<?xml version="1.0"?>
<feed xmlns="http://www.w3.org/2005/Atom" xml:lang="vi">
	<id>https://bktt.vn/api.php?action=feedcontributions&amp;feedformat=atom&amp;user=Deepmind2</id>
	<title>Bách khoa Toàn thư Việt Nam - Đóng góp của thành viên [vi]</title>
	<link rel="self" type="application/atom+xml" href="https://bktt.vn/api.php?action=feedcontributions&amp;feedformat=atom&amp;user=Deepmind2"/>
	<link rel="alternate" type="text/html" href="https://bktt.vn/%C4%90%E1%BA%B7c_bi%E1%BB%87t:%C4%90%C3%B3ng_g%C3%B3p/Deepmind2"/>
	<updated>2026-06-03T20:41:40Z</updated>
	<subtitle>Đóng góp của thành viên</subtitle>
	<generator>MediaWiki 1.35.0</generator>
	<entry>
		<id>https://bktt.vn/index.php?title=V%C3%B5_Nguy%C3%AAn_Gi%C3%A1p&amp;diff=22468</id>
		<title>Võ Nguyên Giáp</title>
		<link rel="alternate" type="text/html" href="https://bktt.vn/index.php?title=V%C3%B5_Nguy%C3%AAn_Gi%C3%A1p&amp;diff=22468"/>
		<updated>2023-01-12T06:22:51Z</updated>

		<summary type="html">&lt;p&gt;Deepmind2: Tạo trang mới với nội dung “&amp;lt;indicator name=&amp;quot;mới&amp;quot;&amp;gt;File:UnderCon icon.svg|40px|link={{TALKPAGENAME}}#Bình duyệt|alt=Mục từ này cần được bình duyệt|Mục từ này…”&lt;/p&gt;
&lt;hr /&gt;
&lt;div&gt;&amp;lt;indicator name=&amp;quot;mới&amp;quot;&amp;gt;[[File:UnderCon icon.svg|40px|link={{TALKPAGENAME}}#Bình duyệt|alt=Mục từ này cần được bình duyệt|Mục từ này cần được bình duyệt]]&amp;lt;/indicator&amp;gt;&lt;br /&gt;
'''Võ Nguyên Giáp''' (1911-2013) nhà báo, nhà chính trị, nhà quân sự, tướng lĩnh nổi tiếng của Việt Nam và thế giới, sinh ngày 25 tháng 8 năm 1911, tại làng An Xá, xã Lộc Thủy, huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình, mất ngày 04 tháng 10 năm 2013 tại Hà Nội. Trong hoạt động cách mạng, ông còn có các bí danh: Võ Giáp, Dương Hoài Nam, Hưng, Chiến và đặc biệt là Văn do Chủ tịch Hồ Chí Minh đặt. Trong khi viết sách, làm báo, ông còn có các bút danh: Vân Đình, Hải Thanh, Hồng Nam, Chính Nghĩa... &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Từ năm 1927, sau khi bị trường Quốc học Huế đuổi học vì tham gia tổ chức bãi khóa để phản đối việc nhà trường đuổi học những học sinh yêu nước, ông đã đi làm báo và gia nhập Tân Việt Cách mạng Đảng, tham gia tổ chức Việt Nam Cộng sản Liên đoàn, sau đổi thành Đông Dương Cộng sản Liên đoàn - một bộ phận hợp thành Đảng Cộng sản Việt Nam. Cuối tháng 10.1930, ông bị chính quyền thực dân bắt, kết án hai năm tù, nhưng được thả sau một năm. Ra tù, ông ra Hà Nội, vào học trường Anbe Sarô lấy bằng tú tài, rồi tiếp tục vừa học Trường Luật của Đại học Đông Dương, vừa dạy môn Sử học ở Trường tư thục Thăng Long. Ông trở thành một trong những người lãnh đạo phong trào cách mạng thời kỳ Mặt trận Dân chủ 1936 - 1939.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Cuối năm 1941, ông là người phụ trách công tác quân sự của Đảng. Ngày 22 tháng 12 năm 1944, theo chỉ thị của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc, ông thành lập Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân, tiền thân của Quân đội Nhân dân Việt Nam. Trong Cách mạng Tháng 8 năm 1945, ông tham gia Ủy ban Giải phóng dân tộc, là Tư lệnh Việt Nam giải phóng quân - lực lượng vũ trang thống nhất của cách mạng. Trong Kháng chiến chống thực dân Pháp, ông là Ủy viên Bộ Chính trị Trung ương Đảng, Bí thư Tổng Quân ủy, Bộ trưởng Quốc phòng của Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Tổng Tư lệnh Quân đội Nhân dân Việt Nam,  được phong quân hàm Đại tướng đầu tiên của Quân đội Nhân dân Việt Nam tháng 01 năm 1948. Ông là người trực tiếp chỉ huy chiến dịch Điện Biên Phủ. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Từ sau Hiệp định Genève về đình chỉ chiến tranh ở Đông Dương được ký kết (ngày 20 tháng 7 năm 1954) đến tháng 01.1980, ông là Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Quân ủy Trung ương, Bộ trưởng Quốc phòng, Tổng Tư lệnh Quân đội Nhân dân Việt Nam. Tháng 02 năm 1980, ông được chuyển sang làm Phó thủ tướng phụ trách Khoa học – Kỹ thuật, kiêm nhiệm Chủ tịch Ủy ban quốc gia Dân số và Sinh đẻ có kế hoạch, một trách nhiệm được cơ cấu gắn với Phó thủ tướng phụ trách Khoa học - Kỹ thuật. Từ Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ V, năm 1982, ông thôi tham gia Bộ Chính trị nhưng vẫn là Ủy viên Trung ương Đảng, Phó thủ tướng Chính phủ. Ông nghỉ hưu năm 1991, ở tuổi tám mươi. Ông từ trần vào hồi 18 giờ 9 phút ngày 04 tháng 10 năm 2013, ở tuổi đại thọ một trăm linh ba. Ông được Nhà nước tặng thưởng Huân chương Sao vàng, hai huân chương Hồ Chí Minh và nhiều phần thưởng cao quý khác. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Hoạt động báo chí của Võ Nguyên Giáp bao gồm bốn giai đoạn. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Giai đoạn thứ nhất, từ khi ông viết bài báo đầu tiên “À bas la tyranneau du Collège Quốc học” (Đả đảo tên tiểu bạo chúa ở trường Quốc học) khi còn là học sinh trung học, được tờ L’Annam do Phan Văn Trường làm Chủ nhiệm, xuất bản bằng tiếng Pháp ở Sài Gòn đăng tải dưới tên đã được sửa lại: “Huế: Chế độ quái lạ ở một trường trung học” đến khi bị bắt, cuối năm 1930. Thời gian này ông làm việc ở tòa soạn báo Tiếng dân, từ người biên dịch tin tức trở thành cây viết bình luận, trực tiếp phụ trách mục Thế giới thời đàm của Tiếng dân với các bút danh: Hải Thanh, Vân Đình. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Giai đoạn thứ hai, từ thời kỳ Mặt trận Dân chủ (1936-1939) đến Cách mạng Tháng Tám năm 1945. Trong thời gian này, ông vừa viết báo, vừa làm công tác vận động, xây dựng lực lượng cách mạng trong các tầng lớp nhân dân, chuẩn bị tiến tới tổng khởi nghĩa giành chính quyền. Ông tham gia mua tờ Hồn trẻ để xuất bản dưới danh xưng Hồn trẻ tập mới (06 tháng 6 năm 1936 đến 27 tháng 8 năm 1936); đồng sáng lập và biên tập viên chính tờ Le Travail (16 tháng 9 năm 1936 đến 16 tháng 4 năm 1937); tham gia thành lập và chủ trì xuất bản báo Notre Voix (01.01.1939 đến 25.8.1919); tham gia chỉ đạo các báo Rassemblement!, En Avant!, tham gia biên tập, viết bài cho các tờ báo tiếng Việt do Xứ ủy Bắc Kỳ chủ trương như: Hà thành thời báo, Tin tức, Dân chúng, Đời nay, Thế giới, Ngày mới, Người mới... Ông không chỉ viết bài mà còn lên kế hoạch, biên tập, trình bày, đưa báo đi nhà in, tổ chức phát hành báo. Ông viết nhiều, liên tục, bằng cả tiếng Việt và tiếng Pháp, với nhiều thể loại từ tin tức, bình luận, xã luận, chuyên luận. Báo Notre Voix xuất bản được ba mươi hai số thì ba mươi số có bài của ông, trong đó có số đến hai, ba bài, không ít bài dài đăng liền trên hai - bốn số báo. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Cũng trong thời gian này, ông (bút danh Vân Đình) đã cùng với Trường Chinh (bút danh Qua Ninh) viết xong và xuất bản hai tập đầu của tác phẩm Vấn đề dân cày dự kiến là ba tập. Ông còn hoàn thành cuốn Lược sử Cách mạng Pháp nhưng chưa kịp xuất bản. Không chỉ làm báo, ông còn tích cực tham gia công tác vận động trong báo giới. Năm 1937, ông được Hội nghị Báo giới Bắc Kỳ cử làm Chủ tịch Ủy ban báo chí. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Từ cuối năm 1939, Chính quyền thực dân ra sắc lệnh cấm Đảng Cộng sản Đông Dương và mọi hình thức báo chí của Đảng, ông là người cung cấp thông tin cho mục Tin tức của báo Giải phóng, cơ quan của Xứ ủy Bắc Kỳ; theo dõi, phân tích các thông tin trên báo chí về tình hình quốc tế, trong nước để chuyển cho Xứ ủy; tham gia viết bài cho các tờ báo của Đảng và Mặt trận Việt Minh như: Việt lập, Nước Nam mới. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Giai đoạn thứ ba, từ sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945 đến năm 1980, khi ông thôi giữ chứ Bộ trưởng Bộ Quốc phòng. Trong suốt ba mươi lăm năm giữ các trọng trách trong Đảng và quân đội, ông vẫn thường xuyên viết bài cho các báo, tạp chí như: Sự thật, Nhân dân, Quân đội nhân dân, Sinh hoạt nội bộ, Vệ quốc quân, Quân du kích, Quân chính tập san, tạp chí Học tập... Với trách nhiệm thay mặt Trung ương Đảng chỉ đạo về quân sự, là người chỉ huy cao nhất của quân đội chính quy và toàn bộ lực lượng vũ trang cách mạng, ông viết hàng trăm bài báo, tập trung vào chủ đề về quân sự và hoạt động của các lực lượng vũ trang. Các bài báo của ông thể hiện trực tiếp quan điểm, đường lối quân sự của Trung ương Đảng, đồng thời chính là những yêu cầu, định hướng cho các cấp ủy, chính quyền địa phương, những mệnh lệnh chiến đấu cho các lực lượng vũ trang, bao gồm quân đội và dân quân, du kích. Nhiều bài viết của ông đi sâu nghiên cứu tổng kết về đường lối quân sự của Đảng, sự lãnh đạo của Đảng với các lực lượng vũ trang nhân dân và chiến tranh cách mạng; tổng kết về truyền thống đánh giặc giữ nước và tư tưởng quân sự của Việt Nam. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Giai đoạn thứ tư, từ năm 1980 cho đến cuối đời. Đóng góp lớn nhất của ông trong giai đoạn này là những báo báo về tư tưởng Hồ Chí Minh. Tại Hội nghị quốc tế “Hồ Chí Minh - Việt Nam - Hòa bình thế giới”, tổ chức ở Calcutta, Ấn Độ, ngày 14 tháng 01 năm 1991, ông khẳng định “Thế giới sẽ còn đổi thay, nhưng tư tưởng Hồ Chí Minh vẫn sống mãi”. Những bài nghiên cứu của ông như:“Nguồn gốc tư tưởng Hồ Chí Minh”, “Một số nội dung tư tưởng nhân văn, đạo đức, văn hóa Hồ Chí Minh”, v.v. được tiếp tục đăng tải trên Tạp chí Cộng sản trong những năm 1996 - 1997 đã góp phần làm sáng rõ hơn nội dung, ý nghĩa to lớn của tư tưởng Hồ Chí Minh, đưa tư tưởng Hồ Chí Minh vượt ra ngoài biên giới quốc gia để giới thiệu với bạn bè quốc tế. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Võ Nguyên Giáp có cuộc đời viết báo hơn tám mươi năm, từ khi mới là cậu học trò mười sáu tuổi đến khi đã trở thành một vị đại tướng, một chính trị gia lừng danh cả trong và ngoài nước với tuổi đời hơn một thế kỷ. Ông là một cây bút chính luận xuất sắc, để lại dấu ấn không thể phai mờ trọng lịch sử báo chí Việt Nam thế kỷ XX. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
=='''Tài liệu tham khảo'''==&lt;br /&gt;
# Alain Ruscio: Võ Nguyên Giáp – Một cuộc đời, Nxb CTQG Sự thật, H., 2011.&lt;br /&gt;
# Chương trình sưu tầm tài liệu, viết tiểu sử các đồng chí lãnh đạo chủ chốt của Đảng và cách mạng Việt Nam: Võ Nguyên Giáp tiểu sử  (PGS.TS. Phạm Ngọc Anh chủ biên), Nxb CTQG Sự thật, HN, 2019.&lt;br /&gt;
# Đại tướng Võ Nguyên Giáp: Tổng tập hồi ký, in lần thứ hai, Nxb QĐND, HN, 2010.&lt;br /&gt;
# Đại tướng Võ Nguyên Giáp: Những bài viết và nói chọn lọc thời kỳ đổi mới, Nxb CTQG Sự thật, HN, 2001.&lt;br /&gt;
# Nhiều tác giả: Đại tướng Tổng tư lệnh Võ Nguyên Giáp người anh cả của Quân đội Nhân dân Việt Nam, Nxb QĐND, HN, 2010.&lt;br /&gt;
# Nguyễn Thành: Hoạt động báo chí của Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Nxb LLCT, HN, 2005.&lt;br /&gt;
# Tạ Ngọc Tấn: Võ Nguyên Giáp - vị tướng, nhà lãnh đạo ở tầm cao chiến lược, Tạp chí Lịch sử Đảng, số 10, 2013.&lt;/div&gt;</summary>
		<author><name>Deepmind2</name></author>
	</entry>
	<entry>
		<id>https://bktt.vn/index.php?title=Vi%E1%BB%87t_Nam_%C4%91%E1%BB%99c_l%E1%BA%ADp&amp;diff=22467</id>
		<title>Việt Nam độc lập</title>
		<link rel="alternate" type="text/html" href="https://bktt.vn/index.php?title=Vi%E1%BB%87t_Nam_%C4%91%E1%BB%99c_l%E1%BA%ADp&amp;diff=22467"/>
		<updated>2023-01-12T06:19:10Z</updated>

		<summary type="html">&lt;p&gt;Deepmind2: Tạo trang mới với nội dung “&amp;lt;indicator name=&amp;quot;mới&amp;quot;&amp;gt;File:UnderCon icon.svg|40px|link={{TALKPAGENAME}}#Bình duyệt|alt=Mục từ này cần được bình duyệt|Mục từ này…”&lt;/p&gt;
&lt;hr /&gt;
&lt;div&gt;&amp;lt;indicator name=&amp;quot;mới&amp;quot;&amp;gt;[[File:UnderCon icon.svg|40px|link={{TALKPAGENAME}}#Bình duyệt|alt=Mục từ này cần được bình duyệt|Mục từ này cần được bình duyệt]]&amp;lt;/indicator&amp;gt;&lt;br /&gt;
'''Việt Nam độc lập''' báo, cơ quan của Tỉnh bộ Việt Minh Cao Bằng, nơi đặt Căn cứ địa cách mạng ở Việt Bắc.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
