong tham vấn, trị liệu tâm lý, liệu pháp trị liệu hành vi - nhận thức cũng có nguồn gốc từ lý thuyết này của E.C. Tolman.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Tài liệu tham khảo==&lt;br /&gt;
# Vũ Dũng (Chủ biên), ''Từ điển Tâm lý học'', Nxb. Từ điển bách khoa, 2008, tr. 158 - 159.&lt;br /&gt;
# Sam Atkinson, Sarah Tomley, ''Tâm lý học - Khái lược những tư tưởng lớn'', Nxb. Dân trí, Hà Nội, 2019.&lt;br /&gt;
# Kazdin A.E. (Editor in chief), Encyclopedia of Psychology: 8 volume set, APA Publishing, Oxford University Press, Vol. 7, 2000, pp. 87 - 91.&lt;br /&gt;
# Strickland B. (Executive editor), ''The Gale Encyclopedia of Psychology'', Gale Group, 2001, pp. 199.&lt;br /&gt;
# Freedheim D.K., ''Handbook of Psychology'', Vol. 1, History of Psychology, John Wiley &amp;amp; Sons, 2003, pp. 124 - 125. &lt;br /&gt;
# W. Edward Craighead and Charles B. Nemeroff (Editors), ''The Concise Corsini Encyclopedia of Psychology and Behavioral Science'', Published by John Wiley &amp;amp; Sons, Inc, Hoboken, New Jersey, Third edition, 2004, pp. 156 - 157.&lt;/div&gt;</summary>
		<author><name>Diemquynh834</name></author>
	</entry>
	<entry>
		<id>https://bktt.vn/index.php?title=Edward_Chace_Tolman_(1886_-_1959)&amp;diff=22366</id>
		<title>Edward Chace Tolman (1886 - 1959)</title>
		<link rel="alternate" type="text/html" href="https://bktt.vn/index.php?title=Edward_Chace_Tolman_(1886_-_1959)&amp;diff=22366"/>
		<updated>2023-01-10T09:14:37Z</updated>

		<summary type="html">&lt;p&gt;Diemquynh834: Tạo trang mới với nội dung “Edward Chace Tolman (1886 - 1959) {{sơ}}'''Chất tạo ngọt''' (tiếng Anh ''sweet tasting compo…”&lt;/p&gt;
&lt;hr /&gt;
&lt;div&gt;[[File:EDWARD CHACE TOLMAN (1886 - 1959).jpg|thumb|Edward Chace Tolman (1886 - 1959)]]&lt;br /&gt;
{{sơ}}'''Chất tạo ngọt''' (tiếng Anh ''sweet tasting compound'') là nhà tâm lý học người Mỹ, một trong những đại diện nổi bật của Thuyết hành vi. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Ông sinh ngày 14 - 4 - 1886 trong một gia đình khá giả ở West Newton, bang Massachusetts, Mỹ. Năm1907, ông tốt nghiệp trường công lập ở West Newton. Từ 1907 đến 1911, ông học đại học và tốt nghiệp ngành Điện hóa tại Viện Công nghệ Massachussetts. Sau đó, ông không tiếp tục theo đuổi lĩnh vực điện hóa mà quyết định học nghiên cứu sinh tại Đức (1912 - 1915) về Tâm lý học Gestalt.&lt;br /&gt;
 &lt;br /&gt;
Sau khi có bằng tiến sĩ, ông quay về Mỹ, dạy tại Đại học Northwestern, bang Illinois. Năm 1918, ông chuyển về Đại học tổng hợp Berkeley, bang California. Tại đây, ông đã tiến hành các thực nghiệm nghiên cứu cách học trong mê cung ở chuột. Khi giảng chuyên đề Tâm lý học so sánh, ông cảm thấy không thỏa mãn với thuyết Hành vi của J. Watson và bắt đầu soạn thảo cách tiếp cận riêng của mình. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Năm 1932, ông xuất bản cuốn “Hành vi có mục đích ở động vật và con người”. Từ 1932 trở đi, ông và học trò liên tục công bố các bài báo về sự học của động vật. Năm 1942, ông xuất bản cuốn sách “Những xung năng hướng tới chiến tranh”, giải thích về động cơ thúc đẩy con người tham chiến, mô tả các biện pháp kiểm soát xã hội cần phải được thực thi để không xảy ra chiến tranh. Ngày 19-11-1959, ông qua đời ở tuổi 73 tại Berkeley, California, Mỹ.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Thuyết Hành vi của E.C. Tolman có nguồn gốc từ cả hai trường phái: Tâm lý học Gestalt (K. Koffka) và Tâm lý học hành vi (J. Watson). Tolman đồng ý với phương pháp luận cơ bản của thuyết Hành vi cho rằng Tâm lý học chỉ có thể được nghiên cứu bằng những thực nghiệm khách quan mang tính khoa học, nhưng ông cũng quan tâm đến các quá trình tâm trí (tri giác, nhận thức…) trong tâm lý học Gestalt. Kết nối hai hướng tiếp cận này, ông phát triển một Lý thuyết mới về hành vi.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Đóng góp đầu tiên của E.C. Tolman là đề xướng nghiên cứu các quá trình bên trong giữa kích thích (S) và phản ứng (R), một cách tiếp cận rất khác với thuyết Hành vi của J. Watson, từ đó đưa ra thuyết Hành vi có mục đích (còn có tên gọi khác là “hành vi hướng đích”, “hành vi có chủ đích”). E.C. Tolman tự gọi thuyết Hành vi của mình là “Thuyết Hành vi phân tử lượng” (coi hành vi là một quá trình mang tính chỉnh thể, không tách ra được từng phản ứng riêng lẻ) để nhấn mạnh sự khác biệt với thuyết Hành vi phân tử của J. Watson (coi hành vi là tập hợp các hành động vận động tách rời nhau). Theo ông, hành vi tổng thể có hai đặc điểm: (i) Liên quan trực tiếp tới các biến số trung gian, đặc biệt là “mục đích” và “bản đồ nhận thức” mà cá nhân học được trong quá trình hành động; (ii) Không đơn thuần là phản ứng sinh học của cơ thể đối với các kích thích, mà còn bao hàm cả các sự kiện vật lý và tâm lý khác.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Đóng góp thứ hai của E.C. Tolman là đưa ra khái niệm “bản đồ nhận thức” và “lý thuyết học tập ngầm ẩn” trên cơ sở nghiên cứu sự học của chuột trong mê cung. So sánh các nhóm chuột được thưởng thức ăn sau khi thoát khỏi mê cung, gồm: nhóm 1 (thưởng hàng ngày); nhóm 2 (thưởng sau 6 ngày); nhóm 3 (thưởng sau 2 ngày), ông thấy: nhóm 2 và 3 mắc lỗi ít hơn sau khi được thưởng thức ăn. Điều đó chứng tỏ là, trước khi được thưởng, chuột đã “biết” được đường đi trong mê cung. Nói cách khác, chúng đã có một “bản đồ nhận thức”; đến khi phần thưởng được đưa ra, chúng sử dụng “bản đồ” này để thoát khỏi mê cung nhanh hơn mà thôi. Ông gọi thời kỳ học đầu tiên của lũ chuột (khi chưa có phần thưởng cụ thể, thường xuyên) là “học ngầm”. Ông tin rằng, ở cả động vật và con người, trong đời sống thường ngày, đã xây dựng nên một bản đồ nhận thức về thế giới quanh mình nhằm áp dụng vào việc xác định và thực hiện những mục đích cụ thể. Ông lấy ví dụ, con người đã hình thành “bản đồ” về những địa điểm trong lộ trình ta đi qua hàng ngày, nhưng chỉ nhận ra bản đồ này khi cần tìm một địa điểm cụ thể trong lộ trình đó. &lt;br /&gt;
Thoạt nhìn, thuyết Hành vi có mục đích của E.C. Tolman, dường như là sự pha trộn của hai khái niệm: mục đích và hành vi. Tuy nhiên, E.C. Tolman vẫn được coi là một trong những đại diện nổi bật của thuyết Hành vi, vì trung thành với thuyết này, cả về đối tượng và phương pháp nghiên cứu. Về đối tượng nghiên cứu, ông vẫn không khuyến khích tâm lý học chấp nhận khái niệm ý thức. Dù có nói đến yếu tố mục đích, nhưng “mục đích” trong quan niệm của ông, là thứ hiện hữu trong hành động và phương tiện, được định nghĩa theo kiểu hành vi. Về phương pháp nghiên cứu, ông vẫn phủ nhận phương pháp nội quan, không quan tâm đến bất kỳ trải nghiệm bên trong nào của cơ thể, những thứ mà ông và thuyết Hành vi, cho rằng không thể quan sát trực tiếp từ bên ngoài. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Ở Việt Nam, các tư tưởng của E.C. Tolman được ứng dụng nhiều trong dạy học, giáo dục, tham vấn và trị liệu tâm lý, đặc biệt là lý thuyết học tập ngầm ẩn. Trong dạy học và đời sống, việc sử dụng “bản đồ nhận thức”, “sơ đồ tư duy” ngày càng được thừa nhận và phổ biến rộng rãi. Trong tham vấn, trị liệu tâm lý, liệu pháp trị liệu hành vi - nhận thức cũng có nguồn gốc từ lý thuyết này của E.C. Tolman.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Tài liệu tham khảo==&lt;br /&gt;
# Vũ Dũng (Chủ biên), ''Từ điển Tâm lý học'', Nxb. Từ điển bách khoa, 2008, tr. 158 - 159.&lt;br /&gt;
# Sam Atkinson, Sarah Tomley, ''Tâm lý học - Khái lược những tư tưởng lớn'', Nxb. Dân trí, Hà Nội, 2019.&lt;br /&gt;
# Kazdin A.E. (Editor in chief), Encyclopedia of Psychology: 8 volume set, APA Publishing, Oxford University Press, Vol. 7, 2000, pp. 87 - 91.&lt;br /&gt;
# Strickland B. (Executive editor), ''The Gale Encyclopedia of Psychology'', Gale Group, 2001, pp. 199.&lt;br /&gt;
# Freedheim D.K., ''Handbook of Psychology'', Vol. 1, History of Psychology, John Wiley &amp;amp; Sons, 2003, pp. 124 - 125. &lt;br /&gt;
# W. Edward Craighead and Charles B. Nemeroff (Editors), ''The Concise Corsini Encyclopedia of Psychology and Behavioral Science'', Published by John Wiley &amp;amp; Sons, Inc, Hoboken, New Jersey, Third edition, 2004, pp. 156 - 157.&lt;/div&gt;</summary>
		<author><name>Diemquynh834</name></author>
	</entry>
	<entry>
		<id>https://bktt.vn/index.php?title=Tr%C3%B2_ch%C6%A1i&amp;diff=22361</id>
		<title>Trò chơi</title>
		<link rel="alternate" type="text/html" href="https://bktt.vn/index.php?title=Tr%C3%B2_ch%C6%A1i&amp;diff=22361"/>
		<updated>2023-01-10T08:56:42Z</updated>

		<summary type="html">&lt;p&gt;Diemquynh834: Tạo trang mới với nội dung “{{sơ}}'''Trò chơi (Tên cũ: Chơi)''' là một dạng hoạt động đặc biệt của động vật và người.   * Ở động vật bậc cao,…”&lt;/p&gt;
&lt;hr /&gt;
&lt;div&gt;{{sơ}}'''Trò chơi (Tên cũ: Chơi)''' là một dạng hoạt động đặc biệt của động vật và người. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
* Ở động vật bậc cao, trò chơi là một dạng hoạt động quan trọng của các con động vật non trẻ xuất hiện do nhu cầu tái tạo kinh nghiệm của loài để thích nghi với những thay đổi trong môi trường sống. Ở trẻ em, trò chơi là một loại hoạt động được tổ chức ra để tái tạo lại các hành động, các mối quan hệ xã hội của người lớn trong những hoàn cảnh đặc biệt. Trò chơi là hoạt động chủ đạo của trẻ em ở lứa tuổi mẫu giáo, tức là, nó tạo ra những thay đổi quan trọng nhất trong tâm lý của trẻ, phát triển nhân cách, chuẩn bị cho trẻ chuyển sang một giai đoạn phát triển mới, cao hơn. Ở người lớn, hoạt động trò chơi chủ yếu là các hình thức vui chơi, giải trí và cả các loại hình sinh hoạt văn hóa khác, mang tính cá nhân của người chơi. Trò chơi nói chung mang tính tự do, được thực hiện theo ý muốn của chủ thể, vì niềm vui của chính quá trình hoạt động, chứ không chỉ vì kết quả. Trò chơi có tính năng động, sáng tạo, mang tính chất ngẫu hứng là chủ yếu. Trò chơi kích thích cảm xúc, sự cạnh tranh, nhận biết đối thủ, cuốn hút. Trong mọi trò chơi đều có các quy tắc (trực tiếp hoặc gián tiếp) phản ánh nội dung, tính hợp lý và thời gian diễn ra của nó.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