VNĐL do Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh chỉ đạo và trực tiếp tổ chức xuất bản (viết tin, bài, trình bày, tạo công cụ in ấn rồi phát hành, cổ động quần chúng đọc báo, làm theo…) ngay sau Hội nghị Trung ương tháng 5 năm 1941. Số đầu tiên ra ngày 01 tháng 8 năm 1941, được đánh số 101 với ý nghĩa kế tục sự nghiệp báo chí cách mạng trước đó. Xã luận Báo VNĐL số 01 nêu rõ chủ trương: “cốt làm cho dân ta biết, biết các việc, biết đoàn kết, đặng đánh Tây, đánh Nhật làm cho Việt Nam độc lập, bình đẳng tự do”.  &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Mỗi tháng VNĐL ra ba kỳ, mỗi kỳ hai trang, khổ 20 cm x 30 cm, mỗi trang đăng từ hai đến ba tin bài, dài nhất không quá ba trăm chữ. Báo ít mục, kiệm lời, có tranh minh họa, sử dụng rộng rãi các thể loại văn vần (lục bát, song thất lục bát, vè bốn chữ…) dễ học thuộc, nhớ lâu và phù hợp với trình độ quần chúng ở vùng dân tộc ít người và thuận tiện cho việc truyền miệng. Nghĩa là người không được học nhiều và cả người không biết chữ khi được nghe cũng hiểu, hiểu rồi là dễ làm theo. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Bên trái măng-sét của VNĐL là tên báo, số báo, tên địa phương; bên phải là một câu ca dao hoặc một câu ngạn ngữ thể hiện thông điệp của số báo. Như “Nhiễu điều phủ lấy giá gương/Người trong một nước phải thương nhau cùng!” kêu gọi đoàn kết để đánh Pháp, đuổi Nhật.  &lt;br /&gt;
 &lt;br /&gt;
VNĐL in đá khoảng bốn trăm đến sáu trăm bản mỗi số trong hoàn cảnh khó khăn, thiếu thốn, bí mật. Có khi báo phải đăng tin xin lỗi độc giả, do không có giấy ra báo (số 182, ngày 01 tháng 12 năm 1943).&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Đến tháng 8 năm 1942 VNĐL ra được trên ba mươi số, Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh ra nước ngoài công tác, đồng chí Phạm Văn Đồng được phân công trực tiếp chỉ đạo tờ báo đến tháng 4 năm 1945. Phong trào Việt Minh phát triển mạnh, VNĐL từ số 129 ra ngày 21 tháng 6 năm 1942, là của hai tỉnh Cao Bằng, Bắc Kạn, rồi từ số 187, ra ngày 30 tháng 1 năm 1944 là của ba tỉnh Cao-Bắc-Lạng. Lúc đầu cơ quan báo đặt ở Khuổi Nậm, sau chuyển về vùng núi đá Lam Sơn, Hòa An. Báo tồn tại đến sau Cách mạng tháng Tám, số cuối cùng lưu trữ được ra ngày 10 tháng 12 năm 1945, tuyên truyền cho cuộc bầu cử Quốc hội khóa I. Trong cuốn sách Báo Việt Nam độc lập 1941 -1945 của Bảo tàng cách mạng Việt Nam đã tập hợp được một trăm năm mươi sáu số báo VNĐL và thông tin cho biết còn thiếu mười lăm số (nghĩa là tổng cộng có một trăm bảy mươi mốt số báo VNĐL).&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Các bài đăng trên VNĐL luôn luôn chĩa mũi nhọn vào kẻ thù chính của dân tộc là phát xít Nhật - Pháp và bọn tay sai, tố cáo những tội ác dã man của chúng. Tờ báo cũng cổ động mọi tầng lớp nhân dân tham gia các hội Cứu quốc như: Nông dân Cứu quốc, Phụ nữ Cứu quốc, Thanh niên Cứu quốc… VNĐL còn chú trọng đem những bài học lịch sử ra giáo dục cho đồng bào như: “Chị em ta nên kỷ niệm Hai Bà Trưng” (số 154, ngày 01 tháng 3 năm 1943), “Kỷ niệm Trần Hưng Đạo” (số 160, ngày 01 tháng 5 năm 1943, “Kỷ niệm Nghệ An đỏ” (số 175, ngày 21 tháng 9 năm 1943), “Kỷ niệm khởi nghĩa Bắc Sơn” (số 178, ngày 21-10-1943)… &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
VNĐL cũng thường có các bài phân tích về tình hình và nhiệm vụ cách mạng, giúp cho cán bộ và nhân dân hiểu đúng và hành động đúng với chủ trương của Đảng. Xung quanh cuộc đảo chính của Nhật ngày 09 tháng 3 năm 1945 báo viết: “Trên trường chính trị Đông Dương, đoàn thể Việt Minh và dân chúng Đông Dương chỉ có một kẻ thù là quân phát xít Nhật và tất cả lực lượng và mũi tên của người ái quốc Việt Nam hoàn toàn chĩa vào kẻ thù duy nhất ấy là quân phát xít Nhật” (Bài Một sự chuyển biến to ở Đông Dương: Phát xít Nhật triệt người Pháp, số 208, ngày 13 tháng 3 năm 1945). Báo cũng hướng dẫn, xác định rõ quan điểm của cách mạng: “Đối với người Pháp có ý chống Nhật và bị Nhật khủng bố chúng ta phải tỏ lòng thân thiện và họ muốn bắt tay với chúng ta đánh Nhật thì chúng ta vui lòng bắt tay” (Bài Thái độ của chúng ta đối với người Pháp, số 208).&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Trong Tổng khởi nghĩa VNĐL đã đăng lời hiệu triệu đồng bào ngay trên trang đầu: ''“Hỡi hết thảy đồng bào! Hỡi những ai yêu nước thương nòi! Hãy mau hưởng ứng Việt Minh dưới ngọn cờ đỏ chỉ đạo sao vàng năm cánh, mau đứng lên Cướp chính quyền thành lập một Chính phủ Lâm thời Nhân dân hết sức rộng rãi trên nền tự do Tân dân chủ''.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Lúc này ai còn do dự là có tội với quốc dân. Chúng ta phải tự quyết định sự giải phóng của chúng ta”(Bài Giờ khởi nghĩa đã đến, VNĐL số 226, ngày 20 tháng 8 năm 1945)&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Cùng với các số báo chính, VNĐL còn ra họa bản tuyên truyền (Họa bản số một, ngày 25 tháng 5 năm 1945; họa bản số hai, ngày 25 tháng 6 năm 1945; họa bản số ba, tháng 7 năm 1945 ghi: “Quân đội Mỹ là bạn ta/Cứu phi công Mỹ mới là Việt Minh. Ai cứu được phi công Mỹ, đoàn thể Việt Minh trọng thưởng”). &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
VNĐL đã theo sát sự phát triển của phong trào Việt Minh để thực hiện nhiệm vụ tuyên truyền, hướng dẫn và định hướng dư luận, tích cực góp phần vào việc tập hợp lực lượng và tổ chức quần chúng đấu tranh cách mạng. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
VNĐL là tờ báo xuất bản bí mật ra được nhiều số, đứng thứ hai sau tờ Thanh Niên (hai trăm linh tám số) cũng do Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh sáng lập năm 1925 ở Quảng Châu.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
=='''Tài liệu tham khảo:'''==&lt;br /&gt;
# Chủ tịch Hồ Chí Minh với báo chí cách mạng Việt Nam, Nxb Thông tấn, Hà Nội, 2004.&lt;br /&gt;
# Vũ Châu Quán, Bác Hồ với báo Việt Nam độc lập, Nxb Văn hóa Thông tin, Hà Nội, 2008.&lt;br /&gt;
# Nguyễn Thành, Sự nghiệp báo chí của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Nxb Lý luận Chính trị (tái bản), Hà Nội, 2005. &lt;br /&gt;
# Bảo tàng cách mạng Việt Nam, Báo Việt Nam độc lập 1941-1945, Nxb Lao động,Hà Nội, 2000.&lt;br /&gt;
# Đỗ Hoàng Linh, Nguyễn Thu Hằng, Đỗ Xuân Tuất (biên soạn), Lịch sử báo chí cách mạng Việt Nam, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 2015.&lt;/div&gt;</summary>
		<author><name>Deepmind2</name></author>
	</entry>
	<entry>
		<id>https://bktt.vn/index.php?title=V%C4%83n_ki%E1%BB%87n_Qu%E1%BB%91c_h%E1%BB%99i_to%C3%A0n_t%E1%BA%ADp&amp;diff=22466</id>
		<title>Văn kiện Quốc hội toàn tập</title>
		<link rel="alternate" type="text/html" href="https://bktt.vn/index.php?title=V%C4%83n_ki%E1%BB%87n_Qu%E1%BB%91c_h%E1%BB%99i_to%C3%A0n_t%E1%BA%ADp&amp;diff=22466"/>
		<updated>2023-01-12T06:14:28Z</updated>

		<summary type="html">&lt;p&gt;Deepmind2: Tạo trang mới với nội dung “&amp;lt;indicator name=&amp;quot;mới&amp;quot;&amp;gt;File:UnderCon icon.svg|40px|link={{TALKPAGENAME}}#Bình duyệt|alt=Mục từ này cần được bình duyệt|Mục từ này…”&lt;/p&gt;
&lt;hr /&gt;
&lt;div&gt;&amp;lt;indicator name=&amp;quot;mới&amp;quot;&amp;gt;[[File:UnderCon icon.svg|40px|link={{TALKPAGENAME}}#Bình duyệt|alt=Mục từ này cần được bình duyệt|Mục từ này cần được bình duyệt]]&amp;lt;/indicator&amp;gt;&lt;br /&gt;
'''Văn kiện Quốc hội toàn tập''' những văn bản liên quan trực tiếp đến tổ chức và hoạt động của Quốc hội, Ban Thường trực Quốc hội, sau là Ủy ban thường vụ Quốc hội (Hiến pháp, Luật, Nghị quyết...); Tuyên bố, tuyên ngôn, lời kêu gọi, thư của Quốc hội gửi đồng bào cả nước và một số công văn, công điện liên quan đến các công việc trọng đại của Quốc hội... Ngoài ra, còn có các bài phát biểu của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Trưởng Ban thường trực Quốc hội, các vị lãnh đạo Đảng và Nhà nước tại các kỳ họp Quốc hội; các tài liệu liên quan đến một số Luật, Nghị quyết và những vấn đề quốc kế dân sinh quan trọng mà Quốc hội hoặc Ủy ban thường vụ Quốc hội xem xét, quyết định...&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Đây là bộ sách lớn đầu tiên, đầy đủ và có hệ thống các văn kiện Quốc hội trong khoảng thời gian gần 60 năm (1945-2002), do Ủy ban Thường vụ Quốc hội xuất bản. Bộ sách đã được xuất bản có 9 tập, gồm nhiều quyển, trong mỗi tập có 4 quyển, như tập 8, tập 9… mỗi quyển khoảng từ 1.500-2.000 trang. Đến nay, VKQHTT xuất bản 9 tập. Tập 1: 1945 - 1960, và tập 9 từ năm 1997 - 2002, Quyển 4: 2001 - 2002. Các tập, từ tập 1 đến tập 7 đã được Văn phòng Quốc hội đưa lên mạng Internet, giúp cho đông đảo đối tượng bạn đọc nghiên cứu, tìm hiểu.&lt;br /&gt;
Năm 2006, VKQHTT được tiến hành xuất bản nhân dịp Quốc hội nước ta tròn 60 tuổi. Hơn 70 năm qua, Quốc hội đã có một khối lượng văn kiện, tài liệu khá đồ sộ, phản ánh các mặt hoạt động phong phú, có hiệu quả của Quốc hội trong việc thực hiện ba chức năng chủ yếu: lập pháp, giám sát tối cao và quyết định những vấn đề quan trọng của đất nước. Những văn kiện của Quốc dân Đại hội Tân Trào và của các nhiệm kỳ Quốc hội đến nay có giá trị quý báu cả về lý luận và thực tiễn, cũng như đã để lại những bài học kinh nghiệm về xây dựng Nhà nước của dân, do dân và vì dân ở nước ta.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Từ 1954, việc biên soạn, xuất bản các văn kiện, tài liệu của Quốc hội, Ban Thường trực Quốc hội đã được quan tâm. Văn kiện Quốc hội hiện này còn chưa hệ thống, đầy đủ, nhiều văn kiện quý báu hiện nằm trong kho lưu trữ quốc gia, hoặc đang thất lạc, tản mát ở nhiều nơi, ở nhiều cơ quan, chưa được sưu tầm, nghiên cứu để xuất bản, nhất là các văn kiện của thời kỳ Quốc dân Đại hội Tân Trào và một số khóa Quốc hội tiếp theo. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Năm 2004, Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa XI đã ra Nghị quyết số 732/NQ-UBTVQH 11 ngày 06-10-2004, về việc xuất bản VKQHTT, bắt đầu từ Quốc dân Đại hội Tân Trào. Đây là lần đầu tiên, Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quyết định xuất bản bộ sách lớn VKQHTT một cách tương đối đầy đủ và hệ thống về các VKQH kể từ khi thành lập đến năm 2005.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Mục đích của việc xuất bản VKQHTT nhằm góp phần phản ánh một cách khách quan, trung thực quá trình tổ chức và hoạt động của Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội từ năm 1946, phản ánh quá trình xây dựng và phát triển của Nhà nước ta; cung cấp những tư liệu lịch sử chính xác và có hệ thống cho công tác lý luận, biên soạn lịch sử Quốc hội, tuyên truyền, giáo dục và bồi dưỡng cán bộ, đảng viên và nhân dân, nhất là lớp trẻ về truyền thống của Quốc hội, của Nhà nước ta.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Các tập VKQHTT được xuất bản mang tính liên tục theo trình tự thời gian của các sự kiện lịch sử, từ Quốc dân Đại hội Tân Trào (16-17/8/1945) trở đi, có phân ra từng thời kỳ. Do điều kiện thời gian quá lâu, nhất là trong thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp, để không rơi vào tay giặc, có lúc chúng ta đã phải sơ tán, cất giấu các văn bản, tài liệu của Quốc hội ở nhiều nơi, thậm chí phải tiêu huỷ, nên việc sưu tầm đầy đủ văn bản gặp rất nhiều khó khăn. Mặt khác, các văn bản thời kỳ đầu thường được đánh máy bới loại máy chữ cơ không có dấu, hoặc chỉ được in thạch, hoặc là bản viết tay, chữ rất mờ, nên việc xác minh, thẩm định, phục hồi nội dung theo đúng bản gốc là công việc hết sức khó khăn, phức tạp. Trong hoàn cảnh ấy, công tác sưu tầm, tuyển chọn bản thảo đòi hỏi tốn rất nhiều công sức, trí tuệ, bảo đảm nguyên tắc trung thành với bản gốc. Hơn nữa, trong một số tài liệu có sử dụng từ ngữ quen dùng ở thời kỳ đó, nay không còn phù hợp, hay có những từ ngữ mà nghĩa của nó đả thay đổi, một số từ gốc tiếng nước ngoài được phiên âm Hán - Việt, nay không dùng nữa thì vẫn được giữ nguyên theo bản gốc, nhưng có chú thích theo nghĩa thông dụng hiện nay, hoặc phiên âm mới. Ở cuối mỗi tập VKQHTT có kèm bản chú thích về một số sự kiện và bản chỉ dẫn về tên người.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
VKQHTT là sản phẩm thể hiện trí tuệ, công sức của Quốc hội và đồng bào cả nước, sẽ là cơ sở phục vụ tốt cho công tác nghiên cứu lý luận, có tác dụng giáo dục, bồi dưỡng cán bộ, đảng viên và nhân dân, nhất là thế hệ trẻ về truyền thống tốt đẹp của Quốc hội.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
=='''Tài liệu tham khảo'''==&lt;br /&gt;
# Văn phòng Quốc hội, Lịch sử Quốc hội Việt Nam, tập 1 (1946-1960), Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1994.&lt;br /&gt;
# Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Văn kiện Quốc hội toàn tập, tập 1, Nxb Chính trị quốc gia, 2006.&lt;br /&gt;
# Cổng thông tin điện tử Quốc hội Việt Nam https://quochoi.vn/Pages/default.aspx&lt;br /&gt;
# 60 năm Quốc hội Việt Nam, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2005.&lt;br /&gt;
# Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Văn kiện Quốc hội toàn tập, tập 9, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2014.&lt;/div&gt;</summary>
		<author><name>Deepmind2</name></author>
	</entry>
	<entry>
		<id>https://bktt.vn/index.php?title=V%C4%83n_ki%E1%BB%87n_%C4%90%E1%BA%A3ng_C%E1%BB%99ng_s%E1%BA%A3n_Vi%E1%BB%87t_Nam,_to%C3%A0n_t%E1%BA%ADp&amp;diff=22465</id>
		<title>Văn kiện Đảng Cộng sản Việt Nam, toàn tập</title>
		<link rel="alternate" type="text/html" href="https://bktt.vn/index.php?title=V%C4%83n_ki%E1%BB%87n_%C4%90%E1%BA%A3ng_C%E1%BB%99ng_s%E1%BA%A3n_Vi%E1%BB%87t_Nam,_to%C3%A0n_t%E1%BA%ADp&amp;diff=22465"/>
		<updated>2023-01-12T06:12:10Z</updated>

		<summary type="html">&lt;p&gt;Deepmind2: Tạo trang mới với nội dung “&amp;lt;indicator name=&amp;quot;mới&amp;quot;&amp;gt;File:UnderCon icon.svg|40px|link={{TALKPAGENAME}}#Bình duyệt|alt=Mục từ này cần được bình duyệt|Mục từ này…”&lt;/p&gt;
&lt;hr /&gt;
&lt;div&gt;&amp;lt;indicator name=&amp;quot;mới&amp;quot;&amp;gt;[[File:UnderCon icon.svg|40px|link={{TALKPAGENAME}}#Bình duyệt|alt=Mục từ này cần được bình duyệt|Mục từ này cần được bình duyệt]]&amp;lt;/indicator&amp;gt;&lt;br /&gt;
'''Văn kiện Đảng Cộng sản Việt Nam, toàn tập''' các Nghị quyết, Chỉ thị, Thông tri, Quyết định, Báo cáo, Diễn văn… tại các kỳ họp, hội nghị, đại hội Đảng. Văn kiện Đảng toàn tập (VKĐTT) là một bộ sách lớn, một khối lượng tư liệu đồ sộ, được xử lý bằng các phương pháp khoa học. Đánh dấu một bước phát triển mới của công tác nghiên cứu văn bản và nghiên cứu lịch sử Đảng. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Tác giả bộ sách đồ sộ VKĐTT là Đảng Cộng sản Việt Nam. Bộ sách Văn kiện Đảng toàn tập có Hội đồng xuất bản (Thường trực Bộ Chính trị, hoặc Thường trực Ban Bí thư làm Chủ tịch Hội đồng), có các Chủ tịch Hội đồng, Phó Chủ tịch Hội đồng và các Ủy viên hội đồng. Dưới là Ban chỉ đạo xây dựng bản thảo, có Trưởng ban, Phó Trưởng ban, Thường trực và các thành viên. Ở mỗi tập có các nhóm xây dựng bản thảo riêng. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Đến nay, đã hơn 90 năm Đảng lãnh đạo cách mạng, đã để lại khối lượng văn kiện đồ sộ, phong phú, phản ánh cuộc đấu tranh cách mạng đầy gian khổ, hy sinh, kiên cường, sáng tạo của đồng bào và các chiến sĩ cộng sản, kết tinh nhiều giá trị lý luận, tư tưởng và kinh nghiệm hoạt động thực tiễn của Đảng và nhân dân. &lt;br /&gt;
 &lt;br /&gt;
Bộ Văn kiện Đảng toàn tập, từ tập 1 đến tập 69 xuất bản năm 2010 &lt;br /&gt;
(Ảnh tư liệu NXB CTQG Sự thật)&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
VKĐTT là các văn kiện do cấp trung ương ban hành kể từ thời kỳ hoạt động của các tổ chức tiền thân của Đảng trở đi. Đó là các văn kiện của Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên, Tân Việt Cách mệnh Đảng, Đông Dương Cộng sản Đảng, An Nam Cộng sản Đảng, Đông Dương Cộng sản Liên đoàn. Tiếp theo là các văn kiện của Hội nghị thành lập Đảng, văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc và Hội nghị cán bộ Trung ương, Hội nghị đại biểu giữa nhiệm kỳ, văn kiện của các Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương và văn kiện của Ban Thường vụ Trung ương, Bộ Chính trị, Thường vụ Bộ Chính trị, Thường trực Bộ Chính trị - Ban Bí thư, Trung ương Cục miền Nam, một số văn kiện quan trọng của các xứ uỷ. Văn kiện Đảng toàn tập còn có một số tác phẩm quan trọng và tiêu biểu của Chủ tịch Hồ Chí Minh và các Tổng Bí thư về đường lối, chủ trương của Đảng trong các thời kỳ cách mạng.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Ngoài ra, còn có một số tài liệu quan trọng khác có quan hệ chặt chẽ với hoạt động của Đảng Cộng sản Việt Nam như tài liệu của Quốc tế Cộng sản, thông báo về hội đàm đối ngoại của Đảng, lời chào mừng và tham luận tại các Đại hội Đảng... được công bố trong phần Phụ lục. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Các văn kiện của Đảng được sắp xếp và xuất bản theo trình tự thời gian kể từ các tổ chức tiền thân của Đảng trước năm 1930. Một số sự kiện, tổ chức, nhân vật được được chú thích ngắn gọn, dễ hiểu. Cùng một chú thích có thể tìm thấy ở các tập khác nhau để tiện lợi cho việc tra cứu. Ngoài ra, trong bộ VKĐTT, có một số tên gọi tổ chức khác với tên thường dùng trước đây hoặc một số sự kiện được đính chính, giám định dựa trên những thông tin xác thực, tin cậy và những tài liệu lưu tại Kho Lưu trữ Trung ương Đảng. Trong nhiều tập VKĐTT, chủ yếu là các văn kiện ban hành trước Cách mạng Tháng Tám, có một số từ viết không phù hợp với cách viết thông dụng như dùng chữ k thay cho chữ c, chữ z thay cho chữ d... nay được biên tập đúng với cách viết thông dụng. Những danh từ mà nghĩa của nó đã thay đổi hoặc hiện nay không dùng nữa, thì vẫn giữ nguyên và giải nghĩa...&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Do yêu cầu của công tác nghiên cứu, giảng dạy, tuyên truyền, giới thiệu lịch sử Đảng và tổng kết kinh nghiệm hoạt động của Đảng, từ những năm 60 của thế kỷ XX, Ban Nghiên cứu lịch sử Đảng Trung ương đã tiến hành sưu tầm tài liệu, xây dựng bản thảo và xuất bản Văn kiện Đảng, từ thời kỳ hoạt động của các tổ chức tiền thân của Đảng đến tháng 7 - 1954. Tiếp đó, Trường Nguyễn Ái Quốc Trung ương (nay là Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh) và một số cơ quan đã xuất bản một số tập văn kiện Đảng theo các chuyên đề.  &lt;br /&gt;
Một khối lượng khá lớn văn kiện Đảng là các tài liệu đánh máy, in thạch, viết tay bằng nhiều thứ tiếng: Việt, Pháp, Trung Quốc, Nga, Anh, Đức. Sự khác nhau giữa các bản cùng một văn kiện cũng thường xảy ra, trong đó có cả những ngôn từ, ngày thành lập và tên gọi của một số tổ chức. Do đó việc xây dựng bản thảo của văn kiện Đảng đòi hỏi rất nhiều công sức, trí tuệ, tôn trọng văn bản gốc và đối với các dị bản phải được giám định nghiêm túc, cẩn thận. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Việc công bố các tập văn kiện Đảng đã tạo điều kiện thuận lợi cho công tác  giáo dục, huấn luyện, tổng kết lý luận và thực tiễn của Đảng. Song công tác xây dựng bản thảo và xuất bản chưa được quản lý và chỉ đạo thống nhất, thiếu liên tục và hệ thống. Đến nay, do yêu cầu phát triển của nhiều lĩnh vực công tác đảng, của  nhiều ngành khoa học xã hội và nhân văn, của công tác đối nội và đối ngoại, việc công bố rộng rãi văn kiện Đảng càng trở nên cấp thiết; kết quả sưu tầm, xác minh, giám định văn kiện Đảng trong những năm qua cũng đã bổ sung nhiều văn kiện, làm sáng tỏ nhiều sự kiện, nhiều vấn đề lịch sử, tạo điều kiện cho việc xuất bản tương đối đầy đủ bộvăn kiện Đảng. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Năm 1995, Bộ Chính trị, Ban Bí thư (khoá VII) đã chủ trương xuất bản VKĐTT. Ban  Bí thư (khoá VII) đã ra Quyết định số 101 QĐ/TW, ngày 12 - 10 - 1995 và Bộ Chính trị (khoá VIII) ra Quyết định số 25 - QĐ/TW, ngày 3 - 2 - 1997 về việc xuất bản bộ VKĐTT,  từ thời kỳ hoạt động của các tổ chức tiền thân của Đảng trở đi. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Lần xuất bản VKĐTT đầu tiên 54 tập, tập 1 (1924-1930), đến tập 54 (1995). Năm 2013, Ban Bí thư Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, đã ra Quyết định số 208 - QĐ/TƯ, ngày 1 tháng 11 năm 2013, xuất bản lần thứ nhất Văn kiện Đảng toàn tập. In nối tiếp từ tập 55 (1996) đến tập 69 (2010). Bộ sách VKĐTT do Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội, xuất bản từ năm 2015 đến năm 2018. Từ lần xuất bản đầu tiên 54 tập đến lần xuất bản thứ nhất từ tập 55 đến tập 69, có thể nói đây là bộ sách lớn trong di sản tư tưởng - lý luận của dân tộc.&lt;br /&gt;
Trong lần xuất bản VKĐTT đầu tiên đã được số hóa dưới dạng CD-Rom, DVD-Rom và gần đây năm 2020 là 69 tập đã được số hóa, rất tiện lợi trong việc sử dụng tra cứu đỡ tốn kém hơn các bộ in sách và thuận lợi trong việc vận chuyển, tiết kiệm được nhiều thời gian khi sử dụng văn kiện.&lt;br /&gt;
VKĐTT góp phần phản ánh một cách khách quan quá trình hình thành, phát triển của Đảng và tiến trình cách mạng Việt Nam do Đảng lãnh đạo; làm sáng tỏ hơn bản chất cách mạng và tinh thần sáng tạo của Đảng ta, vai trò và công lao to lớn của Đảng trong lịch sử cách mạng của dân tộc. Với bộ Văn kiện Đảng toàn tập, tất cả những người cần nghiên cứu và sử dụng văn kiện Đảng đều có thể dễ dàng tìm thấy những tài liệu chính thức và xác thực. Cũng từ các văn kiện Đảng, vốn gắn liền với hoạt động cách mạng của Đảng và nhân dân, có thể rút ra những bài học kinh nghiệm bổ ích cho hiện tại và tương lai trên mọi lĩnh vực hoạt động của Đảng.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
VKĐTT giúp các cơ quan lãnh đạo Đảng kế thừa, bổ sung và phát triển đường lối của Đảng cho phù hợp với yêu cầu của giai đoạn cách mạng mới. Việc xuất bản VKĐTT nhằm cung cấp những tư liệu lịch sử xác thực, có hệ thống cho công tác nghiên cứu lý luận, nghiên cứu và biên soạn lịch sử Đảng, cho công tác tuyên truyền, giáo dục và bồi dưỡng cán bộ, đảng viên, nhân dân, nhất là thế hệ trẻ về những tri thức và kinh nghiệm chính trị, về truyền thống và đạo đức cách mạng, về lòng yêu nước, tinh thần tự hào, tự tôn dân tộc và tinh thần quốc tế trong sáng của những người cộng sản Việt Nam. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
VKĐTT là một nguồn tư liệu chứa đựng những thông tin chân thực, chống lại những luận điệu xuyên tạc, làm cơ sở cho cán bộ, đảng viên và nhân dân hiểu rõ hơn về hoạt động của Đảng và phong trào cách mạng của nhân dân, đồng thời cũng giới thiệu với bạn bè quốc tế về lịch sử vẻ vang và những bài học kinh nghiệm của Đảng ta.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
VKĐTT cung cấp những tư liệu lịch sử xác thực và có hệ thống cho công tác nghiên cứu lý luận, nghiên cứu biên soạn lịch sử Đảng, tuyên truyền, giáo dục và bồi dưỡng cán bộ, đảng viên, nhân dân, nhất là thế hệ trẻ về truyền thống cách mạng của Đảng, của dân tộc. Ngoài ra, Văn kiện Đảng còn cung cấp tư liệu lịch sử Đảng dùng cho việc giới thiệu với bạn bè quốc tế về lịch sử vẻ vang và bài học kinh nghiệm của Đảng ta.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
=='''Tài liệu tham khảo '''==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
# Bộ Chính trị, ''Quyết định của Bộ Chính trị'', Số 25-QĐ/TW, ngày 3 tháng 2 năm 1997, Về việc xuất bản công khai bộ Toàn tập văn kiện Đảng. &lt;br /&gt;
# Ban Bí thư Trung ương Đảng, ''Quyết định của Ban Bí thư Trung ương'', Số 101-QĐ/TW, ngày 12-10-1995, Về việc thành lập Hội đồng và Ban chỉ đạo xuất bản toàn tập văn kiện ĐảngĐảng Cộng sản Việt Nam, ''Văn kiện Đảng toàn tập'', tập 1, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1998&lt;br /&gt;
# Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng toàn tập, tập 56 (1997), Nxb Chính trị quốc gia,    2015.      &lt;br /&gt;
# Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng toàn tập, tập 69 (2010), Nxb Chính trị quốc gia, 2018. &lt;br /&gt;
# Ban Bí thư Trung ương Đảng, ''Quyết định của Ban Bí thư Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam'', Số 208-QĐ/TW, ngày 1 tháng 11 năm 2013, Về việc xuất bản lần thứ nhất Văn kiện Đảng toàn tập.&lt;br /&gt;
# Đảng Cộng sản Việt Nam, ''Văn kiện Đảng toàn tập'' (69 tập), Nxb Chính trị quốc gia, 2020.&lt;/div&gt;</summary>
		<author><name>Deepmind2</name></author>
	</entry>
	<entry>
		<id>https://bktt.vn/index.php?title=V%C4%83n_h%C3%B3a_Ph%E1%BA%ADt_gi%C3%A1o&amp;diff=22464</id>
		<title>Văn hóa Phật giáo</title>