* Ở phương diện lịch sử, loài người đã quan tâm nghiên cứu về Trò chơi từ rất sớm. Thời cổ đại, người Hy Lạp đã rất chú trọng đến trò chơi như một phương tiện giáo dục và đào tạo công dân ở một đất nước polis cổ đại. Nhà triết học Plato (427 - 347, TCN, Hy Lạp) coi con người là “một loại đồ chơi do Thượng đế sáng chế ra” và tất cả mọi người đều “chơi những trò chơi hay nhất”. Cùng với tính chất thiêng liêng của trò chơi ông đã coi chức năng giáo dục và giáo dưỡng của nó. Aristotle (384 - 322, TCN, Hy Lạp) trong các tác phẩm “Chính trị”, “Hùng biện”, “Thơ ca” đã mở rộng khái niệm “Trò chơi” ra cả “âm nhạc” và “thể dục”. Thời Trung Cổ, khi ý thức thần học trở nên thống trị, các trò chơi được tuyên bố là “Trò chơi của quỷ”.  A. Augustine (354 - 430, Algeria) cho rằng các trò chơi là biểu hiện của cuộc sống vô luân và tội lỗi đã tiêu diệt người La Mã. Chỉ đến thế kỷ XII, Victor Hugo (1802 - 1885, Pháp) mới xem trò chơi là một hoạt động mang tính giải trí. Sự phát triển của lý thuyết trò chơi được bắt đầu từ thế kỷ XVIII, chủ yếu gắn liền với tên tuổi của I. Kant (1724 - 1804, Đức) và F. Schiller (1759 - 1805, Đức). Trong chuyên luận “Phê phán khả năng phán đoán”. I. Kant đề cập đến phán đoán với một khái niệm thẩm mỹ, vì nó biểu thị “Trò chơi chủ quan của các khả năng tinh thần”. Nhà giáo dục và nhà tâm lý học người Đức F. Frebel (1782 - 1852) đã phát triển thêm các ý tưởng về vui chơi, người coi vui chơi là cách tốt nhất để đưa trẻ em đến hoạt động sáng tạo. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Trò chơi là một hiện tượng liên ngành phức tạp, bao hàm nhiều dạng hoạt động của con người với những biểu hiện rất phong phú của nó. Do vậy, hiện nay trong Tâm lý học vẫn tồn tại nhiều quan niệm khác nhau về trò chơi. H. Spencer (1820 - 1903, Anh) cho rằng chơi chính là sự giải tỏa năng lượng dư thừa ở trẻ em giống như con vật non. K. Groos (1861 - 1946, Đức) xem trò chơi là một hình thức hoạt động sống mà trong đó các cơ thể non trẻ được hoàn thiện. S. Hall (1846 - 1924, Mỹ ) coi sự phát triển tâm lý của đứa trẻ là sự thu gọn, lặp lại những thời kỳ phát triển của loài người. S. Freud (1856 - 1939, Áo) cho rằng trò chơi trẻ em là biểu hiện của hành vi bản năng tình dục. J. Piagie (1896 - 1980, Thụy sĩ) coi TC là một trong những hoạt động trí tuệ, là một nhân tố quan trọng đối với sự phát triển trí tuệ của trẻ, tạo ra sự thích nghi của trẻ với môi trường. W. Stern (1871 - 1938, Đức) cho rằng sự phát triển của trò chơi là kết quả của sự hội tụ của dữ liệu bên trong với các điều kiện môi trường bên ngoài. H. Vallon (1879 - 1962, Pháp) cho rằng, trò chơi của trẻ là sự phản ánh cuộc sống, là hoạt động của chúng được quy định bởi những điều kiện xã hội. Các nhà tâm lý học Mác-xít coi trò chơi là một hoạt động đặc trưng của xã hội loài người, phản ánh cuộc sống lao động, sinh hoạt của con người. Trò chơi của trẻ em có nguồn gốc xã hội, được truyền từ thế hệ này qua thế hệ khác theo con đường giáo dục. Cụ thể: Theo G.V. Plêkhanốp (1856 - 1918, Nga) TC là cầu nối các thế hệ với nhau, là phương tiện truyền tải thành tựu văn hóa từ đời này sang đời khác. X.L. Rubinstein (1889 - 1960, Nga), hiểu trò chơi là nhu cầu vĩnh cửu của trẻ em, sinh ra từ những tiếp xúc với thế giới bên ngoài, như một phản ứng đối với chúng. L.X. Vưgotsky (1896 - 1934, Nga), A.N. Leonchev (1903 - 1979, Nga) xem trò chơi trẻ em là một loại hoạt động đặc biệt, một cách thức hiệu quả để đưa trẻ em hòa nhập vào thế giới các hành động và mối quan hệ của người lớn. Đ.B. Encônhin (1904 - 1984, Nga) cho rằng nhu cầu và sự ham hiểu biết thế giới xung quanh chính là nguồn gốc động lực giúp trẻ tích cực hoạt động trong trò chơi. Trẻ có nhu cầu chơi vì chúng mong muốn hiểu biết thêm về thế giới xung quanh.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Trò chơi là hoạt động chủ đạo của trẻ em ở lứa tuổi mẫu giáo: Vào tuổi mẫu giáo, nhiều hình thức hoạt động phong phú đã xuất hiện như “vui chơi”, “học tập”, “lao động”, nhưng trò chơi mà cụ thể, trò chơi đóng vai theo chủ đề là hình thức hoạt động chủ đạo. Khi tham gia vào trò chơi đóng vai theo chủ đề, trẻ được thỏa mãn nguyện vọng là sống và hoạt động như người lớn. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Đặc điểm hoạt động==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Đặc điểm hoạt động trò chơi của trẻ mẫu giáo:&lt;br /&gt;
# Hoạt động vui chơi mang tính hồn nhiên, vô tư. Nghĩa là trong khi chơi trẻ không chủ tâm nhằm tới một lợi ích thiết thực nào cả. Cái thúc đẩy trẻ chơi chính là sự hấp dẫn của đồ chơi và bản thân quá trình chơi chứ không phải kết quả chơi&lt;br /&gt;
# Hoạt động vui chơi là hoạt động mang tính tự do, tự nguyện, tự lập. Vì trò chơi hấp dẫn trẻ, trẻ tự tạo ra nó, làm chủ được nó. Hơn nữa, do hành động chơi xuất hiện từ nguyện vọng và hứng thú cá nhân chứ không do sự áp đặt máy móc từ phía người lớn&lt;br /&gt;
# Hoạt động vui chơi là hoạt động mang màu sắc xúc cảm chân thực, mạnh mẽ. trò chơi đã tác động mạnh mẽ và toàn diện đến trẻ, vì nó thâm nhập dễ dàng hơn cả vào thế giới tình cảm của trẻ, mà tình cảm đối với trẻ là động cơ hoạt động mạnh mẽ nhất&lt;br /&gt;
# Hoạt động vui chơi mang tính chất tượng trưng. Vì hoạt động vui chơi của trẻ là mô phỏng lại cuộc sống của con người, mô phỏng lại những mối quan hệ giữa con người với tự nhiên và xã hội&lt;br /&gt;
# Hoạt động vui chơi của trẻ mang tính sáng tạo. Tính sáng tạo được thể hiện rất đa dạng: trong việc lựa chọn trò chơi, đồ chơi, nội dung chơi, hoàn cảnh chơi, cách chơi&lt;br /&gt;
# Trò chơi của trẻ thay đổi theo lứa tuổi. Nếu ở lứa tuổi hài nhi, hành động chơi chưa thể hiện rõ và thường xuất hiện sau những hành động mang tính ngẫu nhiên, tình cờ; Bước sang tuổi ấu nhi hành động chơi thể hiện rõ hơn khi xuất hiện những hành động mang tính chủ động. Cuối tuổi ấu nhi TC thao tác giả bộ xuất hiện. Đến tuổi mẫu giáo trò chơi ngày càng phong phú và hoàn thiện. &lt;br /&gt;
==Chức năng==&lt;br /&gt;
Các chức năng của trò chơi:&lt;br /&gt;
# Chức năng giáo dục cho phép xã hội giải quyết các vấn đề cụ thể của giáo dục và đào tạo thế hệ trẻ, nhằm mục đích đồng hóa tài liệu và quy tắc, chương trình nhất định mà người chơi phải tuân theo&lt;br /&gt;
# Chức năng giải trí góp phần gia tăng giai điệu tích cực về mặt cảm xúc, phát triển các hoạt động thể chất, nuôi dưỡng tâm trí trẻ những ấn tượng bất ngờ và sống động, tạo mảnh đất màu mỡ để thiết lập tình cảm giữa người lớn và trẻ nhỏ&lt;br /&gt;
# Chức năng giao tiếp là phát triển nhu cầu trao đổi kiến thức và kỹ năng với các bạn trong trò chơi, giao tiếp với họ và thiết lập các mối quan hệ thân thiện trên cơ sở này là bằng lời nói&lt;br /&gt;
# Chức năng giáo dục nhân cách giúp xác định các đặc điểm riêng của trẻ em, cho phép bạn loại bỏ những biểu hiện không mong muốn trong tính cách của học sinh&lt;br /&gt;
# Chức năng phát triển bao gồm sự phát triển của đứa trẻ, sửa chữa những gì vốn có và biểu hiện trong nó&lt;br /&gt;
# Chức năng thư giãn là phục hồi thể lực và tinh thần của trẻ &lt;br /&gt;
# Chức năng tâm lý là phát triển các khả năng sáng tạo của trẻ em.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Vai trò==&lt;br /&gt;
Vai trò của trò chơi trong sự phát triển tâm lý của trẻ mẫu giáo: Những phẩm chất tâm lý và những đặc điểm nhân cách của trẻ em mẫu giáo được phát triển mạnh mẽ trong hoạt động trò chơi. Hoạt động trò chơi ảnh hưởng mạnh tới sự hình thành tính chủ định của quá trình tâm lý; ảnh hưởng thường xuyên tới sự phát triển của hoạt động trí tuệ của đứa trẻ mẫu giáo; ảnh hưởng rất lớn đến sự phát triển ngôn ngữ của trẻ mẫu giáo; có ý nghĩa quyết định đối với sự phát triển trí tưởng tượng của trẻ mẫu giáo; tác động rất mạnh đến sự phát triển của đời sống tình cảm của trẻ mẫu giáo. Phẩm chất ý chí của trẻ mẫu giáo được hình thành mạnh mẽ trong trò chơi, đặc biệt là trò chơi đóng vai theo chủ đề. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Đồ chơi: Đồ chơi là vật thay thế cho đồ vật thật, mô phỏng những đồ vật thật nên giúp trẻ thực hiện những hành động chơi tương ứng với hành động thực. Đồ chơi phản ánh nền văn hóa của mỗi dân tộc. Đồ chơi mang tính hiện đại, tính toàn cầu. Đồ chơi chỉ là mô tả một cách ước lệ và khái quát những vật dụng trong lao động sản xuất và trong sinh hoạt hàng ngày của xã hội. Đồ chơi giúp cho trẻ thực hiện được các trò chơi, mà trò chơi chính là cuộc sống của trẻ thơ. Thế giới đồ chơi của trẻ vô cùng phong phú bao gồm nhiều loại: Loại đồ chơi mang tính hình tượng; Loại đồ chơi kỹ thuật; Loại đồ chơi vật liệu lắp ghép xây dựng cơ bản; Đồ chơi vận động; Đồ chơi mang tính hài hước vui nhộn; Đồ chơi âm nhạc; Đồ chơi dân gian.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Đồ chơi và hoàn cảnh chơi: Đồ chơi chỉ là vật thay thế nên thao tác chơi của trẻ không trùng với hành động của vai, đó là lý do làm nảy sinh hoàn cảnh tưởng tượng (tức là hoàn cảnh chơi).&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Đặc điểm đặc trưng==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Những đặc điểm đặc trưng của trò chơi đóng vai: &lt;br /&gt;
# Chủ đề chơi: Là các mảng hiện thực được phản ánh vào trò chơi, nên nó mang tính chất muôn màu, muôn vẻ&lt;br /&gt;
# Vai chơi: Là trẻ ướm mình vào vị trí của một người lớn nào đó và bắt chước hành động của họ như là để thực hiện các chức năng xã hội&lt;br /&gt;
# Trò chơi đóng vai theo chủ đề mang tính hợp tác: trò chơi này mô phỏng lại cuộc sống xung quanh của người lớn. Bản chất của trò chơi này là mô hình hóa những quan hệ xã hội mà trẻ chịu sự chi phối &lt;br /&gt;
# Trò chơi đóng vai theo chủ đề mang tính biểu trưng cao, đó là chức năng ký hiệu tượng trưng của trò chơi này. Giả tượng trưng cho thật, thể hiện trong khi chơi mỗi trẻ tự nhận cho mình một vai và hành động theo vai của mình nhưng tất cả những gì diễn ra trong trò chơi chỉ là giả vờ mà thôi. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Cấu trúc==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Cấu trúc của trò chơi đóng vai theo chủ đề: &lt;br /&gt;
# Chủ đề và nội dung: Trong trò chơi đóng vai theo chủ đề trẻ em đã phản ánh cuộc sống xung quanh rất đa dạng với các mảng hiện thực được phản ánh vào chủ đề của trò chơi. Nội dung của trò chơi là những hoạt động của người lớn mà đứa trẻ nhận thức được và phản ánh vào trò chơi của mình&lt;br /&gt;
# Vai chơi và hành động chơi: Vai tức là ướm mình vào vị trí của người lớn và bắt trước hành động của người đó. Đóng vai là con đường để trẻ thâm nhập vào cuộc sống của người lớn xung quanh &lt;br /&gt;
# Những mối quan hệ qua lại của trẻ trong trò chơi mô phỏng những mối quan hệ của người lớn trong xã hội. Đó là những quan hệ được trẻ quan tâm và trở thành đối tượng hành động của chúng. Nó làm nảy sinh luật lệ hành động của các vai, buộc trẻ phải tuân theo như những quy tắc xã hội (sẽ biến thành luật chơi). &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Yêu cầu tổ chức trò chơi đóng vai theo chủ đề: Đảm bảo tính chính xác của nhiệm vụ giáo dục khi tổ chức cho trẻ chơi. Phải giải thích rõ cho trẻ về các quy tắc và phương pháp của trò chơi. Đảm bảo sự phù hợp của trò chơi với độ tuổi, trình độ phát triển và sở thích của trẻ em. Đảm bảo trò chơi tuân thủ đúng phương hướng giáo dục chung của nhà trường và nhiệm vụ của bài học cụ thể. Giáo viên phải thể hiện tình cảm và sự quan tâm của mình trong quá trình chơi của trẻ. Cần đảm bảo tính đổi mới, mức độ lặp lại và sự thay đổi của các trò chơi .&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Tài liệu tham khảo==&lt;br /&gt;
# Vũ Dũng (Chủ biên), ''Từ điển Tâm lý học'', Nxb. Từ điển bách khoa, Hà Nội, 2008. &lt;br /&gt;
# Kazdin A.E. (Editor in chief), Encyclopedia of Psychology: 8 volume set, APA Publishing, Oxford University Press, Vol. 7, 2000, pp. 87 - 91.&lt;br /&gt;
# Strickland B. (Executive editor), ''The Gale Encyclopedia of Psychology'', Gale Group, 2001, pp. 199.&lt;br /&gt;
# Freedheim D.K., ''Handbook of Psychology'', Vol. 1, History of Psychology, John Wiley &amp;amp; Sons, 2003, pp. 124 - 125. &lt;br /&gt;
# W. Edward Craighead and Charles B. Nemeroff (Editors), ''The Concise Corsini Encyclopedia of Psychology and Behavioral Science'', Published by John Wiley &amp;amp; Sons, Inc, Hoboken, New Jersey, Third edition, 2004, pp. 156 - 157.&lt;br /&gt;
# Paglieri, F., ''Playing by and with the rules: norms and morality in play development''//F. Paglieri//Topoi, Vol. 24, № 3, 2005.&lt;/div&gt;</summary>
		<author><name>Diemquynh834</name></author>
	</entry>
	<entry>
		<id>https://bktt.vn/index.php?title=Truy%E1%BB%81n_th%C3%B4ng_b%E1%BA%A1o_l%E1%BB%B1c_v%C3%A0_h%C3%A0nh_vi_b%E1%BA%A1o_l%E1%BB%B1c_(T%C3%AAn_c%C5%A9:_Truy%E1%BB%81n_th%C3%B4ng_v%C3%A0_h%C3%A0nh_vi_b%E1%BA%A1o_l%E1%BB%B1c)&amp;diff=22358</id>
		<title>Truyền thông bạo lực và hành vi bạo lực (Tên cũ: Truyền thông và hành vi bạo lực)</title>