		<link rel="alternate" type="text/html" href="https://bktt.vn/index.php?title=V%C4%83n_h%C3%B3a_Ph%E1%BA%ADt_gi%C3%A1o&amp;diff=22464"/>
		<updated>2023-01-12T06:06:15Z</updated>

		<summary type="html">&lt;p&gt;Deepmind2: Tạo trang mới với nội dung “&amp;lt;indicator name=&amp;quot;mới&amp;quot;&amp;gt;File:UnderCon icon.svg|40px|link={{TALKPAGENAME}}#Bình duyệt|alt=Mục từ này cần được bình duyệt|Mục từ này…”&lt;/p&gt;
&lt;hr /&gt;
&lt;div&gt;&amp;lt;indicator name=&amp;quot;mới&amp;quot;&amp;gt;[[File:UnderCon icon.svg|40px|link={{TALKPAGENAME}}#Bình duyệt|alt=Mục từ này cần được bình duyệt|Mục từ này cần được bình duyệt]]&amp;lt;/indicator&amp;gt;&lt;br /&gt;
'''Văn hóa Phật giáo''' cơ quan ngôn luận của Trung ương Giáo hội Phật giáo Việt Nam, có chức năng thông tin lý luận và nghiên cứu khoa học mang tính đặc thù của tôn giáo, là công cụ đánh giá kết quả các công trình nghiên cứu khoa học chuyên biệt của đạo Phật cùng những bài viết chắt lọc mang tinh hoa văn hóa Phật giáo đến gần hơn với cuộc sống đời thường. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Tạp chí ''Văn hóa Phật giáo (VHPG)'' phát hành mỗi tháng 2 kỳ; tòa soạn tại số 294 Nam Kỳ Khởi Nghĩa, Q3, Tp. HCM;  Điện thoại: (028) 38484 335; Email:''toasoanvhpg@gmail.com''; Website: ''https://tapchivanhoaphatgiao.com.''&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Tạp chí VHPG được khởi nguồn từ Tập Văn, một tập san của Ban Văn hóa Trung ương Giáo hội Phật giáo Việt Nam, hoạt động từ tháng 4.1985, do Cư sĩ Võ Đình Cường bấy giờ là Trưởng ban Văn hóa, làm Chủ nhiệm và được sự chấp thuận của Giáo hội. ''Tập Văn'' được phát hành mỗi năm 3 số vào các dịp Xuân, Phật đản và Vu-lan, mỗi số gần 1.000 bản. Tập Văn hoạt động được 19 năm (1985 - 2004), gồm 56 số. Cuối năm 2004, trên cơ sở nền tảng là ''Tập Văn'', Tạp chí VHPG chính thức được thành lập theo Quyết định số 96/GP-BVHTT ngày 13 tháng 10 năm 2004 của Bộ Văn hóa -Thông tin, theo đó, cơ quan chủ quản của Tạp chí là Giáo hội Phật giáo Việt Nam. Hiện nay Tạp chí VHPG hoạt động theo Giấy phép hoạt động báo chí do Bộ Thông tin và Truyền thông cấp số: 1878/GP- BTTTT ngày 14 tháng 11 năm 2011.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Kể từ khi thành lập, kiên định tôn chỉ, mục đích phục vụ, Tạp chí VHPG đã không ngừng cải tiến hình thức và nội dung, từng bước tạo lập được uy tín và vị thế vững chắc. Các công trình đăng trong Tạp chí chủ yếu tập trung vào nghiên cứu về tư tưởng, văn hóa, nghệ thuật, triết học của Phật giáo; những tinh hoa văn hóa Phật giáo Việt Nam; các bài khảo cứu về các công trình kiến trúc tôn giáo, di tích Phật giáo. Nhiều công trình nghiên cứu, bài viết đăng trong Tạp chí được giới chuyên môn đánh giá cao, có giá trị học thuật xứng tầm, có ý nghĩa nhân văn sâu sắc, tính thực tiễn cao, góp phần trong việc bảo tồn và phát triển những giá trị văn hóa Phật giáo, những nét đẹp trong văn hóa Việt Nam, tôn vinh truyền thống văn hóa nhân bản của dân tộc Việt Nam, góp phần làm tốt đời, đẹp đạo.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Ngày 18 tháng 8 năm 2020, Tạp chí ''VHPG'' đã được Cục Thông tin Khoa học và Công nghệ Quốc gia, Bộ Khoa học và Công nghệ cấp mã số ISSN 2734-9128 tại quyết định số 23/TTKHCN-ISSN.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Cụ thể hóa tinh thần Đại hội Phật giáo toàn quốc lần thứ VIII (Hà Nội), trong nghị quyết về phương hướng hoạt động Phật sự nhiệm kỳ VIII (2017- 2022) tại điểm thứ 8 có nêu nội dung trọng tâm: ''“Đẩy mạnh truyền thông Phật giáo như một kênh hoằng pháp và chuyển tải các hoạt động Phật sự vào đời sống xã hội nhằm nêu cao giá trị Từ bi - Trí tuệ của đạo Phật, hình ảnh tốt đẹp của Tăng, Ni, Phật tử, của tổ chức Giáo hội các cấp trong sự nghiệp phụng đạo yêu nước, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa”'', Tạp chí VHPGđã, đang cách tân, từng bước hội nhập cùng hệ sinh thái số với nhiều ứng dụng công nghệ số mà cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 đã mang đến cùng với những giá trị cốt lõi trong xu thế phát triển toàn cầu hóa. Tạp chí đã thành lập website chính thức tapchivanhoaphatgiao.com, tạo Fanpage trên Facebook đồng thời mở kênh YouTube, lan tỏa cùng Zalo, Viber… Ngày 20 tháng 09 năm 2020, tại lễ công bố Mã số chuẩn quốc tế xuất bản ấn phẩm nhiều kỳ ISSN, Tạp chí VHPG đã chính thức công bố logo nhận diện và đưa website, app ứng dụng của Tạp chí đi vào hoạt động.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
=='''Tài liệu tham khảo'''==&lt;br /&gt;
# Nguyễn Đại Đồng, Lược khảo Báo chí Phật giáo Việt Nam (1929 – 2008), NXBTôn giáo, H, 2008.&lt;br /&gt;
# Thích Tâm Hải, Tổng quan lịch sử Báo chí Phật giáo Việt Nam, Tài liệu giảng dạy tại Học viện Phật giáo Việt Nam tại TP.HCM.&lt;br /&gt;
# Website: https://tapchivanhoaphatgiao.com/.&lt;/div&gt;</summary>
		<author><name>Deepmind2</name></author>
	</entry>
	<entry>
		<id>https://bktt.vn/index.php?title=Trung_t%C3%A2m_l%C6%B0u_tr%E1%BB%AF_qu%E1%BB%91c_gia_IV&amp;diff=22463</id>
		<title>Trung tâm lưu trữ quốc gia IV</title>
		<link rel="alternate" type="text/html" href="https://bktt.vn/index.php?title=Trung_t%C3%A2m_l%C6%B0u_tr%E1%BB%AF_qu%E1%BB%91c_gia_IV&amp;diff=22463"/>
		<updated>2023-01-12T06:00:33Z</updated>

		<summary type="html">&lt;p&gt;Deepmind2: Tạo trang mới với nội dung “&amp;lt;indicator name=&amp;quot;mới&amp;quot;&amp;gt;File:UnderCon icon.svg|40px|link={{TALKPAGENAME}}#Bình duyệt|alt=Mục từ này cần được bình duyệt|Mục từ này…”&lt;/p&gt;
&lt;hr /&gt;
&lt;div&gt;&amp;lt;indicator name=&amp;quot;mới&amp;quot;&amp;gt;[[File:UnderCon icon.svg|40px|link={{TALKPAGENAME}}#Bình duyệt|alt=Mục từ này cần được bình duyệt|Mục từ này cần được bình duyệt]]&amp;lt;/indicator&amp;gt;&lt;br /&gt;
'''Trung tâm lưu trữ quốc gia IV''' một trong bốn Trung tâm Lưu trữ quốc gia trực thuộc Cục Văn thư và Lưu trữ Nhà nước (VTLTNN) - Bộ Nội vụ, được thành lập theo Quyết định số 1176/QĐ-BNV ngày 25 tháng 8 năm 2006 của Bộ trưởng Bộ Nội vụ, có trụ sở tại số 2, Yết Kiêu, phường 5, TP. Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng. Đây nguyên là khu Biệt điện Hồng Ngọc của Trần Lệ Xuân (vợ của Ngô Đình Nhu, em trai Tổng thống VNCH Ngô Đình Diệm) xây cho cha đẻ là ông Trần Văn Chương lúc đó đang là Đại sứ Việt Nam Cộng hòa (VNCH) tại Mỹ. Sau cuộc đảo chính ngày 01 tháng 11 năm 1963, khu Biệt điện Hồng Ngọc được chế độ VNCH dùng làm khu Bảo tàng Sắc tộc Tây Nguyên.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Từ sau ngày 30 tháng 4 năm 1975, miền Nam được hoàn toàn giải phóng, khu Biệt điện Trần Lệ Xuân được giao cho Sở Du lịch tỉnh Lâm Đồng quản lý. Năm 1984, khu Biệt điện này được Uỷ ban Nhân dân tỉnh Lâm Đồng giao cho Cục Lưu trữ Nhà nước (nay là Cục VTLTNN) quản lý để làm nơi bảo quản khối tài liệu Mộc bản triều Nguyễn lúc đó đang được bảo quản tại Trung tâm Lưu trữ quốc gia II. Năm 2002, Kho chuyên dùng để bảo quản khối tài liệu quý hiếm này đã được Nhà nước đầu tư xây mới và đến ngày 25 tháng 8 năm 2006, sau khi Trung tâm Lưu trữ quốc gia IV (TTLTQG IV) được thành lập, Khu Biệt điện Trần Lệ Xuân trở thành trụ sở chính của Trung tâm. Kể từ ngày 15 tháng 12 năm 2007, sau khi khu Biệt điện Trần Lệ Xuân đã được trùng tu, nâng cấp và được tổ chức thành Khu trưng bày tài liệu lưu trữ thì Trung tâm LTQG IV đã trở thành điểm đến hấp dẫn của các nhà nghiên cứu, du khách trong nước và nước ngoài quan tâm đến lịch sử và văn hóa Việt Nam.  &lt;br /&gt;
 &lt;br /&gt;
Trung tâm Lưu trữ quốc gia IV (Ảnh tư liệu TTLTQG IV)&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Theo Quyết định số 181/QĐ-VTLTVN ngày 15 tháng 9 năm 2006 của Cục trưởng VTLTNN, Trung tâm LTQG IV có chức năng thu thập, bổ sung, bảo quản và khai thác sử dụng tài liệu lưu trữ và nguồn tài liệu lưu trữ từ các cơ quan, tổ chức Trung ương đóng trên địa bàn miền Trung (từ Quảng Trị đến Bình Thuận) và Tây Nguyên; bảo hiểm tài liệu lưu trữ quốc gia từ Quảng Trị trở vào phía Nam. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Thời kỳ đầu (từ 2006 đến tháng 5.2010), Trung tâm LTQG IV có ba phòng chức năng: &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
- Phòng Hành chính – Tổ chức; &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
- Phòng Thu thập – Tổ chức Sử dụng tài liệu;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
- Phòng Bảo quản tài liệu.  &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Về chuyên môn, Trung tâm LTQG IV có nhiệm vụ:&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
- Thu thập, bổ sung tài liệu lưu trữ của các cơ quan, tổ chức và cá nhân thuộc thẩm quyền được giao;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
- Kiểm tra, đôn đốc, hướng dẫn các cơ quan, tổ chức và cá nhân thuộc nguồn nộp lưu vào Trung tâm;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
- Chỉnh lý, phân loại, xác định giá trị đối với tài liệu, tư liệu lưu trữ thuộc phạm vi quản lý của Trung tâm;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
- Bảo vệ, bảo quản tài liệu, lập bản sao bảo hiểm đối với tài liệu lưu trữ đặc biệt quý, hiếm thuộc phạm vi quản lý của Trung tâm và của các cơ quan, tổ chức lưu trữ khác có nhu cầu;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
- Thực hiện tu bổ, phục chế đối với những loại hình tài liệu, tư liệu lưu trữ hư hỏng thuộc thẩm quyền của Trung tâm và các tổ chức, cá nhân có nhu cầu;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
- Xây dựng và quản lý hệ thống công cụ thống kê, tra cứu tài liệu, tư liệu lưu trữ; thực hiện thống kê và báo cáo thống kê lưu trữ lên Cục VTLTNN;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
- Phát huy giá trị tài liệu lưu trữ: tổ chức triển lãm, thông báo, giới thiệu, công bố và phục vụ sử dụng tài liệu, tư liệu lưu trữ thuộc phạm vi quản lý của Trung tâm;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
- Tổ chức nghiên cứu khoa học, áp dụng những thành tựu khoa học và công nghệ, công nghệ thông tin vào thực tiễn công tác của Trung tâm.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Thời kỳ từ tháng 5.2010 đến tháng 10.2015: theo Quyết định số 121/QĐ-VTLTVN ngày 20.5.2010 của Cục trưởng Cục VTLTNN, Trung tâm LTQG IV có chức năng sưu tầm, thu thập, chỉnh lý, bảo quản và tổ chức sử dụng tài liệu Mộc bản triều Nguyễn; tài liệu, tư liệu của các cơ quan, tổ chức Trung ương và cá nhân thời kỳ Phong kiến, Pháp thuộc và của Nhà nước CHXHCN Việt Nam trên địa bàn từ Quảng Trị đến Bình Thuận và khu vực Tây Nguyên theo quy định của pháp luật và quy định của Cục VTLTNN.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Trung tâm LTQG IV gồm chín phòng chức năng:&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
- Phòng Tài liệu Mộc bản;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
- Phòng Thư thập – Chỉnh lý tài liệu;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
- Phòng Bảo quản tài liệu;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
- Phòng Đọc;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
- Phòng Tin học và Công cụ tra cứu;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
- Phòng Hành chính – Tổ chức;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
- Phòng Kế toán;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
- Phòng Bảo vệ và Phòng cháy chữa cháy;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
- Phòng Công bố và Giới thiệu tài liệu.  &lt;br /&gt;
 &lt;br /&gt;
Nhiệm vụ chuyên môn của Trung tâm LTQG IV trong thời kỳ này được sửa đổi lại như sau:&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
- Sưu tầm, thu thập, bổ sung tài liệu, tư liệu lưu trữ của các cơ quan, tổ chức và cá nhân theo thẩm quyền được giao;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
- Phân loại, chỉnh lý, xác định giá trị tài liệu, tư liệu lưu trữ thuộc phạm vi quản lý của Trung tâm;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
- Bảo vệ, bảo quản an toàn tài liệu, tư liệu lưu trữ;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
- Lập bản sao bảo hiểm tài liệu lưu trữ quý hiếm (ở dạng số hóa) theo quy định phân cấp của Cục trưởng Cục VTLTNN;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
- Tu bổ, phục chế tài liệu, tư liệu lưu trữ bị hư hỏng của Trung tâm theo quy định phân cấp của Cục trưởng Cục VTLTNN;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
- Xây dựng và quản lý hệ thống công cụ thống kê, tra cứu tài liệu, tư liệu lưu trữ;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
- Thực hiện các hình thức tổ chức khai thác, sử dụng tài liệu, tư liệu lưu trữ bảo quản tại Trung tâm;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
- Thực hiện nghiên cứu khoa học, ứng dụng thành tựu khoa học và công nghệ vào thực tiễn công tác của Trung tâm;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
- Thực hiện các dịch vụ lưu trữ theo quy định của pháp luật.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Từ năm 2015 đến nay, cơ cấu tổ chức của Trung tâm LTQG IV được điều chỉnh lại gồm bảy phòng chức năng:&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
- Phòng Thu thập – Chỉnh lý tài liệu;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
- Phòng Bảo quản tài liệu;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
- Phòng Tổ chức Sử dụng tài liệu;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
- Phòng Tin học và Công cụ tra cứu;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
- Phòng Hành chính – Tổ chức;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
- Phòng Kế toán;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
- Phòng Bảo vệ và Phòng cháy chữa cháy.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Nhiệm vụ chuyên môn của Trung tâm LTQG IV được sửa đổi lại theo Quyết định số 167/QĐ-VTLTNN ngày 28 tháng 10 năm 2015 của Cục trưởng Cục VTLTNN:&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
1. Trực tiếp quản lý tài liệu lưu trữ hình thành trong quá trình hoạt động của cơ quan, tổ chức và cá nhân:&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
- Tài liệu Mộc bản triều Nguyễn;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
- Tài liệu thời kỳ Pháp thuộc xứ Trung Kỳ;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
- Tài liệu của chính quyền thân Pháp có trụ sở trên địa bàn Trung Việt (Trung phần), cao nguyên Trung phần từ năm 1946 đến 1954;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
- Tài liệu cơ quan, tổ chức của chế độ VNCH tại các tỉnh Trung nguyên Trung phần (từ tỉnh Quảng Trị đến tỉnh Bình Thuận) và các tỉnh Cao nguyên Trung phần từ năm 1954 đến năm 1975;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
- Tài liệu cơ quan, tổ chức Trung ương của Nhà nước CHXHCN Việt Nam trên địa bàn từ tỉnh Quảng Trị đến tỉnh Bình Thuận và khu vực Tây Nguyên;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
- Các tài liệu khác được giao quản lý.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
2. Thực hiện các hoạt động lưu trữ:&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
- Thu thập, sưu tầm, bổ sung tài liệu lưu trữ đối với các phông, sưu tập thuộc phạm vi trực tiếp quản lý của Trung tâm;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
- Phân loại, chỉnh lý, xác định giá trị tài liệu lưu trữ thuộc phạm vi quản lý của Trung tâm;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
- Thực hiện các biện pháp bảo vệ, bảo quản an toàn tài liệu lưu trữ: sắp xếp, vệ sinh tài liệu trong kho; khử trùng, khử a-xít, tu bổ, phục chế, số hóa tài liệu và các biện pháp khác;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
- Xây dựng và quản lý cơ sở dữ liệu, hệ thống công cụ thống kê, tra cứu tài liệu;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
- Tổ chức khai thác, sử dụng và phát huy giá trị tài liệu lưu trữ bảo quản tại Trung tâm.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
3. Ứng dụng thành tựu khoa học và công nghệ vào thực tiễn công tác của Trung tâm.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
4. Thực hiện các dịch vụ công và dịch vụ lưu trữ theo quy định của pháp luật và quy định của Bộ trưởng Bộ Nội vụ, Cục trưởng Cục VTLTNN. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Hiện nay Trung tâm LTQG IV đang bảo quản:&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
- Khối tài liệu thời Phong kiến gồm Mộc bản triều Nguyễn từ năm 1820 đến 1945;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
- Khối tài liệu thời Pháp thuộc từ năm 1858 đến 1945;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
- Khối tài liệu thời Chính phủ Quốc gia Việt Nam từ năm 1949 đến 1955;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
- Khối tài liệu thời Chính quyền VNCH từ năm 1954 đến 1955;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
- Khối tài liệu Tòa Hành chính tỉnh Thừa Thiên từ năm 1947 đến 1975.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Nhờ có những thành tích trong công tác của mình, Trung tâm LTQG IV đã được nhận Huân chương Lao động hạng Ba do Chủ tịch nước tặng thưởng năm 2011 và Huân chương Lao động hạng Nhì do Chủ tịch nước tặng thưởng năm 2016.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
=='''Tài liệu tham khảo'''==&lt;br /&gt;
# Cục Văn thư và Lưu trữ nhà nước, Các Lưu trữ quốc gia Việt Nam, Nxb Thông tin và Truyền thông, 2018. &lt;br /&gt;
# Nguyễn Thị Nhuấn, Giá trị của khối tài liệu tại Trung tâm Lưu trữ quốc gia IV. Kỷ yếu hội thảo khoa học: “Nguồn tư liệu về lịch sử Việt Nam ở trong và ngoài nước: tiềm năng và vấn đề sưu tầm, khai thác” (tài liệu lưu hành trong phạm vi nội bộ Đề án Khoa học Xã hội cấp quốc gia: Nghiên cứu, biên soạn bộ Lịch sử Việt Nam), Đại học KHXH&amp;amp;NV – Đại học Quốc gia Hà Nội, tháng 9.2018.&lt;br /&gt;
# Nguyễn Văn Thâm - Vương Đình Quyền - Đào Thị Diến - Nghiêm Kỳ Hồng, Lịch sử Lưu trữ Việt Nam, Nxb Đại học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh, 2010.&lt;br /&gt;
# http://luutruvn.com/index.php/trung-tam-luu-tru-quoc-gia-iv/&lt;br /&gt;
# https://luutru.gov.vn/co-cau-to-chuc/trung-tam-luu-tru-quoc-gia-iv.htm&lt;/div&gt;</summary>
		<author><name>Deepmind2</name></author>
	</entry>
	<entry>
		<id>https://bktt.vn/index.php?title=Trung_t%C3%A2m_l%C6%B0u_tr%E1%BB%AF_qu%E1%BB%91c_gia_II&amp;diff=22462</id>
		<title>Trung tâm lưu trữ quốc gia II</title>
		<link rel="alternate" type="text/html" href="https://bktt.vn/index.php?title=Trung_t%C3%A2m_l%C6%B0u_tr%E1%BB%AF_qu%E1%BB%91c_gia_II&amp;diff=22462"/>
		<updated>2023-01-12T05:53:48Z</updated>

		<summary type="html">&lt;p&gt;Deepmind2: Tạo trang mới với nội dung “&amp;lt;indicator name=&amp;quot;mới&amp;quot;&amp;gt;File:UnderCon icon.svg|40px|link={{TALKPAGENAME}}#Bình duyệt|alt=Mục từ này cần được bình duyệt|Mục từ này…”&lt;/p&gt;
&lt;hr /&gt;
&lt;div&gt;&amp;lt;indicator name=&amp;quot;mới&amp;quot;&amp;gt;[[File:UnderCon icon.svg|40px|link={{TALKPAGENAME}}#Bình duyệt|alt=Mục từ này cần được bình duyệt|Mục từ này cần được bình duyệt]]&amp;lt;/indicator&amp;gt;&lt;br /&gt;
'''Trung tâm lưu trữ quốc gia II''' một trong bốn Trung tâm Lưu trữ quốc gia trực thuộc Cục Văn thư và Lưu trữ Nhà nước - Bộ Nội vụ với tên gọi ban đầu là Kho Lưu trữ Trung ương II (LTTƯ II), được thành lập theo Quyết định số 252/BT ngày 29.11.1976 của Bộ trưởng, Chủ nhiệm Văn phòng Phủ Thủ tướng, có trụ sở tại số 2, đường Lê Duẩn, quận I, TP.Hồ Chí Minh.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Tiền thân của Trung tâm Lưu trữ quốc gia II (LTQG II) là Sở Lưu trữ công văn - cơ quan quan chuyên trách lưu trữ đầu tiên và cũng là cơ quan Trung ương đầu tiên của ngành Lưu trữ phía Nam thuộc Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam (CHMNVN), được thành lập theo Quyết định số 09-QĐ/75 ngày 05.8.1975 của Ban Thường vụ Trung ương Cục miền Nam.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Trước ngày 30 tháng 4 năm 1975, Nha Văn khố Quốc gia do chính quyền Sài Gòn quản lý. Sau ngày 30 tháng 4 năm 1975, Ban Thông tin Văn hóa thuộc Chính phủ Cách mạng lâm thời CHMNVN đã tiếp quản toàn bộ tài liệu, cơ sở vật chất, nhân sự của Nha tại trụ sở chính ở 72 Nguyễn Du và hai kho tài liệu tại đường Gia Long cùng các chi nhánh ở Huế và Đà Lạt. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Thời gian đầu, Ủy ban Quân quản TP. Sài Gòn – Gia Định vẫn duy trì tên gọi Nha Văn khố Quốc gia và cơ cấu tổ chức, tiếp tục sử dụng về cơ bản đội ngũ nhân viên của chính quyền cũ nhằm mục đích đảm bảo cho công tác lưu trữ hoạt động có hiệu quả, bảo vệ các nguồn tài liệu có giá trị của đất nước. Thời kỳ này, Nha Văn khố Quốc gia thuộc sự quản lý của Ban Thông tin Văn hóa, Ủy ban Quân quản Sài Gòn – Gia Định thuộc Chính phủ Cách mạng lâm thời CHMNVN. Riêng hai chi nhánh của Nha Văn khố Quốc gia tại Đà Lạt và Huế đến tháng 8.1975 vẫn chưa đủ cán bộ chuyên môn tiếp quản nên tài liệu tại đây đã bị rơi vào tình trạng hư hỏng. Sở Lưu trữ công văn ra đời nhằm khắc phục tình trạng đó. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Theo Quyết định số 30/QĐ-76 ngày 03 tháng 6 năm 1976 của Phủ Chủ tịch Chính phủ Cách mạng lâm thời CHMNVN, Sở Lưu trữ công văn đã nhận bàn giao cơ sở vật chất, kho tàng, tài liệu và nhân viên Văn khố từ Ban Thông tin Văn hóa. Tiếp đó, theo Quyết định số 252/BT ngày 29.11.1976 của Bộ trưởng Chủ nhiệm Văn phòng Phủ Thủ tướng, Kho LTTƯ II trực thuộc Cục Lưu trữ &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Phủ Thủ tướng (tiền thân của Cục Văn thư và Lưu trữ Nhà nước) đã được thành lập trên cơ sở kế thừa tổ chức, cơ sở vật chất và nhân sự của Sở Lưu trữ công văn. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Do các kho bảo quản tài liệu đang còn phân tán nên nhiệm vụ chính của Kho LTTƯ II trong giai đoạn này là thu thập tài liệu của các cơ quan thuộc chính quyền cũ để lại, phân loại chỉnh lý, bảo quản và tổ chức khai thác, sử dụng tài liệu tại chỗ. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Năm 1977, Kho LTTƯ II đã thu thập, thống kê và phân loại được gần mười lăm nghìn cặp, bó, gói tài liệu từ các cơ quan, công sở của Chính quyền Việt Nam Cộng hòa (VNCH) để lại như Phủ Tổng thống, Bộ Kinh tế, cơ quan Viện trợ Mỹ, Bộ Giao thông Công chánh và các đơn vị thuộc ngành Ngư nghiệp… Ngoài ra, Kho LTTƯ II còn tiếp nhận gần chín nghìn cặp, hơn bảy trăm thùng kẽm, một nghìn bốn trăm cuộn micro phim, bảy mươi mảnh bản đồ và hơn ba nghìn quyển sách là tư liệu của hãng Denis Frères, Nha Nhân viên kế toán, Ngân hàng Bangkok và của các cơ quan khác thuộc Chính quyền VNCH.  &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Năm 1979, Kho LTTƯ II thu thêm được gần hai nghìn cặp tài liệu của Bộ Lao động, hơn hai trăm bó tài liệu của Bộ Văn hóa và Thông tin, một trăm bốn mươi lăm bó tài liệu của Tổng cục Thể dục Thể thao và Thanh niên của Chính quyền VNCH. Cũng trong năm 1979, Kho LTTƯ II đã tiếp nhận năm trăm bảy mươi hai hòm, một nghìn không trăm bốn mươi tám gói, mười sáu nghìn tám trăm ba mươi sáu hồ sơ tài liệu của các phông lưu trữ thời Pháp (các Fonds Services généraux, Direction des Archives et des Bibliothèques de l’Indochins, Nha Kinh lược Bắc Kỳ, Nha huyện Thọ Xương…) và một nghìn một trăm bảy mươi tám quyển tư liệu của Kho Lưu trữ Trung ương Hà Nội (Dépôt Central de Hanoi). Đây là số tài liệu Pháp định mang về chính quốc trong chiến dịch “hồi hương” (rapatriement) đối với những tài liệu đã được ký kết theo thỏa ước chung ngày 15 tháng 6 năm 1950 giữa chính phủ Bảo Đại và đại diện chính phủ Pháp ở Đông Dương là Cao uỷ Léon Pignon có liên quan đến sự phân chia những tài liệu bảo quản tại Kho Lưu trữ Trung ương ở Hà Nội và Kho Lưu trữ Nam Kỳ ở Sài Gòn nhưng không kịp mang đi nên phải để lại Sài Gòn. Số tài liệu đó đã được Kho LTTƯ II bàn giao lại cho Kho Lưu trữ Nhà nước Trung ương (tiền thân của Trung tâm Lưu trữ quốc gia I) ở Hà Nội vào năm 1981.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Năm 1980, Kho LTTƯ II tiếp tục thu được chín trăm ba mươi hai cặp tài liệu của Nha Thủy lâm thuộc Bộ Nông cư và chín trăm mười tám cặp tài liệu của Bộ Kinh tế thuộc Chính quyền VNCH; khoảng ba mươi mét khối tài liệu của Tòa đại biểu Trung nguyên Trung phần và khoảng bốn mươi lăm mét khối tài liệu của Tòa Hành chính tỉnh Thừa Thiên do Ủy ban Nhân dân tỉnh Thừa Thiên chuyển giao.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Thực hiện Quyết định số 223-CT ngày 08 tháng 8 năm 1988 của Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng, ngày 06 tháng 9 năm 1988, Cục Lưu trữ Nhà nước đã ban hành Quyết định số 385-QĐTC đổi tên Kho LTTƯ II thành Trung tâm LTQG II, đồng thời giao thêm nhiệm vụ:&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