		<link rel="alternate" type="text/html" href="https://bktt.vn/index.php?title=Truy%E1%BB%81n_th%C3%B4ng_b%E1%BA%A1o_l%E1%BB%B1c_v%C3%A0_h%C3%A0nh_vi_b%E1%BA%A1o_l%E1%BB%B1c_(T%C3%AAn_c%C5%A9:_Truy%E1%BB%81n_th%C3%B4ng_v%C3%A0_h%C3%A0nh_vi_b%E1%BA%A1o_l%E1%BB%B1c)&amp;diff=22358"/>
		<updated>2023-01-10T08:39:03Z</updated>

		<summary type="html">&lt;p&gt;Diemquynh834: Tạo trang mới với nội dung “{{sơ}}'''Truyền thông bạo lực và hành vi bạo lực (Tên cũ: Truyền thông và hành vi bạo lực)''' là hành vi sử dụng các phư…”&lt;/p&gt;
&lt;hr /&gt;
&lt;div&gt;{{sơ}}'''Truyền thông bạo lực và hành vi bạo lực (Tên cũ: Truyền thông và hành vi bạo lực)''' là hành vi sử dụng các phương tiện truyền thông nhằm truyền đạt thông tin có chứa đựng nội dung bạo lực từ người gửi tới người nhận tin gây tổn thương về thể chất và tinh thần một cách có ý thức hoặc vô thức. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Ví dụ, phim trên ti vi có nội dung bạo lực, game bạo lực…&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Hành vi bạo lực là hành vi được con người (cá nhân, nhóm) thực hiện với mục đích gây tổn thương về thể chất và tinh thần cho người khác (cá nhân, nhóm) một cách trực tiếp hoặc gián tiếp. Ví dụ, hành vi gây gổ, bắt nạt hoặc đe dọa người khác ở học sinh.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Khi nói tới truyền thông cần phân biệt rõ nội dung truyền thông và phương tiện truyền thông. Nội dung truyền thông là ý nghĩa của nội dung thông điệp mà người gửi thông điệp muốn truyền đạt tới người nhận tin. Ví dụ, truyền thông về dịch bệnh Covid-19, truyền thông về sự nóng lên của khí hậu toàn cầu đe dọa sự tồn tại của các loài trên trái đất… Phương tiện truyền thông là yếu tố trung gian có khả năng chứa đựng nội dung truyền thông (vật mang tin) ví dụ, đài phát thanh, ti vi, báo, internet, tờ rơi, pano… Hiện nay trong khoa học truyền thông người ta chia ra làm 7 loại hình cơ bản của truyền thông là: báo in, sách, điện ảnh, phát thanh, truyền hình, quảng cáo, internet, băng đĩa hình ảnh và âm thanh.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Các quan điểm và hướng tiếp cận nghiên cứu==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Truyền thông bạo lực và hành vi bạo lực thường được các nhà tâm lý học, xã hội học, truyền thông học và giáo dục học quan tâm nghiên cứu. Tuy nhiên, mỗi khoa học có cách tiếp cận nghiên cứu riêng. Dưới góc độ tâm lý học truyền thông là quá trình tương tác xã hội, ảnh hưởng lẫn nhau giữa con người với con người (cá nhân hoặc nhóm), vì vậy để nâng cao hiệu quả hoạt động truyền thông việc sử dụng các quy luật và cơ chế tâm lý trong tương tác xã hội có ý nghĩa hết sức quan trọng. Hoạt động truyền thông trong xã hội đương đại có vai trò to lớn trong việc định hướng dư luận xã hội và hình thành hành vi xã hội. Nếu nội dung truyền thông không được kiểm soát (có nội dung bạo lực) có thể ảnh hưởng trực tiếp tới hành vi con người đặc biệt là trẻ em trong đó có hành vi bạo lực.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Các nghiên cứu những năm 1990 về nội dung bạo lực trên truyền hình ở Hoa Kỳ chủ yếu tập trung vào số lượng, thời gian kéo dài bạo lực, tần số lặp lại bạo lực… Kết quả thống kê cho thấy gần hai phần ba số chương trình trên truyền hình Hoa Kỳ có nội dung bạo lực. Các nghiên cứu hiệu ứng của truyền thông bạo lực đối với người xem vẫn còn được tiếp tục cho tới ngày nay. Tuy chưa có nghiên cứu so sánh về bạo lực trên phim truyền hình với trò chơi điện tử nhưng nhiều phân tích kết quả điều tra đã cho thấy bạo lực ở các trò chơi điện tử là phổ biến hơn.&lt;br /&gt;
Thông thường các nghiên cứu tác động của việc tiếp xúc bạo lực trên các phương tiện truyền thông: truyền hình, trò chơi điện tử và âm nhạc, video… đều hướng tới việc trả lời câu hỏi bạo lực đã tác động tới suy nghĩ, thái độ và cảm xúc của trẻ sau khi tiếp xúc như thế nào. Kết quả nghiên cứu cho thấy có mối tương quan thuận có ý nghĩa thống kê giữa việc tiếp xúc với bạo lực trên các phương tiện truyền thông và hành vi bạo lực ở trẻ em.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Một số nghiên cứu tập trung vào đặc điểm tâm lý của trẻ em nhằm xác định nhóm trẻ nào có khả năng bị ảnh hưởng nhất bởi bạo lực trên phương tiện truyền thông? và trong những trường hợp nào trẻ bị ảnh hưởng?. Các nghiên cứu gần đây đã tập trung vào các phương tiện truyền thông có tính tương tác mạnh như trò chơi điện tử, trò chơi trực tuyến đã ảnh hưởng tới hành vi bạo lực ở trẻ thế nào? Kết quả các nghiên cứu bạo lực truyền thông và hành vi bạo lực của trẻ đã cho thấy những nhóm trẻ em tiếp xúc thụ động với phim ảnh bạo lực trên truyền hình thường bị tác động mạnh nhất. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Cơ chế lý thuyết==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Các nhà tâm lý học, truyền thông học và xã hội học đã xây dựng các mô hình lý thuyết giải thích mối quan hệ giữa bạo lực truyền thông và hành vi bạo lực, xâm khích. Một số mô hình lý thuyết mô tả bản chất nhận thức xã hội của các quan hệ, tương tác của trẻ với cha mẹ, bạn bè đã tập trung vào cách mọi người học, suy nghĩ và cư xử trong quan hệ xã hội thực và trong một thế giới ảo do các phương tiện truyền thông tạo ra. Các nhà tâm lý học đã phân biệt giữa các cơ chế tác động truyền thông với hiệu ứng ngắn hạn và các cơ chế tác động dài hạn. Hiệu ứng ngắn hạn thường thông qua ý tưởng nhận thức, bắt chước, sự đánh thức và kích thích. Ý tưởng nhận thức được giải thích dựa trên mạng liên kết nơron thần kinh, trong đó các ý tưởng được kích hoạt bởi các tác động từ môi trường xã hội. Khi tiếp xúc với các cảnh bạo lực truyền thông có thể kích hoạt các suy nghĩ, cảm xúc và kịch bản bạo lực. Một khi những suy nghĩ, cảm xúc, kịch bản này được kích hoạt sẽ trở thành bộ máy sàng lọc, diễn giải các sự kiện từ đó kích thích hành vi bạo lực, xâm khích. Cách giải thích này tập trung vào một thực tế là khi xem bạo lực đã làm cho trẻ em và thanh thiếu niên phấn khích. Sự phấn khích này còn sót lại sau khi xem bạo lực truyền thông có thể tiếp tục chi phối xu hướng hành vi của người xem làm cho họ có thể bị kích động và trở nên xâm khích hơn.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Trò chơi điện tử có thể gây kích động rất đặc biệt vì các video điện tử trong trò chơi thường liên quan đến việc sử dụng bạo lực lặp lại nhiều lần, lâu dài trên cơ sở đó thúc đẩy hành vi xâm khích của người chơi. Theo các nhà nghiên cứu hiệu ứng ngắn hạn và dài hạn của bạo lực truyền thông được cho là kết quả của việc học tập. Hành vi bạo lực học được trên phương tiện truyền thông được thúc đẩy bởi một số yếu tố trong đó có các yếu tố cá nhân và môi trường. Mô hình hành vi bạo lực hấp dẫn đối với người xem có khả năng làm tăng bạo lực ở người xem là: Hành vi bạo lực sau khi tiếp xúc với bạo lực trên phương tiện truyền thông ở người xem phụ thuộc vào khả năng nhận dạng mô hình và ngữ cảnh bạo lực trên thực tế cũng như cách thức củng cố nó (thưởng thay hay trừng phạt). Muốn có được hiệu ứng truyền thông lâu dài thì môi trường xã hội cần củng cố các hành vi đã học được trên các phương tiện truyền thông. Hơn nữa, việc học không giới hạn bởi tính đặc trưng của bạo lực truyền thông. Khi nhận thức được các kịch bản hành vi và tương tác xã hội trên cơ sở đó hình thành thái độ đối với phương tiện truyền thông bạo lực. Hiệu ứng “mồi” thường được coi là ngắn hạn, nhưng kết quả nghiên cứu nhận thức xã hội đã chỉ ra rằng những tác động đó có thể có những ảnh hưởng lâu dài. Nếu môi trường truyền thông thường xuyên mang tính bạo lực thì những suy nghĩ và cảm xúc bạo lực có thể tác động tới ý nghĩ và hành động bạo lực làm cho các tương tác xã hội được diễn giải một cách thiên vị, gây hấn.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Việc tiếp xúc lâu dài với bạo lực trên các phương tiện truyền thông có thể dẫn đến hiệu ứng “giải cảm” cảm xúc giống như trải nghiệm xảy ra trong quá trình điều trị giải cảm - một kỹ thuật điều trị ám ảnh rất có hiệu quả. Bản chất của hiệu ứng này là bạo lực trên các phương tiện truyền thông có thể làm giảm lo lắng hoặc sợ hãi liên quan đến ám ảnh và khiến khách hàng ít bị kích động hơn. Các tương quan giữa giải cảm cảm xúc với bạo lực, hành vi xâm khích hiện nay chưa được nghiên cứu làm rõ.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Đặc điểm của người xem: không phải tất cả các cá nhân tiếp xúc với bạo lực trên phương tiện truyền thông đều có hiệu ứng giống nhau. Một số đặc điểm cá nhân có thể kiềm chế tác động của truyền thông bạo lực tới hành vi xâm khích của họ. Tuổi người xem có ảnh hưởng tới ứng truyền thông bạo lực, thông thường người trẻ tuổi, trẻ em thường dễ có hành vi bạo lực, xâm khích hơn. Giới tính của người xem bạo lực trên các phương tiện truyền thông và hành vi bạo lực cũng là vấn đề phức tạp. Nghiên cứu ban đầu cho thấy bạo lực truyền thông tác động lớn hơn đối với trẻ em trai so với các em gái; tuy nhiên một số nghiên cứu gần đây đã không xác nhận sự khác biệt này. Một số nghiên cứu khác cho thấy nam và nữ thể hiện các mô hình gây hấn khác nhau, với các em trai có xu hướng thiên về hành vi bạo lực thể chất trực tiếp, trong khi đó, các em gái có xu hướng thiên về hành vi bạo lực gián tiếp. Sự tiếp xúc với bạo lực trên các phương tiện truyền thông ở lứa tuổi càng trẻ thì sẽ làm tăng xu hướng hành vi xâm khích gián tiếp ở phụ nữ (nói dối, coi thường người khác do tức giận). Tính xâm khích ở người xem cũng ảnh hưởng tới việc tiếp nhận hành vi bạo lực từ các phương tiện truyền thông. Trẻ em có tính xâm khích cao thường thể hiện khả năng tìm kiếm các phương tiện truyền thông bạo lực nhanh và tích cực học tập theo hoặc dễ bị kích thích bởi bạo lực truyền thông. Trí thông minh của người xem hầu như không liên quan đến các hiệu ứng bạo lực truyền thông. Tuy nhiên, trẻ em có khuynh hướng tri giác ổn định thường xác định nhanh hơn các tác nhân bạo lực và cho rằng bạo lực truyền thông là một thực tế cuộc sống thể hiện khuynh hướng tích cực của họ.&lt;br /&gt;
                                                                                           &lt;br /&gt;
==Tài liệu tham khảo==&lt;br /&gt;
# Vũ Dũng (Chủ biên), ''Từ điển Tâm lý học'', Nxb. Từ điển bách khoa, 2008, tr. 158 - 159.&lt;br /&gt;
# Bandura, A., ''Social cognitive theory of masscommunication'', In J. Bryant &amp;amp; D. Zillmann (Eds.), ''Mediaeffects: Advances in theory and research'', 1994, pp. 61 - 90.&lt;br /&gt;
# Kazdin A.E. (Editor in chief), ''Encyclopedia of Psychology: 8 volume set'', APA Publishing, Oxford University Press, Vol. 7, 2000, pp. 87 - 91.&lt;br /&gt;
# Anderson, C. A., &amp;amp; Bushman, B. J.,'' Effects of violentvideo games on aggressive behavior, aggressive cognition, aggressive affect, physiological arousal, and prosocialbehavior: A meta-analytic review of the scientificliterature, Psychological Science'', 12, 2001, pp. 353 - 359.&lt;br /&gt;
# Strickland B. (Executive editor), ''The Gale Encyclopedia of Psychology'', Gale Group, 2001, pp. 199.&lt;br /&gt;
# Freedheim D.K., ''Handbook of Psychology'', Vol. 1, History of Psychology, John Wiley &amp;amp; Sons, 2003, pp. 124 - 125. &lt;br /&gt;
# Anderson, C. A., Berkowitz, L., Donnerstein, E., Huesmann,L. R., Johnson, J. D., Linz, D., et al., ''Theinfluence of media violence on youth, Psychological Science in the Public Interest'', 4 (3), 2003, pp. 81 - 110.&lt;/div&gt;</summary>
		<author><name>Diemquynh834</name></author>
	</entry>
	<entry>
		<id>https://bktt.vn/index.php?title=Tr%C6%B0%E1%BB%9Dng_%C4%91%C3%A0o_t%E1%BA%A1o_t%C3%A2m_l%C3%BD_chuy%C3%AAn_nghi%E1%BB%87p_(T%C3%AAn_c%C5%A9:_C%C3%A1c_tr%C6%B0%E1%BB%9Dng_%C4%91%C3%A0o_t%E1%BA%A1o_t%C3%A2m_l%C3%BD_chuy%C3%AAn_nghi%E1%BB%87p)&amp;diff=22355</id>
		<title>Trường đào tạo tâm lý chuyên nghiệp (Tên cũ: Các trường đào tạo tâm lý chuyên nghiệp)</title>
		<link rel="alternate" type="text/html" href="https://bktt.vn/index.php?title=Tr%C6%B0%E1%BB%9Dng_%C4%91%C3%A0o_t%E1%BA%A1o_t%C3%A2m_l%C3%BD_chuy%C3%AAn_nghi%E1%BB%87p_(T%C3%AAn_c%C5%A9:_C%C3%A1c_tr%C6%B0%E1%BB%9Dng_%C4%91%C3%A0o_t%E1%BA%A1o_t%C3%A2m_l%C3%BD_chuy%C3%AAn_nghi%E1%BB%87p)&amp;diff=22355"/>
		<updated>2023-01-10T08:26:55Z</updated>

		<summary type="html">&lt;p&gt;Diemquynh834: Tạo trang mới với nội dung “{{sơ}}'''Trường đào tạo tâm lý chuyên nghiệp (Tên cũ: Các trường đào tạo tâm lý chuyên nghiệp)''' là hệ thống nhà trư…”&lt;/p&gt;
&lt;hr /&gt;
&lt;div&gt;{{sơ}}'''Trường đào tạo tâm lý chuyên nghiệp (Tên cũ: Các trường đào tạo tâm lý chuyên nghiệp)''' là hệ thống nhà trường đào tạo các nhà tâm lý chuyên nghiệp của Mỹ. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Mô hình đầu tiên của loại trường này được xây dựng trên cơ sở trường Tâm lý học Tổ chức và Lâm sàng California. Cơ sở đầu tiên đào tạo ra các nhà tâm lý học thực hành ở Mỹ là Trường Tâm lý học sau đại học của Chủng viện Thần học Fuller, mở cửa vào năm 1965. Tuy nhiên, việc sử dụng rộng rãi khái niệm trường tâm lý học chuyên nghiệp chỉ bắt đầu sau năm 1969, khi trường đào tạo tâm lý chuyên nghiệp California được thành lập. Năm 1970, hai chi nhánh của trường đào tạo tâm lý chuyên nghiệp California, ở San Francisco và Los Angeles đã tiếp nhận những sinh viên đầu tiên vào đào tạo. Trong hai năm tiếp theo, các cơ sở tương tự cũng được mở ở San Diego và Fresno. Chương trình đào tạo các nhà tâm lý học chuyên nghiệp chính thức đầu tiên ở các trường này đã được Ủy ban Kiểm định Tâm lý Hoa Kỳ phê duyệt.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Năm 1973, một hội nghị về đào tạo các nhà tâm lý học chuyên nghiệp được tổ chức tại Vail, Colorado. Hội nghị khẳng định tâm lý học hiện tại đã phát triển đủ để có những chương trình đào tạo các nhà tâm lý học chuyên nghiệp, đồng hành cùng các chương trình đào tạo tâm lý học mang tính hàn lâm ở các khoa tâm lý học của trường đại học tổng hợp. Các trường đào tạo tâm lý học chuyên nghiệp được xem là nơi thích hợp để cho ra sản phẩm là các chuyên gia tâm lý học thực tiễn. Những học viên ở đây có thể làm nghiên cứu sinh và nhận bằng tiến sĩ tâm lý học. Trong những năm sau đó, nhiều trường đào tạo tâm lý học chuyên nghiệp đã được thành lập ở khắp nướcMỹ, cả ở hình thức nằm trong trường đại học tổng hợp và hình thức trường độc lập. Đến đầu những năm 1990 ở Mỹ đã có 35 trường đào tạo tâm lý chuyên nghiệp, trong đó một nửa nằm trong các trường đại học tổng hợp, phần còn lại là các trường độc lập. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Trường đào tạo tâm lý chuyên nghiệp có các đặc điểm sau: &lt;br /&gt;
# Nhiệm vụ chính của trường là đào tạo chuyên sâu về tâm lý học thực tiễn&lt;br /&gt;
# Cơ cấu tổ chức của trường giống một trường trung học hay cao đẳng hơn là một khoa tâm lý học ở đại học tổng hợp&lt;br /&gt;
# Chương trình dạy học của các trường tâm lý chuyên nghiệp chủ yếu nhằm vào việc đào tạo nghề nghiệp. Vì vậy, khi học khóa nghiên cứu sinh hay thực tập sinh, chương trình chú trọng vào thực hành, học viên làm việc dưới sự hướng dẫn của các nhà chuyên môn. Hầu hết các chương trình của trường tâm lý chuyên nghiệp đều phục vụ cho việc bảo vệ luận án, luận văn, nhưng việc viết luận án hay luận văn không phải lả mục đích cuối cùng, mà cũng chỉ là một hình thức thực hành&lt;br /&gt;
# Đội ngũ giảng viên bao gồm một số lượng lớn các nhà tâm lý học thực tiễn, đội ngũ các nhà khoa học khác của trường, nhưng họ đều tham gia vào hoạt động thực tiễn tâm lý học&lt;br /&gt;
# Các nghiên cứu sau đại học ở đây thường được cấp bằng Tiến sĩ Tâm lý học. Việc cấp bằng cho khóa đào tạo các nhà tâm lý học lâm sàng được bắt đầu từ năm 1957 tại Đại học Adelphi (Mỹ). &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Trong quá trình phát triển của mình, những trường độc lập có các thay đổi quan trọng. Lần đầu tiên, tất cả hoặc gần như toàn bộ giảng viên được tuyển dụng bán thời gian. Các trường được mở những trung tâm tâm lý học giống như phòng mạch của trường đại học Y. Các trung tâm này vừa là nơi quản lý các hoạt động dịch vụ công của giáo viên và sinh viên, đồng thời là nơi dạy học, tiến hành các nghiên cứu khoa học. Năm 1976, tại Mỹ, Hội đồng Trường đào tạo tâm lý chuyên nghiệp được thành lập nhằm tạo ra các cơ hội trao đổi thông tin giữa các trường, xây dựng các tiêu chuẩn giáo dục, đào tạo các nhà tâm lý học chuyên nghiệp và cải tiến quá trình đào tạo theo mọi cách có thể, để sinh viên tốt nghiệp có thể đáp ứng tốt hơn nhu cầu của xã hội. &lt;br /&gt;
                                                                                     &lt;br /&gt;
==Tài liệu tham khảo==&lt;br /&gt;
# Vũ Dũng (Chủ biên), ''Từ điển Tâm lý học'', Nxb. Từ điển bách khoa, Hà Nội, 2008. &lt;br /&gt;
# Seymor D. T., ''Developing academic programmes''//Ashe-Eric higher education, - № 3, 1988, pp. 130.&lt;br /&gt;
# Kazdin A.E. (Editor in chief), ''Encyclopedia of Psychology: 8 volume set'', APA Publishing, Oxford University Press, Vol. 7, 2000, pp. 87 - 91.&lt;br /&gt;
# Strickland B. (Executive editor), ''The Gale Encyclopedia of Psychology'', Gale Group, 2001, pp. 199.&lt;br /&gt;
# Freedheim D.K., ''Handbook of Psychology'', Vol. 1, History of Psychology, John Wiley &amp;amp; Sons, 2003, pp. 124 - 125. &lt;br /&gt;
# W. Edward Craighead and Charles B. Nemeroff (Editors), ''The Concise Corsini Encyclopedia of Psychology and Behavioral Science'', Published by John Wiley &amp;amp; Sons, Inc, Hoboken, New Jersey, Third edition, 2004, pp. 156 - 157.&lt;/div&gt;</summary>
		<author><name>Diemquynh834</name></author>
	</entry>
	<entry>
		<id>https://bktt.vn/index.php?title=Tuy%E1%BA%BFn_n%E1%BB%99i_ti%E1%BA%BFt&amp;diff=22352</id>
		<title>Tuyến nội tiết</title>
		<link rel="alternate" type="text/html" href="https://bktt.vn/index.php?title=Tuy%E1%BA%BFn_n%E1%BB%99i_ti%E1%BA%BFt&amp;diff=22352"/>
		<updated>2023-01-10T08:20:33Z</updated>

		<summary type="html">&lt;p&gt;Diemquynh834: Tạo trang mới với nội dung “{{sơ}}'''Tuyến nội tiết (Tên cũ: Các tuyến nội tiết)''' là các tuyến không có ống mà tiết thẳng vào trong máu các chất h…”&lt;/p&gt;
&lt;hr /&gt;
&lt;div&gt;{{sơ}}'''Tuyến nội tiết (Tên cũ: Các tuyến nội tiết)''' là các tuyến không có ống mà tiết thẳng vào trong máu các chất hóa học được gọi là hormone có tác dụng điều hòa môi trường bên trong không chỉ đối với tế bào, các cơ quan, mà còn đối với toàn cơ thể.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Tuyến nội tiết bao gồm: tuyến tùng, tuyến yên, tuyến giáp, tuyến cận giáp, tuyến ức, tuyến thượng thận, tuyến tụy, tuyến sinh dục (buồng trứng, tinh hoàn) tạo thành hệ nội tiết. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Vùng hạ đồi==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Vùng hạ đồi, là tuyến nội tiết ở trong não có tác dụng là một trung tâm điều khiển hệ nội tiết thông qua tuyến yên, một tuyến nhỏ bằng hạt đậu ở ngay dưới nó điều khiển hoạt động của tất cả các tuyến còn lại. Vùng hạ đồi có tác dụng tiết ra các hormones: GNRH, TRH, CRH, somatostatin và vasopressin (dự trữ ở thùy sau tuyến yên). Tuyến yên có tác dụng tiết ra các hormones: GH, TSH, LH, ACTH, MSH, vasopressin, oxytocin và prolactin. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Tuyến giáp==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Tuyến giáp, một tuyến ở vùng cổ, có tác dụng tiết ra các hormone T3-T4. Các hormones này làm tăng quá trình chuyển hóa, giúp tuyến giáp điều hòa chuyển hóa cơ thể. Tuyến cận giáp, có tác dụng tiết ra hormone PTH điều hòa lượng calci và phosphat trong máu, thông qua việc làm tăng Ca2+ huyết thanh qua các tác động tại xương, gan và thận. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Tuyến thượng thần==&lt;br /&gt;
Tuyến thượng thận, ở cực trên của thận, được chia thành vỏ và tủy thượng thận. Tuyến vỏ thượng thận sản xuất ra các hormone androgens, mineralcoritcoids và glucocorticoids có tác dụng về mặt nội tiết - sinh dục, chuyển hóa muối nước và chuyển hóa các đường, protein - acid amin và chất béo trong cơ thể, đặc biệt trong đáp ứng với stress. Tuyến tủy thượng thận sản xuất ra các catecholamines bao gồm: adrenaline, noradrenaline là chất tác động chính lên hệ thần kinh giao cảm.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Tuyến tụy==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Tuyến tụy nội tiết có tác dụng tiết ra các hormones như: insulin, glucagon có tác dụng điều hòa đường máu và chuyển hóa; gastrin điều hòa tiết acid dạ dày.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Tuyến sinh dục==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Tuyến sinh dục bao gồm tinh hoàn với nam và buồng trứng với nữ, có tác dụng điều hòa phát triển sinh dục, rụng trứng và phát triển cơ quan sinh dục, thông qua các hormones testosteron đối với nam; estrogen, progresteron đối với nữ.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Tài liệu tham khảo==&lt;br /&gt;
# ''The Endocrine System: Miraculous Messengers'', New York: Torstar Books, 1985.&lt;br /&gt;
# Janz DM. Chapter 13 - Endocrine System. In: Ostrander GK (ed.), ''The Laboratory Fish'', Handbook of Experimental Animals, London: Academic Press, DOI: 10.1016/B978-012529 650-2/50016-0, 2000, pp. 189 - 217.&lt;br /&gt;
# Hendry C., Farley A., McLafferty E., et al., ''Endocrine system: part 2'', Nursing Standard (Royal College of Nursing (Great Britain): 1987), 28 (39), DOI: 10.7748/ns.28.39.43.e7778, 2014, pp. 43 - 48.&lt;br /&gt;
# Johnstone C., Hendry C., Farley A., et al., ''Endocrine system: part 1'', Nursing Standard (Royal College of Nursing (Great Britain): 1987), 28 (38), DOI: 10.7748/ns.28. 38.42.e7471, 2014, pp. 42 - 49.&lt;/div&gt;</summary>
		<author><name>Diemquynh834</name></author>
	</entry>
	<entry>
		<id>https://bktt.vn/index.php?title=T%E1%BB%B1_%C4%91%E1%BB%99ng_%C4%91%E1%BB%8Bnh_h%C3%ACnh&amp;diff=22349</id>
		<title>Tự động định hình</title>
		<link rel="alternate" type="text/html" href="https://bktt.vn/index.php?title=T%E1%BB%B1_%C4%91%E1%BB%99ng_%C4%91%E1%BB%8Bnh_h%C3%ACnh&amp;diff=22349"/>
		<updated>2023-01-10T08:11:27Z</updated>

		<summary type="html">&lt;p&gt;Diemquynh834: Tạo trang mới với nội dung “{{sơ}}'''Tự động định hình (Tên cũ: Định hình tự động)''' là quá trình mà qua đó các mối quan hệ kích thích - phản x…”&lt;/p&gt;
&lt;hr /&gt;
&lt;div&gt;{{sơ}}'''Tự động định hình (Tên cũ: Định hình tự động)''' là quá trình mà qua đó các mối quan hệ kích thích - phản xạ đã được kích thích tương tác từ góc độ sinh học và đôi khi lấn át các mối quan hệ phản xạ - củng cố, có thể không tương thích với nó và đã được sinh vật học trước đó. Quá trình này cũng thường được nhắc đến như là ''hành vi sai lệch của sinh vật''. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Tên gọi tự động định hình bắt nguồn từ việc định hình nhanh (định hình tự động) xảy ra mà không cần đến sự củng cố một cách liên tục và rõ ràng bằng các tác động tương tự nhau. Thông thường, hành vi quan sát được phụ thuộc vào vật thể hoặc mục tiêu mà đối tượng nhận được. Ví dụ, thức ăn dường như dẫn đến hành vi ăn và nước dẫn đến hành vi uống. Mặc dù ban đầu được cho là chỉ biểu hiện ở các loài động vật có vú đơn giản hơn, tự động định hình cũng có thể xảy ra ở con người. Tuy vẫn còn thiếu sự thống nhất về căn nguyên và điều này không phải là do sự bất thường của dữ liệu, tự động định hình vẫn là một hiện tượng có giá trị và đáng tin cậy. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