- Hướng dẫn kiểm tra hồ sơ của các cơ quan có tài liệu lưu trữ thuộc nguồn nộp lưu chuẩn bị tài liệu để giao nộp vào Trung tâm;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
- Tổ chức và quản lý công tác nghiên cứu khoa học, ứng dụng kết quả nghiên cứu và các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào nghiệp vụ của Trung tâm theo sự phân cấp của Cục Văn thư, Lưu trữ nhà nước.  &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Về mặt tổ chức, lúc mới thành lập, Kho LTTƯ II gồm Ban Giám đốc và các đơn vị trực thuộc được tổ chức thành các Phân kho: &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
- Phân kho tài liệu Phong kiến – Pháp thuộc quản lý khối tài liệu Châu bản, Địa bạ, tài liệu của các cơ quan Trung ương thời Pháp thuộc; &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
- Phân kho tài liệu thời kỳ VNCH quản lý khối tài liệu của các cơ quan thuộc chính quyền VNCH trước 1975 ở miền Nam;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
- Phân kho tài liệu thời kỳ cách mạng quản lý khối tài liệu của các cơ quan chính quyền cách mạng như Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam (DTGPMNVN), Chính phủ Cách mạng lâm thời CHMNVN… &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Từ năm 2015 đến nay, Trung tâm LTQG II gồm chín đơn vị chuyên môn: Phòng Thu thập và Sưu tầm tài liệu; Phòng Chỉnh lý tài liệu; Phòng Bảo quản tài liệu; Phòng Công bố và Giới thiệu tài liệu; Phòng Tin học và Công cụ tra cứu tài liệu; Phòng Đọc; Phòng Hành chính - Tổ chức; Phòng Kế toán; Phòng Bảo vệ và Phòng cháy chữa cháy. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Trung tâm LTQG II có nhiệm vụ thu thập, chỉnh lý, bảo quản an toàn và tổ chức sử dụng tài liệu, tư liệu lưu trữ thời kỳ phong kiến, Pháp thuộc xứ Nam Kỳ; tài liệu của chính quyền thân Pháp có trụ sở trên địa bàn Nam phần từ 1946-1954; tài liệu của các cơ quan, tổ chức Trung ương của chế độ VNCH; các cơ quan, tổ chức của Mỹ và chư hầu có trụ sở đóng tại miền Nam Việt Nam; các cơ quan Trung ương của Mặt trận Dân tộc GPMNVN, Chính phủ Cách mạng lâm thời CHMNVN trước 30.4.1975; các cơ quan, tổ chức Trung ương của nước Việt Nam DCCH, CHXHCN Việt Nam và tài liệu, tư liệu của các nhân vật lịch sử, cá nhân, gia đình, dòng họ tiêu biểu trên lãnh thổ từ Quảng Trị trở vào phía Nam. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Hiện nay Trung tâm LTQG II đang bảo quản:&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
- Khối tài liệu trước năm 1945 gồm hai sưu tập tài liệu thời kỳ phong kiến và hai mươi lăm phông tài liệu thời kỳ Pháp thuộc; &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
- Khối tài liệu sau năm 1945 gồm ba phông tài liệu thời kỳ Chính phủ Quốc gia Việt Nam; bảy mươi mốt phông tài liệu thời kỳ VNCH; mười sáu phông tài liệu thuộc thời kỳ Cách mạng; &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
- Khối tài liệu nghe nhìn gồm bốn bộ sưu tập; &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
- Khối tài liệu Khoa học kỹ thuật và Bản đồ gồm hai phông và một bộ sưu tập;&lt;br /&gt;
 &lt;br /&gt;
- Khối tài liệu cá nhân, gia đình, dòng họ gồm sáu bộ sưu tập; &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
- Khối tư liệu gồm bốn bộ sưu tập sách, công báo, báo cắt và tạp chí.   &lt;br /&gt;
 &lt;br /&gt;
Vì những thành tích trong công tác của mình, Trung tâm LTQG II đã được nhận Huân chương Lao động hạng Nhì do Chủ tịch nước tặng thưởng năm 2001; Huân chương Lao động hạng Nhất do Chủ tịch nước tặng thưởng năm 2006 và Huân chương Độc lập hạng Ba do Chủ tịch nước tặng thưởng năm 2011. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
=='''Tài liệu tham khảo'''==&lt;br /&gt;
# Cục Văn thư và Lưu trữ nhà nước, Các Lưu trữ quốc gia Việt Nam, Nxb Thông tin và Truyền thông, 2018. &lt;br /&gt;
# Sách chỉ dẫn các phông, sưu tập lưu trữ bảo quản tại Trung tâm Lưu trữ quốc gia II, Nxb Tổng hợp TP. Hồ Chí Minh, 2007.&lt;br /&gt;
# PGS. TS Trần Nam Tiến, Nghiên cứu đánh giá nguồn tư liệu tại Trung tâm Lưu trữ quốc gia II – thành phố Hồ Chí Minh. Kỷ yếu hội thảo khoa học: “Nguồn tư liệu về lịch sử Việt Nam ở trong và ngoài nước: tiềm năng và vấn đề sưu tầm, khai thác” (tài liệu lưu hành trong phạm vi nội bộ Đề án Khoa học Xã hội cấp quốc gia: Nghiên cứu, biên soạn bộ Lịch sử Việt Nam), Đại học KHXH&amp;amp;NV – Đại học Quốc gia Hà Nội, tháng 9.2018.&lt;br /&gt;
# Nguyễn Văn Thâm - Vương Đình Quyền - Đào Thị Diến - Nghiêm Kỳ Hồng, Lịch sử Lưu trữ Việt Nam, Nxb Đại học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh, 2010.&lt;br /&gt;
# https://luutru.gov.vn/co-cau-to-chuc/trung-tam-luu-tru-quoc-gia-ii.htm&lt;br /&gt;
# http://luutruvn.com/index.php/trung-tam-luu-tru-quoc-gia-ii/&lt;/div&gt;</summary>
		<author><name>Deepmind2</name></author>
	</entry>
	<entry>
		<id>https://bktt.vn/index.php?title=Tr%E1%BA%A7n_B%E1%BA%A1ch_%C4%90%E1%BA%B1ng&amp;diff=22461</id>
		<title>Trần Bạch Đằng</title>
		<link rel="alternate" type="text/html" href="https://bktt.vn/index.php?title=Tr%E1%BA%A7n_B%E1%BA%A1ch_%C4%90%E1%BA%B1ng&amp;diff=22461"/>
		<updated>2023-01-12T05:49:51Z</updated>

		<summary type="html">&lt;p&gt;Deepmind2: Tạo trang mới với nội dung “&amp;lt;indicator name=&amp;quot;mới&amp;quot;&amp;gt;File:UnderCon icon.svg|40px|link={{TALKPAGENAME}}#Bình duyệt|alt=Mục từ này cần được bình duyệt|Mục từ này…”&lt;/p&gt;
&lt;hr /&gt;
&lt;div&gt;&amp;lt;indicator name=&amp;quot;mới&amp;quot;&amp;gt;[[File:UnderCon icon.svg|40px|link={{TALKPAGENAME}}#Bình duyệt|alt=Mục từ này cần được bình duyệt|Mục từ này cần được bình duyệt]]&amp;lt;/indicator&amp;gt;&lt;br /&gt;
'''Trần Bạch Đằng''' (1926-2007) nhà báo, nhà văn, nhà chính trị, tên khai sinh là Trương Gia Triều, tên gọi thân mật là Tư Ánh, Năm Quang, sinh ngày 15 tháng 7 năm 1926 tại Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang, trong một gia đình có truyền thống Nho học và yêu nước. Ông còn có các bút danh: Trương Chí Công, Trần Quang, Hưởng Triều, Đại Nghĩa, Lê Văn Ba, Văn Lê, Nguyễn Hiểu Trường, Nguyễn Trương Thiên Lý,...  &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Khi Trần Bạch Đằng (TBĐ) lên năm tuổi, gia đình chuyển lên sống ở tỉnh Biên Hòa. Năm 1942, sau khi học hết tiểu học, thi vào trường Sư phạm (đào tạo giáo viên tiểu học) không đỗ, ông được gia đình gửi lên Sài Gòn, sống trong nhà vợ chồng ông Trần Hữu Độ - người kết hôn với cô ruột thứ năm của TBĐ nên gọi là dượng Năm. Dưới sự dẫn dắt của Trần Hữu Độ, TBĐ đi theo con đường cách mạng, được kết nạp vào Đảng Cộng sản khi mới mười bảy tuổi. Trong Cách mạng Tháng Tám năm 1945, ông tham gia cướp chính quyền ở Sài Gòn. Trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp, TBĐ đã trải qua nhiều nhiệm vụ công tác: Phụ trách công tác vận động thanh niên, tham gia công tác mặt trận, tham gia biên tập báo Chống xâm lăng, chủ nhiệm báo Thanh niên của Đoàn Thanh niên Việt Nam ở Nam Bộ, chủ bút báo Nhân dân miền Nam. Tháng 4.1949, trên đường ra Việt Bắc dự Đại hội lần thứ hai của Đảng, ông đã bị địch bắt và tháng 11 năm ấy, ông đã lãnh đạo thành công cuộc vượt ngục ở khám Chợ Rồng, Gò Công, trở về với đội ngũ cách mạng. Năm 1954, sau khi Hiệp định Genève được ký kết, ông được tổ chức phân công ở lại miền Nam tiếp tục hoạt động.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Trong những năm tháng Kháng chiến chống Mỹ cứu nước, TBĐ đảm nhiệm nhiều trách nhiệm lãnh đạo quan trọng của tổ chức đảng thành phố Sài Gòn – Gia Định và Trung ương Cục miền Nam: Phụ trách Ban Tuyên huấn Xứ ủy Nam Bộ (1955); Ủy viên Đoàn chủ tịch Ủy ban trung ương Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam, Việt Nam (1960); Ủy viên Thường vụ Đặc khu ủy Sài Gòn - Gia Định (1965); Phó Bí thư Đảng ủy Bộ tư lệnh tiền phương II, Bí thư Đảng ủy quân sự Sài Gòn – Gia Định (1968 - trong Chiến dịch Mậu Thân); Bí thư Thành ủy Sài Gòn - Gia Định (1970); Phó Trưởng ban Tuyên huấn Trung ương Cục miền Nam (1973). &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Sau khi miền Nam giải phóng, đất nước thống nhất, do sức khỏe xấu đi nên Trần Bạch Đằng được Trung ương Đảng điều động giữ chức Phó trưởng Ban Dân vận Trung ương để vừa làm việc vừa có điều kiện nghỉ dưỡng, chữa bệnh ở trong nước và nước ngoài. Từ năm 1981, ông trở thành chuyên gia cao cấp của Ban Tuyên huấn Trung ương. Năm 1989, ông trở về sống và làm việc ở Thành phố Hồ Chí Minh, tham gia Hội đồng Khoa học xã hội Thành phố, tham gia Ban chỉ đạo và trực tiếp làm Tổng biên tập công trình Lịch sử Nam Bộ kháng chiến. TBĐ mất ngày 16.4.2007 tại Thành phố Hồ Chí Minh, thọ tám mươi mốt tuổi.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
TBĐ là một cây bút đa tài, giầu nội lực. Ông là tác giả của hơn bốn mươi cuốn sách các loại đã được xuất bản, với các thể loại: thơ,  truyện, tiểu thuyết, bút ký, kịch bản sân khấu, kịch bản phim, là chủ biên và đồng chủ biên hơn mười cuốn sách khác. Ông là tác giả kịch bản bộ phim Ván bài lật ngửa, một trong số ít bộ phim để lại dấu ấn đặc biệt trong lịch sử điện ảnh Việt Nam.&lt;br /&gt;
Năm 2001, ông được tặng thưởng Giải thưởng Nhà nước về Văn học và Nghệ thuật với các tác phẩm: Bài ca khởi nghĩa (tập thơ), Chân dung một quản đốc (tiểu thuyết) và Ván bài lật ngửa (kịch bản phim).&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
TBĐ bắt đầu làm báo với khi được giao phụ trách biên tập báo Chống xâm lăng, cơ quan của Việt Minh Sài Gòn - Chợ Lớn. Cuối năm 1952, ông được cử là chủ bút báo Nhân dân miền Nam thay cho Lưu Quý Kỳ. Sau khi Hiệp định Genève được ký kết, TBĐ được giao nhiệm vụ ở lại miền Nam hoạt động, phụ trách Ban Tuyên huấn Xứ ủy, trực tiếp bố trí và chỉ đạo mạng lưới cán bộ cách mạng hoạt động công khai hoặc nửa công khai trong các tổ chức báo chí, văn học, văn hóa, văn nghệ nhằm chủ động truyên truyền đường lối, chủ trương của cách mạng, cổ vũ tinh thần yêu nước của nhân dân, chuẩn bị cho cuộc chiến đấu lâu dài trong lòng địch. Dưới sự chỉ đạo của ông, nhiều tờ báo như Nhân loại, Ban Mai, Phòng Thương mại... tuy mang danh các cơ quan ngôn luận công khai nhưng thực chất do tổ chức cách mạng chỉ đạo, điều hành. Các cán bộ của cách mạng cũng trực tiếp viết bài hay gây ảnh hưởng đối với một số tờ báo khác như: Tiếng chuông, Sài Gòn mới, Dân chủ, Thần chung, v.v.. Bản thân TBĐ cũng có Thẻ nhà báo mang tên Lê Văn Ba do chính quyền Ngô Đình Diệm cấp. Ông đã thông qua nhà báo Triệu Công Minh làm trung gian để phụ trách biên tập, viết bài cho hai trang Thời sự và Hài hước của tờ Buổi sáng. Từ năm 1957 đến 30.4.1975, TBĐ vừa gánh vác các trách nhiệm lãnh đạo, vừa là cây bút xã luận, bình luận cho Đài phát thanh Giải phóng, Thông tấn xã Giải phóng với bút danh Đại Nghĩa.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Sau năm 1975, TBĐ có điều kiện viết báo nhiều hơn. Ông viết nhiều thể loại nhưng chủ yếu là các bài nghị luận (xã luận, chuyên luận, bình luận, phiếm luận). Bài của ông đăng tải trên khắp các báo từ Bắc vào Nam, từ báo trung ương đến các báo địa phương. Ông trực tiếp đứng tên các chuyên mục của Dòng đời, Chuyện thường ngày,Câu chuyện thứ tư, Thời sự và suy nghĩ... của một số tờ báo như Thanh niên, Tuổi trẻ, Công an Thành phố Hồ Chí Minh... Ngòi bút của TBĐ quan tâm đến nhiều đề tài như: lịch sử, văn hóa, văn nghệ, xã hội, lối sống, con người, các vấn đề chính trị, kinh tế, quốc phòng, an ninh, quốc tế, v.v.., nhưng tâm điểm định hướng của phần lớn bài viết của ông là công cuộc đổi mới, xây dựng và phát triển đất nước. Dù là một tiểu phẩm, bình luận ngắn hay bài bút ký, chuyên luận, nghiên cứu, ông đều có cái nhìn sắc sảo nhiều chiều, đưa ra những suy ngẫm mới mẻ, những phán đoán đi trước thiên hạ, những kiến nghị, giải pháp thẳng thắn, không khoan nhượng. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Phát biểu trong phim tài liệu “Trần Bạch Đằng, Người cầm bút”, TBĐ tâm sự: “Là nhà báo thì phải trung thực, phải say nghề và bám sát thực tế, đưa mục đích làm cho xã hội tốt lên làm tiêu chuẩn hàng đầu. Không giữ được đạo đức vì mục đích chung là tha hóa, kể cả không làm lợi cho ai cũng là tha hóa”. TBĐ không chỉ nói mà trong cả cuộc đời mình, ông đã sống và viết viết báo vì lý tưởng “làm cho xã hội tốt lên”, đã coi “báo chí là trận địa” và đã “viết báo với tất cả hứng thú”  cho đến cuối cuộc đời.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