=='''Các giả thuyết về tự động định hình'''==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Tự động định hình nằm ở khoảng trống giữa tự nhiên và nuôi dưỡng. Người ta cho rằng tự động định hình thể hiện sự tương tác giữa sinh vật và môi trường, giữa phát sinh loài và phát triển cá thể, giữa các quá trình phản xạ và huấn luyện. Mỗi yếu tố này đại diện cho một cấp độ phân tích khác nhau đối với tự động định hình.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Mặc dù các nghiên cứu chính thức về tự động định hình phần lớn được bắt đầu vào cuối những năm 1960, sự tồn tại của hiện tượng này có thể thấy được trong thuyết tiến hóa của Darwin (1859). Darwin coi chọn lọc tự nhiên là cơ chế theo đó sự phát sinh hình thái và hành vi cụ thể của loài cần thể hiện sự thích nghi với môi trường (về mặt chức năng) đối với sự tồn tại và sinh sản. Nói một cách dễ hiểu, nếu cấu trúc hoặc hành vi mới không làm suy giảm khả năng tương đối của động vật trong việc cạnh tranh để giành lấy các nguồn tài nguyên cơ bản, thì nó sẽ tiếp tục tồn tại. Dưới tác động bởi công trình của Darwin, William James (1890) cũng ngụ ý tương tự về sự tồn tại của tự động định hình trong các bàn luận về bản năng. Theo James, bản năng được định nghĩa là “khả năng hành động theo cách để mang lại một số kết quả nhất định mà không đoán định được trước các kết quả và không có sự giáo dục trước đó về việc thực hiện” (trang 383). Tuy nhiên, bản năng không được coi là mối quan hệ kích thích - phản xạ bất biến mà được coi là “mù” đối với hậu quả của hành động vào lần đầu tiên xuất hiện hành vi, sau đó có thể được “ngụy trang” hoặc “sửa đổi”. Do đó, mô hình hành động cố định, một thuật ngữ thay thế cho bản năng được các tập tính học sử dụng, có thể ít bất biến hoặc hơn thế tùy thuộc vào tác động của hành vi cũng như loài được xem xét. James hàm ý đến sự tồn tại của một quá trình mà qua đó hành vi bẩm sinh có thể tương tác và bị sửa đổi bởi các tác nhân kích thích từ môi trường. Lorenz (1957), một nhà tập tính học thời kỳ đầu, đã đưa ra quan điểm rộng rãi hơn cho rằng do hệ thần kinh của động vật bậc thấp đơn giản hơn, những hạn chế về nhận thức và phản ứng kích thích có nhiều khả năng xảy ra hơn ở người và những phản ứng đó sẽ được tích hợp theo sự sống còn của động vật. Quan điểm này về bản năng đã đề xuất nên một cơ chế mà qua đó động vật cảm nhận được kích thích ''gây ra'' một phản ứng của loài (ví dụ: mổ) được thiết kế để mang lại một kết quả cụ thể (ví dụ: thức ăn). Mô hình này cũng tuân theo giả định rằng các phản ứng bản năng không phải do đối tượng học được, nhưng có thể sửa đổi được, mặc dù việc sửa đổi sẽ chỉ được tìm thấy ở thế hệ tiếp theo. Lorenz giả định rằng một mô hình hành động cố định được giải phóng bởi một kích thích cụ thể nên được coi là một bản năng; còn tất cả các hành vi hỗ trợ, định hướng hoặc học được để duy trì hoặc sửa đổi bản năng được coi là phản ứng điều chỉnh để phù hợp. Tuy nhiên, trên thực tế, ranh giới giữa hành vi bản năng và hành vi điều chỉnh để phù hợp vẫn còn mờ nhạt, có lẽ là do căn nguyên của bản năng hay các mô hình hành động cố định được định trước về mặt phát sinh loài hiện vẫn chưa được hiểu rõ. Các mô hình phát triển cá thể để tiếp nhận hành vi trong suốt vòng đời của động vật được hiểu rõ hơn. Hai hình thức cụ thể về học tập, điều kiện hóa cổ điển và điều kiện hóa từ kết quả, có vẻ có liên quan đến tự động định hình. Trong ví dụ đã đề cập phía trên về hành vi mổ, chìa khóa được tự động định hình ở chim bồ câu, ban đầu, người ta cho rằng các khía cạnh bẩm sinh của con chim đã cung cấp cho nó hoặc khiến nó có khuynh hướng định hình nhanh chóng thông qua củng cố hành động mổ. Tuy nhiên, việc đưa ra các thuật ngữ như ''khía cạnh bẩm sinh'' hoặc ''khuynh hướng'' làm suy yếu giải thích khoa học, vì những thuật ngữ đó không được định nghĩa về mặt quy trình, không giúp nâng cao hiểu biết về dữ liệu và thường mang tính lặp lại (dựa trên suy luận lặp vòng).&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Brown và Jenkins (1968) là những người đầu tiên báo cáo rằng việc thức ăn được cung cấp trong một thời gian ngắn ngay sau khi chìa khóa sáng lên dẫn đến hành vi mổ khóa ở chim bồ câu. Sau đó, Williams và Williams (1969) đã tiến hành ví dụ đầu tiên về việc huấn luyện bỏ qua ở chim bồ câu, trong đó thức ăn được cung cấp dựa vào hành vi không mổ. Theo mô hình đào tạo thiếu sót, hành vi được hình thành từ điều kiện kết quả trước đó sẽ chấm dứt hoặc giảm đi đáng kể. Tuy nhiên, chim bồ câu tiếp tục mổ khóa trong nhiều lần thử nghiệm dù thức ăn không được cung cấp. Nghiên cứu này nhấn mạnh sự bất hợp lý khi cho rằng định hình tự động được duy trì bằng cách tăng cường ngẫu nhiên sử dụng đồ ăn, dù gián đoạn hay may mắn. Điều này đã thúc đẩy các nhà nghiên cứu tìm hiểu về khả năng rằng hành vi mổ chìa khóa đã được tạo nên trong điều kiện hóa cổ điển. Cơ sở lý luận cho việc coi điều kiện hóa cổ điển là cơ chế hoạt động để đối tượng tự động định hình bắt nguồn từ thực tế là bên trong mỗi điều kiện kết quả có thể đều có điều kiện cổ điển tồn tại đồng thời. Do các đặc tính kích thích của hậu quả, đặc biệt là hậu quả sơ cấp, các kích thích trung tính xảy ra trước và dự báo việc thức ăn sẽ được cung cấp một cách đáng tin cậy có thể trở thành điều kiện. Nói cách khác, các yếu tố củng cố và trừng phạt có thể đóng vai trò là các cặp kích thích không điều kiện - phản xạ không điều kiện (US-UR), vô tình tạo ra các kích thích có điều kiện (CS) và các phản xạ có điều kiện (CR). Trong ví dụ với chim bồ câu, viên thức ăn được phân phối một cách ngẫu nhiên khi con chim mổ vào chìa khóa khi nó sáng lên. Viên thức ăn này, vừa là vật củng cố tiềm năng vừa là cặp kích thích không điều kiện - phản xạ không điều kiện US-UR, có thể khiến cho ánh sáng của khóa trở thành kích thích có điều kiện (CS) tạo ra phản xạ mổ khóa có điều kiện (CR) gần giống với phản xạ ăn không điều kiện (UR). Mô hình này cũng hợp lý với các dữ liệu thu được, do các hành vi được tự động định hình gần giống với phản ứng bình thường của chủng loài được tạo ra bởi kích thích mục tiêu. Trong một thử nghiệm sâu hơn về mô hình này, việc cung cấp thức ăn duy trì hành vi mổ khóa với điều kiện khóa sáng lên trước và thức ăn được cung cấp tiếp theo sau đó dù sự liên kết chỉ là tạm thời, nghĩa là, kích thích có điều kiện (CS) tiếp tục gợi ý phản xạ có điều kiện CR khi nó dự đoán một cách đáng tin cậy việc cung cấp US-UR. Sau đó, Jenkins (1977) đã thay đổi khả năng dự đoán của CS để đèn không còn sáng trước khi thức ăn được cung cấp nữa. Các đường cong về việc dập tắt điều kiện hóa cổ điển, cũng như các đường cong suy giảm tự phát khi sự liên tiếp giữa 2 hiện tượng được tái lập cũng được ghi nhận. Jenkins cũng lưu ý rằng việc duy trì phản xạ mổ xảy ra tốt nhất khi có cả tính liên tiếp và tính ngẫu nhiên (điều kiện hóa cổ điển và điều kiện hóa từ kết quả có thể là các quá trình liên quan).&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Tự động định hình dường như chủ yếu là một chức năng của điều kiện hóa cổ điển, trong đó mối quan hệ nền tảng US-UR là một điều kiện cần. Tuy nhiên, các hệ quả của quá trình trước đó cũng có thể đóng vai trò là cặp US-UR, cho phép điều kiện hóa cổ điển xảy ra. Tự động định hình mỗi lần chỉ biểu hiện khi huấn luyện theo mô hình dựa trên kết quả có vẻ như ghi đè lên các mẫu hành động US-UR, hoặc theo thuật ngữ của James và Lorenz, cố gắng sửa đổi các mẫu hành động cố định bản năng để đạt được mục tiêu. Do đó, các hành vi biểu hiện trong quá trình tự động định hình tiếp tục là thách thức đối với việc phân loại đơn giản và giải thích căn nguyên một cách chính xác.&lt;br /&gt;
                                                                                                            &lt;br /&gt;
==Tài liệu tham khảo==&lt;br /&gt;
# Davis, H., &amp;amp; Hurwitz, H. M. B., ''Operant-Pavlovian interactions''. New York: Wiley, 1977.&lt;br /&gt;
# Hergenhahn, B. R., &amp;amp; Olson, M. H., ''An introduction to theories of learning'' (5th ed.), Upper Saddle River, NJ: Prentice Hall, 1997.&lt;br /&gt;
# Honig, W. K., &amp;amp; Staddon, J. E. R., ''Handbook of operant behavior'', Englewood Cliffs, NJ: Prentice Hall, 1977.&lt;br /&gt;
# Jenkins, H., ''Sensitivity to different response systems to stimulus-reinforcer and response-reinforcer relations'', In H. Davis &amp;amp; H. M. B. Hurwitz (Eds.), ''Operant-Pavlovian interaction'', New York: Wiley, 1977, pp. 47 - 66. &lt;br /&gt;
# Siegel, R. K., ''Stimulus selection and tracking during urination: Autoshaping directed behavior with toilet targets'', Journal of Applied Behavior Analysis, 10 (2), 1978, pp. 255 - 265.&lt;br /&gt;
# Schwartz, B., ''Psychology of learning and behavior'' (3rd ed.), New York: W.W. Norton, 1989.&lt;br /&gt;
# Kazdin A.E. (Editor in chief), ''Encyclopedia of Psychology: 8 volume set'', APA Publishing, Oxford University Press, Vol. 7, 2000, pp. 87 - 91.&lt;br /&gt;
# Strickland B. (Executive editor), ''The Gale Encyclopedia of Psychology'', Gale Group, 2001, pp. 199.&lt;/div&gt;</summary>
		<author><name>Diemquynh834</name></author>
	</entry>
	<entry>
		<id>https://bktt.vn/index.php?title=U_s%E1%BA%A7u&amp;diff=22347</id>
		<title>U sầu</title>
		<link rel="alternate" type="text/html" href="https://bktt.vn/index.php?title=U_s%E1%BA%A7u&amp;diff=22347"/>
		<updated>2023-01-10T07:58:19Z</updated>

		<summary type="html">&lt;p&gt;Diemquynh834: Tạo trang mới với nội dung “{{sơ}}'''U sầu''' là một thuật ngữ thường dùng để chỉ trạng thái cảm xúc âm tính nặng nề: buồn bã, u ám, sầu thảm.…”&lt;/p&gt;
&lt;hr /&gt;
&lt;div&gt;{{sơ}}'''U sầu''' là một thuật ngữ thường dùng để chỉ trạng thái cảm xúc âm tính nặng nề: buồn bã, u ám, sầu thảm. Trong hoạt động thực hành, các nhà lâm sàng thường dùng thuật ngữ u sầu để chỉ trạng thái trầm cảm nặng nhằm phân biệt với những đau khổ, buồn rầu do mất mát, ví dụ như mất người thân.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Ngay từ đầu thế kỷ XX, Freud đã nhấn mạnh đến sự khác biệt giữa trạng thái u sầu bệnh lý và đau khổ theo lẽ thông thường. Trong tác phẩm “Tang tóc và u sầu” (Mourning and Melancholia) xuất bản năm 1917, Freud đã phân biệt giữa u sầu và tang tóc. Đều là buồn rầu, đau khổ nhưng tang tóc là đau khổ vì mất người thân (mất đối tượng) và sự đau khổ này nằm ở tầng bậc ý thức. Trong u sầu, chủ thể không ý thức được đối tượng bị mất mát bởi vì nó nằm ở tầng vô thức. Tang tóc là một quá trình tự nhiên còn u sầu là một trạng thái bệnh lý.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Trong lâm sàng trước đây, u sầu được dùng để chỉ mức độ nặng của trầm cảm. Hiện nay, trong các tiêu chuẩn chẩn đoán trầm cảm của DSM-5 và trước đó là DSM-IV, có nhấn mạnh (biệt định) những trường hợp trầm cảm có các triệu chứng u sầu (chứ không phải là tất cả các trường hợp trầm nặng).&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Một số đặc điểm chính của trầm cảm u sầu:&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
* Cá nhân hoàn toàn chìm đắm vào một trạng thái buồn ghê gớm, triền miên, không có được cảm giác vui vẻ dù trong chốc lát. Trạng thái này còn được gọi là “đau khổ về tinh thần”, đặc trưng bởi nỗi buồn sâu sắc, bi quan tuyệt vọng, cho rằng tương lai đã khép lại và không thể thay đổi được. Trạng thái buồn bã được thể hiện rõ trên nét mặt đơn điệu. Ngoài ra cá nhân còn phàn nàn rằng cảm xúc của mình đã tê liệt, trống rỗng, cảm giác đau đớn vì không thể yêu. Điều đáng lưu ý là không có một sự kiện đáng kể nào trong cuộc sống của cá nhân có thể được quy cho là nguyên nhân gây ra trạng thái u sầu này. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
* Cá nhân thờ ơ, không có đáp ứng với các hoạt động mang tính chất giải trí, vui vẻ. Mọi nỗ lực kéo người bệnh vào các hoạt động nhằm giúp cho họ “khuây khỏa” hầu như không có tác dụng. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
* Cá nhân trong tình trạng trầm cảm, u ám nặng hơn vào buổi sáng sau khi ngủ dậy. Những người xung quanh khó nhận biết được biểu hiện này. Họ không hiểu tại sao sau một đêm ngủ dậy, bệnh nhân lại lề mề, chậm chạp trong việc vệ sinh cá nhân, chẳng chịu nhúc nhắc làm việc gì. Tâm trạng u sầu có chút nhẹ đi vào buổi tối.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
* Cá nhân mất ngủ hoặc ngủ được rất ít. Họ thường hay tỉnh giấc vào nửa đêm và khó ngủ tiếp. Cũng có những trường hợp thức giấc vào lúc hai, ba giờ sáng và không thể nào ngủ lại được. Những khi thức giấc ban đêm, họ thấy đêm thực sự dài và trong những lúc như vậy họ cảm thấy bệnh của mình thực sự là nặng. Mất ngủ cũng thường là nguyên nhân gây ra tỉnh trạng ngồi lì trên giường, không đi vệ sinh cá nhân. Cá biệt có những người từ lúc tỉnh giấc đến lúc ra khỏi giường có thể kéo dài hàng tiếng đồng hồ.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
* Cá nhân ăn kém hoặc từ chối ăn. Người bệnh, nếu phải ăn thì ăn một cách uể oải. Họ phàn nàn không có cảm giác ngon miệng, ăn cơm như ăn rơm. Thậm chí có người thường xuyên bỏ bữa/từ chối ăn và hậu quả là sút cân.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
* Cùng với trạng thái nặng nề của cảm xúc là sự chậm chạp của vận động của chủ thể. Người có trạng thái u sầu rất ít vận động. Không phải vì họ không thích vận động mà đây là một trạng thái trì trệ. Một số nhà nghiên cứu lý giải rằng trì trệ trong vận động, một phần đáng kể là do sự trì trệ trong tư duy. Mãi mà ở trong đầu không có một ý nghĩ gì và do vậy cũng chẳng muốn làm một việc gì. Đang nằm chẳng muốn dậy, đang ngồi chẳng muốn đứng lên để làm một việc gì.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
* Cá nhân tự buộc tội bản thân. Nhận biết được hạn chế của mình nhưng không thể cố gắng để khắc phục những hạn chế đó. Và điều này dẫn đến những ý nghĩ tự buộc tội bản thân, cho rằng mình như thế là yếu đuối, rằng làm khổ người thân, mình là gánh nặng cho họ. Cũng chính trên nền của những ý nghĩ tự buộc tội, phán xét mà ở bệnh nhân u sầu có thể xuất hiện hoang tưởng. Trên nền đó có thể xuất hiện ý định hoặc hành vi tự sát.&lt;br /&gt;
            &lt;br /&gt;
==Tài liệu tham khảo==&lt;br /&gt;
# Strickland B. (Executive editor), ''The Gale Encyclopedia of Psychology'', Gale Group, 2001, pp. 415.&lt;br /&gt;
# Mijoolla A. (Editor in chief), ''International Dictionary of Psychoanalysis'', Thomson Gale, 2002, pp. 1.037 - 1.039.&lt;br /&gt;
# Kahn A.D., Fawcett J., ''The Encyclopedia of Mental Health'', 3rd Ed., Fact On File, Inc, 2009.&lt;br /&gt;
# Bhatia M.S., ''Dictionary of Psychology and Allied Sciences'', New Age International Publisher, 2009, pp. 258.&lt;br /&gt;
# Matsumoto D., (General editor), ''The Cambridge Dictionary of Psychology'', Cambridge University, 2009, pp. 302.&lt;br /&gt;
# VandenBos G.R. (Editor in chief), ''APA Dictionary of Clinical Psychology'', American Psychological Association, Washington DC, 2013, pp. 350.&lt;/div&gt;</summary>
		<author><name>Diemquynh834</name></author>
	</entry>
	<entry>
		<id>https://bktt.vn/index.php?title=V%E1%BA%ADn_chuy%E1%BB%83n_nhanh_qua_b%C3%A0o_t%C6%B0%C6%A1ng_s%E1%BB%A3i_tr%E1%BB%A5c&amp;diff=22344</id>
		<title>Vận chuyển nhanh qua bào tương sợi trục</title>
		<link rel="alternate" type="text/html" href="https://bktt.vn/index.php?title=V%E1%BA%ADn_chuy%E1%BB%83n_nhanh_qua_b%C3%A0o_t%C6%B0%C6%A1ng_s%E1%BB%A3i_tr%E1%BB%A5c&amp;diff=22344"/>
		<updated>2023-01-10T07:46:16Z</updated>

		<summary type="html">&lt;p&gt;Diemquynh834: Tạo trang mới với nội dung “{{sơ}}'''Tạo Vận chuyển nhanh qua bào tương sợi trục (Tên cũ: Vận chuyển nhanh qua sợi trục)''' là sự vận chuyển các túi…”&lt;/p&gt;
&lt;hr /&gt;
&lt;div&gt;{{sơ}}'''Tạo Vận chuyển nhanh qua bào tương sợi trục (Tên cũ: Vận chuyển nhanh qua sợi trục)''' là sự vận chuyển các túi chứa chất dẫn truyền thần kinh trong sợi trục và các sợi gai của tế bào thần kinh với tốc độ 200 - 400mm/ngày. Vận chuyển này là hai chiều theo các sợi nhánh và sợi trục. Tốc độ cao làm loại vận chuyển này tách biệt với vận chuyển của các protein hòa tan đi theo sợi trục với tốc độ 0.5-3mm/ngày (vận chuyển chậm qua sợi trục). &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Cấu tạo của một tế bảo thần kinh có thể được phân ra thành: thân neuron (perikaryon), các sợi nhánh ngắn và một sợi trục dài. Đường kính của một sợi trục là nhỏ so với đường kính của thân neuron và có thể dài hàng centimet. Do đó đầu tận của sợi trục thường ở xa thân. Protein màng của các túi axon được tổng hợp ở trong thân tế bảo ở lưới nội bào hạt và các thể Golgi. Do đó, vận chuyển các túi này vào sợi trục là cần thiết để đảm bảo chức năng và duy trì sự sống, sự tái tạo của đầu tận cùng sợi trục. Vận chuyển nhanh cũng là cơ chế để các thành phần màng trở lại thân tế bào để thoái hóa. Đường kính của các túi được vận chuyển trong sợi trục có kích cỡ từ rất nhỏ (50nm ví dụ như túi synapse) tới rất lớn (1000nm như các thể túi đa nang).&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Vận chuyển của túi bắt nguồn từ thân tế bào tới đầu tận của sợi trục được gọi là vận chuyển xuôi dòng. Vận chuyển của túi bắt nguồn từ đầu tận của sợi trục tới thân tế bào là vận chuyển ngược dòng. Các túi vận chuyển được ví như một tàu hàng chuyển bằng động cơ phân tử di chuyển dọc theo các sợi khung tế bào. Có ba loại sợi khung tế bào trong neurons được gọi là sợi thần kinh (đường kính 10nnm), vi tiểu quản - sợi ống nhỏ (25nm) và các sợi actin (6nm). Chỉ hai loại sau được phát hiện là có chức năng như đường vận chuyển phân tử. Phân tử cần sử dụng năng lượng hóa học từ ATP (adenosine triphosphat) để vận chuyển các túi, do đó các protein này được gọi là các ATPase. Động cơ phân tử là tuýp sợi đặc hiệu. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Kinesin và dynein tương bào chất là những động cơ phân tử vận chuyển các túi dọc theo vi tiểu quản (Hirokawa, 1998) và sợi myosin là các động cơ vận chuyển các túi trên các sợi actin. Các sợi vi tiểu quản thường là các sợi dài (&amp;gt; 25mm) và có cực tính nội tại do sự sắp xếp tương tự của các tiểu đơn vị tubulin trong sợi. Để phân biệt hai đầu của vi tiểu quản người ta gọi một đầu là đầu dương (phát triển nhanh) và đầu âm (phát triển chậm). Tất cả các microtubules ở trong sợi trục đều được sắp xếp song song với trục dài của sợi trục với đầu dương ở xa thân neuron. Động cơ phân tử kinesin mang hướng đầu dương, vận chuyển túi tới đầu dương của microtubule và ra xa thân tế bào (vận chuyển xuôi dòng). Dynein tế bào chất là một hướng đầu âm của microtubule, chịu trách nhiệm vận chuyển từ đầu tận sợi trục tới thân neuron (vận chuyển ngược dòng). Tuýp đặc hiệu của động cơ gắn vào túi quyết định hướng vận chuyển của túi trong sợi trục. Kinesin đã được cho thấy liên quan tới các túi synapse, túi tiền thân synapse, ti thể, các thể túi đa nang, túi chất tiền thân của màng trước synapse. Dynein tế bào chất được cho thấy liên quan tới vận chuyển ngược chiều trong sợi trục bao gồm các thể nội bào và thể tiêu bào sớm và muộn.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Các sợi actin ở sợi trục thường ngắn (1 mm) so với sợi vi tiểu quản và cũng có cực tính nội do tính định hướng cùng chiếu của các tiểu đơn vị actin cấu thành sợi. Thuật ngữ đầu âm và đầu dương cũng được sử dụng để mô tả hai đầu sợi actin. Đầu dương còn được gọi là đầu có ngạnh và đầu âm còn được gọi là đầu nhọn giống như hai đầu mũi tên. Các sợi actin tạo ra một hệ thống kết nối chéo gần màng tế bào (vỏ tế bào). Đầu dương của một số sợi actin được gắn vào màng sinh chất. Động cơ phân tử vận chuyển trên các sợi actin là một phần của họ lớn các myosin. Hầu hết các myosin là các động cơ mang hướng đầu dương do đó các túi di chuyển tới đầu dương của sợi actin. Các túi di chuyển dài trên sợi trục qua microtubule rồi sau đó chuyển qua sợi actin di chuyển ngắn tới vỏ tế bào. Do đó, vận chuyển ngắn có vai trò là khu trú các túi vào các vùng trên màng để hòa với màng sinh chất. Ví dụ về túi di chuyển trên sợi actin là túi synap ở đầu tận của sợi trục trước synapse và túi lưới nội bào nhãn trong các gai của sợi nhánh và dọc theo màng sợi trục. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Lớp mysoin cho thấy khả năng vận chuyển túi lưới nội sinh chất trong sợi trục khổng lồ ở loài mực, túi synap ở đầu tận sợi trục và lưới nội sinh chất ở gai của các sợi nhánh tế bào thần kinh Purkinje là lớp myosin-V. Các nghiên cứu gần đây cho thấy myosin-V tương tác với kinesin - một động cơ dựa trên vi tiểu quản. Chức năng của tương tác kinesin và myosin-V vẫn chưa được tìm thấy. Tuy nhiên, một giả thiết có thể là tương tác này tạo ra thông tin phản hồi và giúp phối hợp hoạt động của động cơ trong lúc vận chuyển các túi từ vi tiểu quản tới các sợi actin. Thông tin phản hồi này có thể giải thích cho sự vận chuyển liền mạch của các túi từ vi tiểu quản tới sợi actin quan sát được ở mực. Qua đó, tương tác trực tiếp giữa các động cơ từ cả hai hệ thống sợi có thể đại diện cho cơ chế theo đó sự vận chuyển các túi vi tiểu quản tới các sợi actin được điều hòa trong vận chuyển nhanh qua sợi trục/sợi nhánh.&lt;br /&gt;
                                                                                     &lt;br /&gt;
==Tài liệu tham khảo==&lt;br /&gt;
# Dekker-Ohno, K., Hayasaka, S., Takagishi, Y., Oda, S., Wakasugi, N., Mikoshiba, K., et al., ''Endoplasmic reticulum is missing in dendritic spines of Purkinje cells of the ataxic mutant rat'', Brain Research, 714, 1996, pp. 226 - 230. &lt;br /&gt;
#  Fath, K. R., &amp;amp; Lasek, R. J., ''Two classes of actin microﬁlaments are associated with the inner cytoskeleton of axons'', Journal of Cell Biology, 107, 1998, pp. 613 - 621. '&lt;br /&gt;
# Hirokawa, N., ''Kinesin and dynein superfamily proteins and the mechanism of organelle transport'', Science, 279, 1998, pp. 519 - 526. &lt;br /&gt;
# Langford, G. M., &amp;amp; Molyneaux, B., ''Myosin V in the brain: Mutations lead to neurological defects'', Brain Research Review, 28, 1998, pp.1 - 8. &lt;br /&gt;
# Mermall, V., Post, P. L., &amp;amp; Mooseker, M. S., ''Unconventional myosins in cell movement, membrane trafﬁc, and signal transduction'', Science, 279, 1998, pp. 527 - 533. &lt;br /&gt;
# DePina, A. S., &amp;amp; Langford, G. M., ''Vesicle transport: The role of actin ﬁlaments and myosin motors'', Microscopy Research Technique, 47, 1999, pp. 1 - 14.&lt;/div&gt;</summary>
		<author><name>Diemquynh834</name></author>
	</entry>
	<entry>
		<id>https://bktt.vn/index.php?title=Carl_Wernicke_(1848_-_1905)&amp;diff=22340</id>
		<title>Carl Wernicke (1848 - 1905)</title>
		<link rel="alternate" type="text/html" href="https://bktt.vn/index.php?title=Carl_Wernicke_(1848_-_1905)&amp;diff=22340"/>