=='''Tài liệu tham khảo'''==&lt;br /&gt;
# Tuyển tập Thơ Hưởng Triều, Nxb Văn học, HN, 1997.&lt;br /&gt;
# Trần Bạch Đằng: Đổi mới - Đi lên từ thực tế, Nxb Trẻ, TpHCM, 2002.&lt;br /&gt;
# GS Hà Minh Đức chủ biên: Thời gian và nhân chứng (Hồi ký của các nhà báo), Nxb CTQG, HN, 1997.&lt;br /&gt;
# Nguyễn Trọng Xuất chủ biên: Trần Bạch Đằng - chân dung kẻ sỹ Nam Bộ, Nxb KHXH, HN, 2019.&lt;/div&gt;</summary>
		<author><name>Deepmind2</name></author>
	</entry>
	<entry>
		<id>https://bktt.vn/index.php?title=T%E1%BB%95ng_c%C3%B4ng_ty_b%C6%B0u_ch%C3%ADnh_Vi%E1%BB%87t_Nam&amp;diff=22460</id>
		<title>Tổng công ty bưu chính Việt Nam</title>
		<link rel="alternate" type="text/html" href="https://bktt.vn/index.php?title=T%E1%BB%95ng_c%C3%B4ng_ty_b%C6%B0u_ch%C3%ADnh_Vi%E1%BB%87t_Nam&amp;diff=22460"/>
		<updated>2023-01-11T16:20:38Z</updated>

		<summary type="html">&lt;p&gt;Deepmind2: Tạo trang mới với nội dung “&amp;lt;indicator name=&amp;quot;mới&amp;quot;&amp;gt;File:UnderCon icon.svg|40px|link={{TALKPAGENAME}}#Bình duyệt|alt=Mục từ này cần được bình duyệt|Mục từ này…”&lt;/p&gt;
&lt;hr /&gt;
&lt;div&gt;&amp;lt;indicator name=&amp;quot;mới&amp;quot;&amp;gt;[[File:UnderCon icon.svg|40px|link={{TALKPAGENAME}}#Bình duyệt|alt=Mục từ này cần được bình duyệt|Mục từ này cần được bình duyệt]]&amp;lt;/indicator&amp;gt;&lt;br /&gt;
'''Tổng công ty bưu chính Việt Nam''' (tên giao dịch quốc tế là ''Vietnam Post'', viết tắt là ''VNPost'') tổng công ty nhà nước, do Nhà nước quyết định thành lập, hạch toán kinh tế độc lập và được Nhà nước giao vốn thông qua Tập đoàn Bưu chính Viễn thông Việt Nam (VNPT).&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Hội đồng thành viên VNPT là đại diện chủ sở hữu nhà nước tại VNPost và là Hội đồng thành viên của VNPost. VNPost có trụ sở chính đặt tại thành phố Hà Nội.&lt;br /&gt;
VNPost có nhiệm vụ kinh doanh đa ngành, trong đó dịch vụ bưu chính là ngành kinh doanh chính; bảo đảm cung cấp các dịch vụ bưu chính công cộng theo quy định của Pháp lệnh Bưu chính Viễn thông và các nhiệm vụ bưu chính công ích khác do Nhà nước giao. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
VNPost được hình thành trên cơ sở triển khai Đề án thí điểm hình thành Tập đoàn VNPT (xt.: ''Tập đoàn Bưu chính Viễn thông Việt Nam'') do Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 58/2005/QĐ-TTg ngày 23 tháng 3 năm 2005. Trên cơ sở đó, ngày 01 tháng 6 năm 2007, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định 674/QĐ-TTg phê duyệt Đề án thành lập Tổng Công ty Bưu chính Việt Nam. Thực hiện Quyết định 674/QĐ-TTg, ngày 15 tháng 6 năm 2007, Bộ Bưu chính Viễn thông đã ban hành Quyết định 16/207/QĐ-TCCB-BBCVT về việc thành lập Tổng Công ty Bưu chính Việt Nam (VNPost). Kể từ đây, dù vẫn nằm trong VNPT, nhưng VNPost có pháp nhân riêng, thực hiện tổ chức sản xuất và hạch toán độc lập với khối viễn thông.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Ngày 15 tháng 11 năm 2007, Hội đồng quản trị VNPT đã ra Quyết định số 496/QĐ-TCCB/HĐQT phê duyệt phương án chia tách bưu chính-viễn thông trên địa bàn các tỉnh, thành phố. Ngày 26 tháng 12 năm 2007, VNPT chính thức công bố Quyết định thành lập VNPost và VNPost chính thức hoạt động theo mô hình mới từ ngày 01 tháng 01 năm 2008 trên cơ sở thực hiện chia tách bưu chính, viễn thông tại tất cả các bưu điện tỉnh, thành phố và tổ chức lại hoạt động của một số đơn vị bưu chính trước đây.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Trong suốt giai đoạn này, Hội đồng quản trị của VNPT đồng thời là Hội đồng quản trị của VNPost, là đại diện trực tiếp chủ sở hữu Nhà nước tại Tổng công ty.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
''Cơ cấu quản lý VNPost'' gồm: 1) Hội đồng quản trị VNPT là đại diện trực tiếp chủ sở hữu nhà nước tại VNPost; 2) Ban Kiểm soát VNPT giúp Hội đồng quản trị VNPT kiểm tra, giám sát tính hợp pháp, chính xác và trung thực trong quản lý, điều hành hoạt động kinh doanh, ghi chép sổ kế toán, báo cáo tài chính, việc chấp hành Điều lệ VNPost; việc chấp hành các nghị quyết, quyết định của Hội đồng quản trị VNPT, quyết định của Chủ tịch Hội đồng quản trị VNPT trong việc thực hiện chức năng đại diện trực tiếp chủ sở hữu nhà nước tại VNPost; 3) Tổng giám đốc, các Phó Tổng Giám đốc, kế toán trưởng và bộ máy giúp việc.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
 &lt;br /&gt;
Tem phát hành chung Việt Nam-Lào:&lt;br /&gt;
Năm đoàn kết Hữu nghị Việt Nam-Lào 2012. (Ảnh tư liệu VNPost)&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
''Lĩnh vực hoạt động chủ yếu của VNPost'' gồm: 1) thiết lập, quản lý, khai thác và phát triển mạng bưu chính công cộng, cung cấp các dịch vụ bưu chính công ích theo chiến lược, quy hoạch, kế hoạch do cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt; 2) cung cấp các dịch vụ công ích khác theo yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền; 3) kinh doanh các dịch vụ bưu chính dành riêng theo quy định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền; 4) kinh doanh các dịch vụ bưu chính, phát hành báo chí, chuyển phát, tài chính, ngân hàng trong và ngoài nước; 5) tham gia các hoạt động cung cấp dịch vụ bưu chính quốc tế và các dịch vụ khác trong khuôn khổ các điều ước quốc tế trong lĩnh vực bưu chính mà Việt Nam ký kết, gia nhập khi được Nhà nước cho phép; 6) hợp tác với các doanh nghiệp viễn thông để cung cấp các dịch vụ viễn thông và công nghệ thông tin; 7) tư vấn, nghiên cứu, đào tạo và ứng dụng các tiến bộ khoa học, công nghệ trong lĩnh vực bưu chính.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
''Các đơn vị thành viên của VNPost'' gồm: 1) đơn vị hạch toán phụ thuộc có: Bưu điện của các tỉnh, thành phố trong cả nước (tại thời điểm chuyển quyền đại diện chủ sở hữu nhà nước tại VNPost từ VNPT về Bộ Thông tin và Truyền thông vào tháng 11.2012, VNPost có 63 bưu điện tại các tỉnh, thành phố); Công ty Phát hành báo chí Trung ương; Công ty Dịch vụ Tiết kiệm Bưu điện; Các đơn vị khác hình thành theo quy định của pháp luật; 2) các công ty do Tổng công ty góp trên 50% vốn điều lệ có: Công ty cổ phần Chuyển phát nhanh Bưu điện; Công ty cổ phần Tem Bưu chính; Công ty cổ phần In tem Bưu điện; Công ty cổ phần Du lịch Bưu điện; Các công ty khác được hình thành theo quy định của pháp luật; 3) đơn vị sự nghiệp được hình thành theo quy định của pháp luật; Các đơn vị thành viên khác được thành lập theo chiến lược phát triển của VNPost và quy định của pháp luật. Ngoài ra, tại thời điểm chuyển giao quyền đại diện chủ sở hữu nhà nước vào năm 2012, VNPost còn có các đơn vị: Trung tâm Đào tạo và Bồi dưỡng nghiệp vụ Bưu điện (thành lập mới); Công ty vận chuyển đường trục (thành lập mới trên cơ sở tổ chức lại mạng vận chuyển đường trục và dịch vụ kho vận); Công ty Datapost trực thuộc 5 bưu điện tỉnh, thành phố.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Kể từ khi thành lập, VNPost đã nhanh chóng đưa ra hàng loạt chiến lược, giải pháp phát triển; kiện toàn bộ máy theo hướng tinh gọn, hiệu quả; xây dựng thương hiệu mới và đã đạt được kết quả nhất định. Hoạt động cung ứng dịch vụ bưu chính ổn định trong điều kiện biến động của môi trường kinh doanh; mạng lưới cung cấp dịch vụ bưu chính (với các dịch vụ chủ yếu như dịch vụ bưu phẩm, dịch vụ bưu kiện, dịch vụ phát hành báo chí, dịch vụ chuyển phát nhanh, dịch vụ chuyển tiền, dịch vụ tiết kiệm bưu điện, dịch vụ bưu chính ủy thác, Datapost, bưu phẩm không địa chỉ, đại lý bảo hiểm, đại lý cung cấp dịch vụ viễn thông tại giao dịch, phát triển thuê bao viễn thông, bán thẻ viễn thông, thu cước viễn thông,…) vừa đảm bảo phát triển về số lượng, vừa đảm bảo hiệu quả kinh doanh. Với tư duy kinh doanh hướng tới khách hàng, ý thức kinh doanh tự chủ, linh hoạt, VNPost đã đẩy mạnh phương thức bán hàng tại địa chỉ của khách hàng, phát triển nguồn nhân lực cả về số lượng và chất lượng, chú trọng đầu tư áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật hiện đại hóa mạng lưới bưu chính để nâng cao chất lượng và đa dạng hóa dịch vụ. VNPost có khả năng tạo ra được lợi thế cạnh tranh, có khả năng tạo ra năng suất và chất lượng cao hơn đối thủ cạnh tranh, chiếm lĩnh thị phần lớn, tạo ra thu nhập cao và phát triển bền vững.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Đặc biệt, năm 2009, lần đầu tiên Việt Nam đạt giải Nhì và năm 2010, lần đầu tiên Việt Nam đạt giải Nhất Cuộc thi Viết thư quốc tế UPU. Ngày 28.7.2009, VNPost ký hợp đồng và chính thức trở thành thành viên của cộng đồng mạng thanh toán điện tử (Eurogiro) để cung cấp dịch vụ trả tiền quốc tế bằng tiền mặt tại các bưu cục trên cả nước. Năm 2010, VNPost phát hành đặc biệt Bộ Tem kỷ niệm 80 năm thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam. Năm 2011, VNPost lần đầu tiên triển khai thống nhất mẫu biểu trưng thương mại, là tiền đề để xây dựng hoàn thiện hệ thống nhận diện thương hiệu VNPost trên toàn mạng lưới và đến cuối năm 2012, lần đầu tiên VNPost có nhận diện thương hiệu của chính mình (“Vietnam Post-Delivering more”). Bưu điện Việt Nam-gửi trọn niềm tin là tư tưởng chủ đạo, xuyên suốt chiến lược phát triển thương hiệu của VNPost.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Trong năm 2011, Công ty Dịch vụ Tiết kiệm Bưu điện sáp nhập với Ngân hàng Liên Việt thành thương hiệu Ngân hàng Bưu điện Liên Việt (LienVietPostBank), tạo điều kiện cho VNPost đẩy mạnh phát triển dịch vụ tài chính bưu điện rộng khắp trên toàn quốc. Cũng trong năm 2011, VNPost phối hợp với Bảo hiểm Việt Nam bắt đầu triển khai thí điểm việc chi trả lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội qua hệ thống bưu điện trên toàn quốc một cách chuyên nghiệp, đồng loạt, nhanh chóng, chính xác, linh hoạt, và ít rủi ro, được đánh giá là bước đi tích cực trong công cuộc hiện đại hóa, minh bạch hóa công tác dịch vụ tài chính công nói chung, công tác chi trả lương hưu, bảo hiểm xã hội nói riêng. Cũng trong năm 2011, Tổng công ty cổ phần Bảo hiểm Bưu điện được trao giải thưởng Sao Vàng Đất Việt 2011; Công ty cổ phần Chuyển phát nhanh Bưu điện được Liên minh Bưu chính thế giới trao Giải Bạc về chất lượng dịch vụ.&lt;br /&gt;
Ngày 16.11.2012, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định 1746/QĐ-TTg chuyển quyền đại diện chủ sở hữu nhà nước tại VNPost từ VNPT về Bộ Thông tin và Truyền thông (theo đề án của Bộ), theo đó, Tổng Công ty Bưu chính Việt Nam (VNPost) được đổi tên thành Tổng Công ty Bưu điện Việt Nam (VNPost) (xt.: Bưu điện Việt Nam).&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Qua hơn năm năm phát triển, quán triệt và thực hiện chủ trương chiến lược của Nhà nước: “Bưu chính, viễn thông Việt Nam trong mối liên kết với tin học, truyền thông, tạo thành cơ sở hạ tầng thông tin quốc gia, phải là một ngành mũi nhọn, phát triển mạnh hơn nữa, cập nhật thường xuyên công nghệ và kỹ thuật hiện đại,…. góp phần phát triển kinh tế-xã hội đất nước và nâng cao dân trí”, VNPost luôn giữ vững và phát huy vai trò chủ lực về mạng lưới Bưu chính chuyển phát của đất nước, đảm bảo cung ứng tốt các dịch vụ bưu chính công ích, củng cố và nâng cao chất lượng dịch vụ, phát triển thêm các dịch vụ mới, đóng góp xứng đáng vào sự phát triển của VNPT, Bộ Bưu chính Viễn thông, ngành Bưu điện nói riêng và sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước nói chung.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