		<updated>2023-01-10T07:27:25Z</updated>

		<summary type="html">&lt;p&gt;Diemquynh834: Tạo trang mới với nội dung “C._Wernicke  {{sơ}}'''Carl Wernicke''' (1848 - 1905) là nhà thần kinh học, nhà bệnh học và bác sĩ tâm thần ngư…”&lt;/p&gt;
&lt;hr /&gt;
&lt;div&gt;[[File:C. Wernicke.jpg|C._Wernicke]]&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
{{sơ}}'''Carl Wernicke''' (1848 - 1905) là nhà thần kinh học, nhà bệnh học và bác sĩ tâm thần người Đức - người đã có những khám phá cơ bản về chức năng não. Carl Wernicke là một thành viên có ảnh hưởng của trường phái thần kinh Đức thế kỷ XIX. Ông xem tất cả các bệnh tâm thần là kết quả của khiếm khuyết trong sinh lý não. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Là một bác sĩ thần kinh lâm sàng thực hành, Carl Wernicke đã có những khám phá lớn trong giải phẫu não và bệnh lý. Ông tin rằng sự bất thường có thể được biểu hiện ở các khu vực cụ thể của vỏ não và do đó có thể được sử dụng để xác định chức năng của các khu vực này.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Wernicke là một trong những người đầu tiên quan niệm chức năng não phụ thuộc vào các dây thần kinh kết nối các vùng khác nhau của não. Mỗi vùng đóng góp một giác quan tương đối đơn giản - động cơ hoạt động. Vào thời điểm đó, hầu hết các nhà khoa học quan niệm của não hoạt động như một cơ quan duy nhất. Nghiên cứu của Wernicke đã giúp cho việc làm sáng tỏ bán cầu não trái.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
=='''Sinh ra và bắt đầu sự nghiệp'''==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Carl Wernicke sinh năm 1848 tại thị trấn Tarnowitz ở Upper Silesia thuộc Đức, ngày nay là Tarnowskie Gory thuộc Ba Lan. Ông đạt được bằng y khoa của Trường Đại học Breslau vào năm 1870. Năm 1871, Wernicke vào làm việc tại Bệnh viện Allerheiligen, thành phố Breslau. Ông làm việc trong Khoa Tâm thần với tư cách là trợ lý của Heinrich Neumann - Giáo sư tâm thần học nổi tiếng của Đại học Breslau. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Carl Wernicke bị hấp dẫn và thuyết phục những phát hiện hấp dẫn của khoa học thần kinh khi đó. Ví dụ, sự liên kết của ngôn ngữ bị rối loạn với con quay thứ ba của Paul Broca vào năm 1865 và việc phát hiện ra tính dễ bị kích thích của vỏ não của Hitzig và Fritsch vào năm 1870 (Lanczik M., Keil G., 1991). Wernicke cũng đã trải qua sáu tháng học với Theodor Meynert ở Vienna. Ông đã có được bằng về Tâm thần học năm 1875 và chuyển đến Berlin, nơi ông đã dành ba năm làm việc tại Bệnh viện Charité làm trợ lý cho Karl Hampal, trước khi bắt đầu một thực hành tư nhân ở Berlin với cố vấn của mình là Meynert và Hampal. Wernicke tiếp tục nghiên cứu tâm thần kinh được bắt đầu bởi Wilhelm Griesinger. Trong vài tháng, sau khi trở về Breslau, Wernicke đã xây dựng một lý thuyết mở rộng về chứng mất ngôn ngữ.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
=='''Mô tả chứng mất ngôn ngữ của Wernicke'''==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Năm 1873, Wernicke đã nghiên cứu một bệnh nhân bị đột quỵ. Mặc dù người đàn ông đã có thể nói, nhưng thính giác của anh ta có vấn đề đáng ngạc nhiên. Anh ta hầu như không thể hiểu những gì đã nói với anh ta. Anh cũng không thể hiểu được bằng từ ngữ văn bản. Sau khi chết, Wernicke tìm thấy một vết thương ở phía sau vùng cận/thái dương của bán cầu não trái của bệnh nhân. Wernicke kết luận rằng khu vực này gần với khu vực thính giác của não, đã tham gia vào hiểu lời nói. Wernicke đặt tên cho nó là chứng mất ngôn ngữ cảm giác. Mặc dù bây giờ nó thường được Wernicke gọi là mất ngôn ngữ vùng não bị ảnh hưởng và cũng được gọi là khu vực của Wernicke. Hội chứng này đôi khi được gọi là chứng mất ngôn ngữ lưu loát. Tuy nhiên, các từ có thể bị bệnh nhân sử dụng sai và lời nói của bệnh nhân có thể bị rối loạn hoặc thậm chí không có nội dung. Vì lý do này, các nhà khoa học hiện tin rằng khu vực của Wernicke có thể là tham gia vào quá trình xử lý ngữ nghĩa và đôi khi gọi là khu vực ngôn ngữ tiếp nhận. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
=='''Mô tả bệnh não của Wernicke'''==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Wernicke đã thu thập dữ liệu của một số bệnh nhân của Bệnh viện Allerheiligen  và xuất bản một chuyên khảo gồm 72 trang có tên là Tổ hợp triệu chứng Aphasic (The Aphasic Symptom Complex) vào năm 1874 khi ông mới 26 tuổi. Trong công trình này, ông đã phát triển nhiều ý tưởng của mình về nội địa hóa não bộ có liên quan đến việc mất các loại ngôn ngữ khác nhau vùng bị hư hại cụ thể của não. Trái ngược với chứng mất ngôn ngữ của Wernicke, chứng mất ngôn ngữ vận động liên quan đến tổn thương cho phần não được gọi là Vùng Broca. Với hội chứng này, một bệnh nhân hiểu lời nói, nhưng không thể tự nói. Wernicke yêu cầu rằng khu vực của Broca và khu vực của Wernicke có liên quan với nhau, kết nối với nhau và ông dự đoán rằng tổn thương của kết nối này sẽ gây mất ngôn ngữ dẫn truyền - một hội chứng trong đó một bệnh nhân có thể nói và hiểu ngôn ngữ, nhưng sẽ sử dụng sai từ và không thể lặp lại từ. Dự đoán của Wernicke đã là chính xác. Với những thành công của mình, Wernicke đã đảm nhận vai trò hàng đầu trong nghiên cứu chứng mất ngôn ngữ. Năm 1878, ông đã xuất bản một loạt các bài báo về thần kinh, bao gồm việc mô tả về phản ứng đồng tử hemianopic. Hai trong số bài báo của Wernicke   về chứng mất ngôn ngữ đã được xuất bản bằng tiếng Anh vào năm 1994. &lt;br /&gt;
 &lt;br /&gt;
Ba tập sách của Wernicke “Sách giáo khoa về rối loạn não bộ” (Textbook of Brain Disorders) được xuất bản giữa 1881 và 1883. Trong công trình nghiên cứu này, dựa trên các nghiên cứu trường hợp một cách công phu, Wernicke đã cố gắng tìm hiểu những vấn đề liên quan đến tất cả các vùng cụ thể của não của các bệnh thần kinh ở bệnh viện. &lt;br /&gt;
 &lt;br /&gt;
Vào năm 1882, Wernicke đã báo cáo trường hợp điều trị phẫu thuật đầu tiên cho bệnh nhân bị áp xe não. Khi Neumann qua đời, Wernicke đã kế vị ông làm Giám đốc Bệnh viện Tâm thần Breslau và là giáo sư Tâm thần học vào năm 1885. Ngay sau đó, ông thành lập một Phòng thí nghiệm và bắt đầu đấu tranh để xin tài trợ cho một Phòng khám ngoại trú thần kinh, cuối cùng nó được mở vào năm 1889. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Năm 1889, Wernicke đã mô tả tư thế và dáng đi điển hình của bệnh nhân não bị liệt nửa người trong một bài viết ngắn, nhưng ông đã để nó cho Mann đề xuất một bản phân tích sâu sắc về cái mà ngày nay được gọi là loại liệt nửa người Wernicke-Mann. Vào những năm 1890, Wernicke bắt tay vào một dự án thiết kế một tập bản đồ nhiếp ảnh của những lát não nhuộm màu. Trong nhiều năm, ông và các trợ lý của mình đã dành rất nhiều thời gian và nỗ lực để xử lý các vấn đề kỹ thuật to lớn trong việc sản xuất, nhuộm màu và tái tạo các lát cắt toàn bộ não. Năm 1903, tập cuối trong ba tập cuối cùng đã hoàn thành. Trong những năm này, Wernicke ngày càng dành cho việc đặt Tâm thần học vào một nền tảng sinh học thần kinh. Cuối cùng, ông đã xuất bản một cuốn sách giáo khoa “Outline of Psychiatry”. Các phần trong cuốn sách này được công bố từ 1894 đến 1900. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Vào năm 1904, Wernicke được mời làm Trưởng khoa Khoa Tâm thần và bệnh thần kinh tại Đại học Halle. Trong vòng 14 tháng sau đó, Wernicke đã khởi xướng việc sử dụng phương pháp chọc dò não để chẩn đoán và khoanh vùng khối u não. Ông tiếp tục truyền thống phẫu thuật thần kinh được bắt đầu bởi người tiền nhiệm của ông là Eduard Hitzig. Ông cũng tuyển dụng trợ lý cho các nghiên cứu mô học và sinh lý bệnh học và bắt đầu nghiên cứu Tâm lý học. Đáng tiếc thay, những hoạt động này đã kết thúc đột ngột khi Wernicke gặp tai nạn nghiêm trọng trong chuyến đi xe đạp vào rừng Thuringia. Ông qua đời vào ngày hôm sau vào ngày 15 tháng 6 năm 1905 ở tuổi 58. Sự nghiệp của ông được thúc đẩy bởi nhu cầu nhiệt tình và với tài năng về lý luận và quan sát. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Wernicke là một trong những bác sĩ tâm thần học nổi bật và có ảnh hưởng nhất của thế kỷ XIX. Ngoài nhiều đóng góp của ông cho cả thần kinh học lâm sàng và tâm thần học, những quan điểm của ông về chức năng não đã dự báo trước cho các khái niệm mà chúng ta phát hiện ngày nay. Nghiên cứu của Wernicke đặt nền móng cho mô hình ngôn ngữ Wernicke-Geschwind, trong đó dự đoán các con đường thần kinh liên quan đến nhiệm vụ ngôn ngữ đơn giản. Chẳng hạn như đọc to một từ.  &lt;br /&gt;
                                                                                                          &lt;br /&gt;
=='''Tài liệu tham khảo'''==&lt;br /&gt;
# Vũ Dũng (Chủ biên), ''Từ điển Tâm lý học'', Nxb. Từ điển bách khoa, 2008, tr. 158 - 159.&lt;br /&gt;
# Lanczik, M., and G. Keil., ''“Carl Wernicke’s Localization Theory and its  Significance for the Development of Scientific Psychiatry”, History of Psychiatry'', 2, 1991, pp. 171 - 180. &lt;br /&gt;
# Pillmann F., Marneros A., ''Carl Wernicke - Wirkung und Nachwirkung''. Fortschr Neurol Psychiatr, 69, 2001, pp. 488 - 494.  &lt;br /&gt;
# Kazdin A.E. (Editor in chief), ''Encyclopedia of Psychology: 8 volume set'', APA Publishing, Oxford University Press, Vol. 7, 2000, pp. 87 - 91.&lt;br /&gt;
# Strickland B. (Executive editor), ''The Gale Encyclopedia of Psychology'', Gale Group, 2001, pp. 199.&lt;br /&gt;
# Freedheim D.K., ''Handbook of Psychology'', Vol. 1, History of Psychology, John Wiley &amp;amp; Sons, 2003, pp. 124 - 125. &lt;br /&gt;
# W. Edward Craighead and Charles B. Nemeroff (Editors), ''The Concise Corsini Encyclopedia of Psychology and Behavioral Science'', Published by John Wiley &amp;amp; Sons, Inc, Hoboken, New Jersey, Third edition, 2004, pp. 156 - 157.&lt;/div&gt;</summary>
		<author><name>Diemquynh834</name></author>
	</entry>
	<entry>
		<id>https://bktt.vn/index.php?title=Xa_L%C3%A1nh_Ch%C3%ADnh_Tr%E1%BB%8B_(T%C3%AAn_c%C5%A9:_C%C3%B4_l%E1%BA%ADp_ch%C3%ADnh_tr%E1%BB%8B)&amp;diff=22336</id>
		<title>Xa Lánh Chính Trị (Tên cũ: Cô lập chính trị)</title>
		<link rel="alternate" type="text/html" href="https://bktt.vn/index.php?title=Xa_L%C3%A1nh_Ch%C3%ADnh_Tr%E1%BB%8B_(T%C3%AAn_c%C5%A9:_C%C3%B4_l%E1%BA%ADp_ch%C3%ADnh_tr%E1%BB%8B)&amp;diff=22336"/>
		<updated>2023-01-10T07:09:30Z</updated>

		<summary type="html">&lt;p&gt;Diemquynh834: Tạo trang mới với nội dung “{{sơ}}'''Tạo Xa Lánh Chính Trị (Tên cũ: Cô lập chính trị)''' là cảm giác của một cá nhân không hài lòng, thất vọng, lạnh…”&lt;/p&gt;
&lt;hr /&gt;
&lt;div&gt;{{sơ}}'''Tạo Xa Lánh Chính Trị (Tên cũ: Cô lập chính trị)''' là cảm giác của một cá nhân không hài lòng, thất vọng, lạnh nhạt, xa rời những người lãnh đạo chính trị, các chính sách của chính phủ và hệ thống chính trị tương đối lâu dài. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Dường như có cả điểm giống và khác nhau giữa sự thờ ơ chính trị và xa lánh. Về mặt khái niệm, Fox (2015) lập luận rằng cả sự thờ ơ chính trị và sự xa lánh đều là các định hướng chính trị tương đối liên tục, ổn định. Tuy nhiên, so với những người thờ ơ, những người xa lánh chính trị có ý thức hơn về những gì họ xa lánh. Trong khi sự thờ ơ chính trị nhấn mạnh đến ý thức thờ ơ của một cá nhân đối với việc bỏ phiếu hoặc quá trình bỏ phiếu, thì xa lánh chính trị lại đề cập tới việc cá nhân cảm thấy buộc phải bỏ phiếu mặc dù đánh giá việc này là không quan trọng. Cá nhân có sự xa lánh chính trị cho rằng lợi ích hay mối quan tâm của họ không được chính phủ xem xét và các quan chức không thể đại diện/đại diện không đầy đủ những ý kiến của họ.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
=='''Biểu hiện của xa lánh chính trị'''==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Xa lánh chính trị gồm hai hình thức cơ bản: bất lực chính trị và bất mãn chính trị Olsen (1969). Ở trường hợp bất lực chính trị, cá nhân cảm thấy không có năng lực chính trị, bị ép buộc bởi các yếu tố môi trường sống của bản thân. Còn cá nhân bất mãn chính trị thường là do sự lựa chọn tự nguyện của bản thân. Sự bất lực chính trị xảy ra phổ biến nhất ở những người có các địa vị xã hội không thuận lợi, trong khi sự bất mãn lại phổ biến nhất ở những người thuộc tầng lớp trung lưu.&lt;br /&gt;
 &lt;br /&gt;
Xa lánh chính trị có thể biểu hiện theo 4 cách:&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
* Bất lực chính trị: Cảm giác của cá nhân rằng họ không có quyền hành và không thể ảnh hưởng đến hành động của chính phủ. Thẩm quyền - phân bổ các giá trị cho xã hội là trọng tâm của quá trình chính trị - không chịu ảnh hưởng của cá nhân.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
* Vô nghĩa chính trị: Cá nhân nhận thấy rằng các quyết định chính trị không rõ ràng và không thể đoán được. Cảm giác này được minh họa bởi việc cá nhân không có khả năng phân biệt lựa chọn chính trị nào là có ý nghĩa và cảm giác rằng bản thân những lựa chọn chính trị là vô nghĩa.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
* Phi quy tắc chính trị: cá nhân nhận thức rằng các chuẩn mực hoặc quy tắc nhằm điều chỉnh các mối quan hệ chính trị đã bị phá vỡ và rằng việc không thực hiện hành vi theo quy định là phổ biến. Minh chứng cho kiểu xa lánh này là niềm tin rằng các quan chức vi phạm các thủ tục pháp luật trong làm việc với công chúng hoặc không tuân thủ các quy định.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
* Cách ly chính trị: cá nhân từ chối các chuẩn mực và mục tiêu chính trị được phổ biến, chia sẻ rộng rãi bởi các thành viên khác trong xã hội. Sự cô lập chính trị có thể được minh họa bằng niềm tin rằng việc bỏ phiếu hoặc thực hiên nghĩa vụ chính trị xã hội chỉ là việc tuân thủ các thủ tục; hoặc sự tham gia của cộng đồng trong việc xây dựng chính sách công là không phù hợp. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
=='''Thang đo xa lánh chính trị'''==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Trong nghiên cứu xa lánh chính trị các tác giả sử dụng một số thang đo: Thang đo Xa lánh chính trị của Zimmer  (1983) gồm 5 items. Thang đo Xa lánh chính trị gồm 2 tiểu thang đo là sự bất lực chính trị và phi quy tắc chính trị của Finifter (1970) cũng được sử dụng.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
=='''Nguyên nhân của xa lánh chính trị'''==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Các yếu tố cá nhân có thể ảnh hưởng đến sự xa lánh chính trị: Thứ nhất, việc không thể hoặc không sẵn sàng tham gia vào xã hội, các tổ chức chính thức lớn hoặc cộng đồng. Thứ hai, là tình trạng nhân khẩu (giáo dục, thu nhập và nghề nghiệp) và chủng tộc. Xa lánh chính trị xuất hiện ở nhóm người có trình độ giáo dục thấp, mức thu nhập thấp, lao động tay chân và những người làm nghề thủ công. Xa lánh chính trị phổ biến hơn ở các tầng lớp lao động thấp và ít hơn ở các tầng lớp trung lưu, thượng lưu. Cuối cùng, là nhận thức về sự thất bại cá nhân dẫn đến sự xa lánh chính trị bởi vị trí xã hội của cá nhân hạn chế những hành động của họ. Người bị thất bại cá nhân ít cơ hội để hoàn thành các mục tiêu cuộc sống và cảm nhận bản thân chính là sự thất bại nên xa lánh chính trị. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Các yếu tố thuộc về hệ thống chính trị như: sự vận hành của hệ thống và những quan điểm phê phán về hoạt động của hệ thống cũng có ảnh hưởng đến xa lánh chính trị. Khi hệ thống không đưa ra mục tiêu đáp ứng nhu cầu của tất cả mọi người có các giá trị khác nhau mà chỉ hướng tới một số người và làm cho cá nhân cảm thấy bị kiểm soát chặt chẽ thì họ sẽ có xu hướng xa lánh chính trị.  &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Cùng với đó thì hoàn cảnh kinh tế, xã hội có tác động đến xa lánh chính trị, đến việc bỏ phiếu của người dân Anh trong cuộc bỏ phiếu trưng cầu về việc Anh ra khỏi Liên minh châu Âu - Brexit (Fox, 2020). Xa lánh chính trị bắt nguồn từ nhận thức và hoàn cảnh kinh tế thiếu thốn của cử tri, từ thực tế những cuộc di cư hàng loạt vào châu Âu. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
=='''Hệ quả của xa lánh chính trị'''==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Xa lánh chính trị ảnh hưởng đến việc tham gia bầu cử và thái độ đối với sự đô thị hóa. Người có cảm giác xa lánh chính trị có xu hướng ít tham gia bầu cử hoặc thể hiện thái độ không thích thú với đô thị hóa. Ngoài ra, xa lánh chính trị còn là biến trung gian trong mối quan hệ giữa tình trạng xã hội và sự tham gia vào các vấn đề đô thị. Xa lánh chính trị là một hiện tượng có tầm quan trọng trong quá trình chính trị. Sự xa lánh chính trị dẫn đến một loạt các hành vi chính trị như: hành vi cách mạng, ủng hộ chủ nghĩa cải cách, ủng hộ cho những người mị dân, không tham gia bầu cử, phản đối bầu cử, tham gia vào phong trào chính trị cực đoan, sử dụng tùy tiện các phương tiện thông tin đại chúng.  &lt;br /&gt;
                                                                                                               &lt;br /&gt;
=='''Tài liệu tham khảo'''==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
# Mc Dill, E. L., &amp;amp; Ridley, J. C., ''Status, anomia, political alienation, and political  participation, American Journal of Sociology'', 68 (2), 1962, pp. 205 - 213.&lt;br /&gt;
# Olsen, M. E., ''Two categories of political alienation, Social Forces'', 47 (3), 1969, pp. 288 - 299.&lt;br /&gt;
# Finifter, Ada W., ''Dimensions of Political Alienation, The American Political Science Review'', 64 (2), 1970, pp. 389 - 410.&lt;br /&gt;
# Schwartz, D. C., ''Political alienation and political behavior, Transaction Publishers'', 1973.&lt;br /&gt;
# Zimmer, T. A., ''Local news exposure and local government alienation, Social science quarterly'', 64 (3), 1983, pp. 634.&lt;br /&gt;
# Dahl, V., Amnå, E., Banaji, S., Landberg, M., Šerek, J., Ribeiro, N.,... &amp;amp; Zani, B., ''Apathy or alienation? Political passivity among youths across eight European Union countries, European Journal of Developmental Psychology'', 15 (3), 2018, pp. 284 - 301.&lt;br /&gt;
# Fox, S., ''Political alienation and referendums: how political alienation was related to support for Brexit, British Politics'', 2020, pp. 1 - 20.&lt;/div&gt;</summary>
		<author><name>Diemquynh834</name></author>
	</entry>
	<entry>
		<id>https://bktt.vn/index.php?title=Ngu%E1%BB%93n_g%E1%BB%91c_v%C5%A9_tr%E1%BB%A5&amp;diff=20538</id>
		<title>Nguồn gốc vũ trụ</title>
		<link rel="alternate" type="text/html" href="https://bktt.vn/index.php?title=Ngu%E1%BB%93n_g%E1%BB%91c_v%C5%A9_tr%E1%BB%A5&amp;diff=20538"/>
		<updated>2022-09-28T10:01:57Z</updated>

		<summary type="html">&lt;p&gt;Diemquynh834: Tạo trang mới với nội dung “{{sơ}}'''Nguồn gốc vũ trụ''' là các lý thuyết về sự hình thành Vũ Trụ. Vũ Trụ là tất cả không gian, vật chất và năng…”&lt;/p&gt;
&lt;hr /&gt;
&lt;div&gt;{{sơ}}'''Nguồn gốc vũ trụ''' là các lý thuyết về sự hình thành Vũ Trụ. Vũ Trụ là tất cả không gian, vật chất và năng lượng đã và sẽ tồn tại, trong đó ước tính vật chất tối (chưa biết rõ) chiếm 21%và năng lượng tối chiểm 75% tổng vật chất và năng lượng dự đoán. Vũ Trụ chưa xác định được kích thước, mới chỉ quan sát được chiều rộng 93 tỷ năm ánh sáng, ước tính có tới một nghìn tỷ Thiên hà, trong đó có dải Ngân hà với trên 300 tỷ ngôi sao. Mặt trời của chúng ta là một ngôi sao nằm ở trung tâm Thái dương hệ, gần rìa ngoài một nhánh thuộc dải Ngân Hà, quay một vòng 250 triệu năm quanh trung tâm dải. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Thuyết Địa tâm coi Trái đất nằm bất động ở trung tâm vũ trụ có từ trước Công nguyên và suốt thời Trung cổ được Nhà thờ Thiên chúa coi là giáo lý. Tư tưởng của Copernicus N. (1473-1543) và Galilei G. (1564-1642), những học giả xây dựng thuyết Nhật tâm, coi Mặt trời nằm ở trung tâm Vũ Trụ, còn Trái đất và các hành tinh khác quay xung quanh. Nhờ có kính thiên văn Hubble, từ những năm 1920, Vũ Trụ được nhận biết đang giãn nở và tất cả các Thiên hà đang di chuyển xa dần Trái đất về mọi hướng. Từ đó, thuyết Vụ Nổ lớn (Big Bang) về nguồn gốc Vũ Trụ hình thành và được thừa nhận rộng rãi. Đến nay, nhân loại chưa nhận thức được gì trước vụ nổ này.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Theo thuyết Vụ Nổ lớn, tất cả mọi thứ, gồm cả vật chất và năng lượng tồn tại ban đầu được gói vào một điểm cực nhỏ, đã phát nổ vào 13,8 tỷ năm trước để khởi đầu Vũ Trụ (Hình 1). Trong khoảnh khắc tồn tại đầu tiên, Vũ Trụ dày đặc và nóng đến mức hoàn toàn chứa năng lượng, chưa có cả các hạt hạ nguyên tử. Trong Kỷ nguyên Planck kéo dài từ lúc thời gian bằng 0 cho tới 10-43 giây, mọi loại vật chất và năng lượng đều tập trung trong một trạng thái nóng, đặc và tất cả các loại lực gồm cả lực hấp dẫn thống nhất làm một. Sau kỷ nguyên này, trọng lực đã tách khỏi các lực cơ bản khác. Khoảng thời gian từ 10-35 đến 10-32 giây là Kỷ nguyên lạm phát, Vũ Trụ đã giãn nở với kích thước lớn bùng phát, sau đó giãn nở giảm đi và tiếp tục cho đến ngày nay. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Sau vụ nổ lớn từ 10-6 giây đến vài giây, Vũ Trụ đã giãn nở và nguội đủ để các các hạt Quark kết hợp thành các hạt Proton và Neutron. Đến thời điểm 3 phút tuổi, đường kính Vũ Trụ đã tăng lên khoảng 53 triệu km và nhiệt độ giảm xuống dưới 1 tỷ độ. Phản ứng nhiệt hạch đã liên kết các hạt nhân Hydro để tạo thành hạt nhân Heli. Mọi vật chất hầu như ở dạng hạt nhân Hydro và Heli với tỷ lệ 3:1. Quá trình tổng hợp hạt nhân diễn ra rất nhanh để tạo ra những nguyên tử rất nhỏ. Cuối cùng, Vũ Trụ đủ nguội để các Electron tạo nên các đám mây quanh hạt nhân và các nguyên tử liên kết thành các phân tử.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Sau Vụ Nổ lớn khoảng 200 triệu năm, Vũ Trụ chứa các đám Tinh vân khổng lồ khí Hydro và Heli, bị phân cách bởi những khoảng chân không rộng lớn. Nhờ lực hấp dẫn và chuyển động xoáy, các Tinh vân phát triển thành dạng đĩa, phần tâm phồng lên để hình thành một Tiền sao nóng rực và phát sáng. Khi nhiệt tăng đến khoảng một triệu độ C, Tiền sao “bốc cháy” để thành một lò hạt nhân hình cầu - một ngôi sao thực thụ. Ngôi sao đầu tiên hình thành khoảng 800 triệu năm sau Vụ Nổ lớn, sau đó rất nhiều ngôi sao khác tiếp tục được hình thành. Mặt trời và hệ Mặt trời được hình thành từ 4,6 tỷ năm trước. Vào khoảng 3,5 tỷ năm trước, sự sống đầu tiên đã xuất hiện trên Trái đất.&lt;br /&gt;
 &lt;br /&gt;
[[File:Hình 1. Quan niệm về Vụ Nổ lớn và sự giãn nở VT.jpg|thumb|Hình 1. Quan niệm về Vụ Nổ lớn và sự giãn nở VT (Marshak S., 2019).]]&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Tài liệu tham khảo==&lt;br /&gt;
#	Francisco B. (ed)., ''Earth Science: Geology, the Environment, and the Universe'', The McGraw-Hill Companies, Inc. Printed in USA, 1004p, 2008.&lt;br /&gt;
#	Hawking S.W., ''The theory of everything - The origin and fate of the Universe'', PhoenixBooks, 9465 Wilshire Boulevard, Suite 315, Beverly Hills, CA 90212, 142p, 2005.&lt;br /&gt;
#	Marshak S., ''Essentials of geology'', 6th, edition, New York: W.W. Norton &amp;amp; Company, 1918p, 2019.&lt;/div&gt;</summary>
		<author><name>Diemquynh834</name></author>
	</entry>
</feed>