=='''Tài liệu tham khảo'''==&lt;br /&gt;
# Chính phủ, Quyết định của Thủ tướng Chính phủ số 158/2001-QĐ-TTg ngày 18.10.2001 phê duyệt Chiến lược phát triển Bưu chính-Viễn thông Việt Nam đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020.&lt;br /&gt;
# Thủ tướng Chính phủ, Quyết định của Thủ tướng Chính phủ số 58/2005/QĐ-TTg ngày 23.3.2005 về việc phê duyệt đề án thí điểm hình thành Tập đoàn Bưu chính Viễn thông Việt Nam.&lt;br /&gt;
# Thủ tướng Chính phủ, Quyết định của Thủ tướng Chính phủ số 236/2005/QĐ-TTg ngày 26.9.2005 về việc phê duyệt quy hoạch phát triển Bưu chính Việt Nam đến năm 2010.&lt;br /&gt;
# Bộ Bưu chính Viễn thông, Quyết định số 16/2007/QĐ-BBCVT ngày 15.6.2007 về việc thành lập Tổng công ty Bưu chính Việt Nam.&lt;br /&gt;
# Thủ tướng Chính phủ, Quyết định số 674/QĐ-TTg ngày 01.6.2007 phê duyệt Đề án thành lập Tổng Công ty Bưu chính Việt Nam.&lt;br /&gt;
# Thủ tướng Chính phủ, Quyết định số 1746/QĐ-TTg ngày 16.11.2012 chuyển quyền đại diện chủ sở hữu nhà nước tại Tổng Công ty Bưu chính Việt Nam từ Tập đoàn Bưu chính Viễn thông Việt Nam về Bộ Thông tin và Truyền thông.&lt;br /&gt;
# Bùi Xuân Phong, Quản trị doanh nghiệp Tổng Công ty Bưu điện Việt Nam trong quá trình tái cấu trúc, tạp chí Khoa học, Đại học Quốc gia Hà Nội, Kinh tế và Kinh doanh, Tập 29, số 3 (2013), tr.18-25.&lt;br /&gt;
# Bộ Thông tin và Truyền thông, Ngành Thông tin và Truyền thông Việt Nam: Hình ảnh và sự kiện (sơ thảo), Nxb. Thông tin và Truyền thông, 2016.&lt;br /&gt;
# Văn Phong, Minh Đàm, Bưu điện Việt Nam với vai trò phục vụ cộng đồng, báo Quân đội Nhân dân online,ngày 15.8.2020, https://www.qdnd.vn/xa-hoi/cac-van-de/buu-dien-viet-nam-voi-vai-tro-phuc-vu-cong-dong-631602, truy cập ngày 22.12.2020.&lt;/div&gt;</summary>
		<author><name>Deepmind2</name></author>
	</entry>
	<entry>
		<id>https://bktt.vn/index.php?title=T%E1%BB%95ng_c%C3%B4ng_ty_b%C6%B0u_ch%C3%ADnh_vi%E1%BB%85n_th%C3%B4ng_Vi%E1%BB%87t_Nam&amp;diff=22459</id>
		<title>Tổng công ty bưu chính viễn thông Việt Nam</title>
		<link rel="alternate" type="text/html" href="https://bktt.vn/index.php?title=T%E1%BB%95ng_c%C3%B4ng_ty_b%C6%B0u_ch%C3%ADnh_vi%E1%BB%85n_th%C3%B4ng_Vi%E1%BB%87t_Nam&amp;diff=22459"/>
		<updated>2023-01-11T11:31:42Z</updated>

		<summary type="html">&lt;p&gt;Deepmind2: Tạo trang mới với nội dung “&amp;lt;indicator name=&amp;quot;mới&amp;quot;&amp;gt;File:UnderCon icon.svg|40px|link={{TALKPAGENAME}}#Bình duyệt|alt=Mục từ này cần được bình duyệt|Mục từ này…”&lt;/p&gt;
&lt;hr /&gt;
&lt;div&gt;&amp;lt;indicator name=&amp;quot;mới&amp;quot;&amp;gt;[[File:UnderCon icon.svg|40px|link={{TALKPAGENAME}}#Bình duyệt|alt=Mục từ này cần được bình duyệt|Mục từ này cần được bình duyệt]]&amp;lt;/indicator&amp;gt;&lt;br /&gt;
'''Tổng công ty bưu chính viễn thông Việt Nam''' (tên giao dịch quốc tế: Vietnam Post and Telecommmunications, viết tắt: VNPT) doanh nghiệp chủ lực của Nhà nước trong lĩnh vực Bưu chính Viễn thông; có tư cách pháp nhân, có các quyền và nghĩa vụ dân sự theo luật định; tự chịu trách nhiệm về toàn bộ hoạt động, kinh doanh trong phạm vi số vốn do Tổng công ty quản lý; có con dấu, có tài sản và các quỹ tập trung; được mở tài khoản tại ngân hàng trong nước và nước ngoài theo quy định của Nhà nước, được tổ chức và hoạt động theo Điều lệ Tổng công ty.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Trụ sở chính của VNPT đặt tại Hà Nội.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
VNPT được thành lập ngày 29 tháng 4 năm 1995 trên cơ sở tổ chức, sắp xếp lại các đơn vị dịch vụ, sản xuất, lưu thông, sự nghiệp về bưu chính viễn thông thuộc Tổng cục Bưu điện. VNPT có nhiệm vụ: 1) kinh doanh và phục vụ về bưu chính viễn thông theo quy hoạch, kế hoạch và chính sách phát triển của Nhà nước; 2) nhận và sử dụng có hiệu quả, bảo toàn và phát triển vốn do Nhà nước giao; nhận và sử dụng có hiệu quả tài nguyên, đất đai và các nguồn lực khác do Nhà nước giao để thực hiện nhiệm vụ kinh doanh và những nhiệm vụ khác được giao; 3) tổ chức, quản lý công tác nghiên cứu và ứng dụng tiến bộ khoa học công nghệ và công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ và công nhân trong VNPT.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Cơ cấu tổ chức, quản lý của VNPT gồm: 1) Hội đồng quản trị, Ban kiểm soát; 2) Tổng giám đốc và bộ máy giúp việc; 3) Các đơn vị thành viên VNPT.&lt;br /&gt;
 &lt;br /&gt;
Lễ Khai trương “Hệ thống điện thoại vô tuyến cố định GMH-2000 đầu tiên ở Việt Nam &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
tại thành phố Hồ Chí Minh ngày 23.9.1996 (Ảnh tư liệu VNPT)&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Hội đồng Quản trị gồm bảy thành viên do Thủ tướng Chính phủ bổ nhiệm, khen thưởng, kỷ luật; Chủ tịch Hội đồng Quản trị không kiêm Tổng Giám đốc; nhiệm kỳ của thành viên Hội đồng Quản trị là năm năm. Ban Kiểm soát gồm năm thành viên, trong đó có một thành viên Hội đồng Quản trị làm Trưởng ban; nhiệm kỳ thành viên Ban Kiểm soát là năm năm.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Tổng Giám đốc do Thủ tướng Chính phủ bổ nhiệm, miễn nhiệm, khen thưởng, kỷ luật theo đề nghị của Hội đồng Quản trị và Tổng cục trưởng Tổng cục Bưu điện. Tổng Giám đốc là đại diện pháp nhân của Tổng Công ty, là người có quyền điều hành cao nhất trong Tổng Công ty và chịu trách nhiệm trước Hội đồng Quản trị, Thủ tướng Chính phủ và trước pháp luật về điều hành hoạt động của Tổng Công ty. Giúp việc cho Tổng Giám đốc có Phó Tổng Giám đốc, Kế toán trưởng. Giúp việc cho Hội đồng Quản trị và Tổng Giám đốc có các ban chức năng.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Các đơn vị thành viên VNPT có: 1) các đơn vị hạch toán độc lập (100% vốn nhà nước) gồm các công ty kinh doanh các lĩnh vực (06 đơn vị xây lắp; 23 đơn vị công nghiệp, bao gồm cả các công ty cổ phần, công ty liên doanh với nước ngoài; 03 đơn vị thương mại; Công ty Thông tin di động Mobifone; Công ty Tài chính Bưu điện; Công ty cổ phần Bảo hiểm bưu điện; Công ty cổ phần Du lịch Bưu điện; 08 công ty liên doanh; Công ty Tiết kiệm Bưu điện). 2) Các đơn vị hạch toán phụ thuộc (100% vốn nhà nước) gồm: các đơn vị kinh doanh các dịch vụ bưu chính, viễn thông, phát hành báo chí, Internet, tin học, tổng cộng 63 bưu điện tỉnh thành; mười công ty kinh doanh đường trục; dưới các bưu điện tỉnh lại có các công ty, bưu điện trực thuộc; dưới các công ty lại có các trung tâm khu vực trực thuộc. Tất cả các đơn vị này hạch toán chung tại Tổng Công ty. 3) Các đơn vị sự nghiệp (100% vốn nhà nước)bao gồm: các học viện, trường đào tạo, cơ sở y tế,…4) Các công ty cổ phần và liên doanh (góp vốn theo tỷ lệ).&lt;br /&gt;
VNPT được thành lập trong bối cảnh ngành Bưu điện đang hoàn thành giai đoạn một (1993-1995), bước sang giai đoạn hai (1996-2000) của chiến lược “tăng tốc phát triển”. Kể từ khi thành lập, thực hiện chủ trương của ngành, VNPT đã chủ động, năng động, sáng tạo, đi thẳng vào công nghệ hiện đại theo hướng số hóa, tự động hóa, đa dạng hóa dịch vụ; nhanh chóng triển khai mạng lưới bưu chính viễn thông hiện đại, đồng bộ, tương đồng với các nước tiên tiến trong khu vực và thế giới, mở rộng hợp tác quốc tế, tranh thủ vốn và công nghệ, phục vụ xây dựng mạng lưới và đào tạo nhân lực,… &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Các doanh nghiệp công nghiệp của VNPT đã tiếp thu những thành tựu của cách mạng khoa học công nghệ hiện đại, đổi mới máy móc, thiết bị và công nghệ, theo kịp các công nghệ tiên tiến, hiện đại của thế giới; triển khai nhiều sản phẩm mới đạt tiêu chuẩn quốc tế, phục vụ phát triển mạng lưới bưu chính viễn thông, thay thế và hạn chế nhập khẩu, tạo sự chủ động trong đầu tư, phát triển hệ thống bưu chính viễn thông. VNPT đã sản xuất được trang thiết bị đầu tư cho mạng lưới VNPT, gồm: cáp đồng cung cấp cho mạng lưới chiếm tỷ lệ khoảng 83% nhu cầu của mạng lưới; cáp quang 95%; ống nhựa 75%; thiết bị tổng đài 95%; thiết bị đầu nối cáp đồng 100%; máy điện thoại 25%, thiết bị vi ba số,.... Tổng trang bị thiết bị đầu tư cho mạng lưới chiếm tỷ trọng 35-40% tổng giá trị đầu tư cho mạng lưới bưu chính viễn thông của VNPT hàng năm. Các sản phẩm phần mềm cũng đóng góp lớn vào sự phát triển của VNPT. Các doanh nghiệp công nghiệp còn xuất khẩu sang thị trường các nước Lào, Campuchia, Iraq,… một số chủng loại sản phẩm như: cáp đồng, cáp quang, phần mềm và phần cứng tổng đài,…&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Mạng lưới và dịch vụ bưu chính được đổi mới và tăng cường theo hướng hiện đại hóa. Các dịch vụ truyền thống được nâng cao chất lượng. Hàng loạt dịch vụ bưu chính mới chất lượng cao như chuyển phát nhanh, chuyển tiền nhanh, tiết kiệm bưu điện, bảo hiểm bưu điện,… được đưa vào khai thác. Sáng kiến điểm Bưu điện-Văn hóa xã ra đời năm 1998 góp phần quan trọng vào việc phổ cập các dịch vụ bưu chính viễn thông, đưa các thiết chế văn hóa đến nông thôn, góp phần xóa đói, giảm nghèo; tạo điều kiện cho 100% số xã có điện thoại vào năm 2005 và cung cấp báo đọc miễn phí hàng ngày; góp phần làm tăng số điểm mạng lưới phục vụ (gồm: bưu cục, bưu điện-văn hóa xã, đại lý, kiốt) lên 18.941 điểm với diện tích phục vụ bình quân là 17,5km2 có 1 điểm, và số dân phục vụ bình quân 4.500 người/điểm (so với trước 1998 là 3.000 bưu cục; bình quân 25.500 người và 110km2 mới có 1 bưu cục).&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Cuối năm 1995, hệ thống tổng đài và truyền dẫn trên toàn mạng viễn thông đã được số hóa hoàn toàn, đưa Bưu điện Việt Nam trở thành ngành đi đầu trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.&lt;br /&gt;
Ngày 1.3.1996, VNPT đã hoàn thành đổi số điện thoại từ 6 số lên 7 số ở Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh, từ 5 số lên 6 số ở các tỉnh, thành phố khác trên phạm vi toàn quốc; đánh dấu bước tiến quan trọng về phát triển mạng lưới viễn thông, về khả năng, trình độ quản lý kỹ thuật, khai thác, chỉ đạo điều hành mạng lưới của ngành Bưu điện Việt Nam, đáp ứng tốt hơn nhu cầu của xã hội trong thời kỳ mới.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Năm 2000, VNPT kết thúc thắng lợi chiến lược tăng tốc phát triển, đưa Việt Nam trở thành một trong 10 nước dẫn đầu thế giới về tốc độ phát triển mạng viễn thông. Khoảng thời gian 2000-2005, giai đoạn hội nhập và phát triển, là giai đoạn VNPT có những đóng góp quan trọng vào sự nghiệp phát triển vẻ vang của Ngành.&lt;br /&gt;
 &lt;br /&gt;
Năm 1995, mạng viễn thông Việt Nam đã số hóa hoàn toàn đến các tỉnh, thành &lt;br /&gt;
với hệ thống truyền dẫn, chuyển mạch, hệ thống tổng đài tự động. (Ảnh tư liệu VNPT)&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Trong năm 2002, VNPT đạt năm triệu thuê bao điện thoại, góp phần đưa mật độ điện thoại của Việt Nam lên 6,26 máy/100 dân. Tháng 12/2003, mạng điện thoại của VNPT đạt 7 triệu thuê bao, góp phần đưa mật độ điện thoại của Việt Nam lên 8 máy/100 dân. Tháng 6.2005, cả nước có 12,17 triệu máy điện thoại, trong đó VNPT có 11,29 triệu máy, trong số đó thuê bao điện thoại di động chiếm 50% toàn mạng; góp phần đưa mật độ điện thoại cả nước lên 14,84 máy/100 dân, vượt gấp đôi chỉ tiêu Đại hội IX của Đảng đề ra là vào năm 2005 đạt 7-8 máy điện thoại/100 dân.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Các tuyến vận chuyển bưu chính chuyên dụng trong nước và quốc tế được mở rộng. Mạng viễn thông quốc tế được tăng cường dung lượng. Ngày 25 tháng 11 năm 2003, VNPT chính thức cung cấp dịch vụ Internet không dây (wifi) đầu tiên ở Việt Nam. Năm 2005, tổng số thuê bao Internet của VNPT đạt hơn 1,3 triệu thuê bao chiếm 44,5% thị phần Internet của Việt Nam, là ISP lớn nhất trong số 7 ISP đang khai thác Internet.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Năm 2003, VNPT được giao thực hiện đề án “Xây dựng mạng Truyền số liệu chuyên dùng của các cơ quan Đảng, Nhà nước”. Đây là Dự án về viễn thông-công nghệ thông tin có quy mô toàn quốc, có ý nghĩa lớn về chính trị, kinh tế-xã hội, đảm bảo thông tin liên lạc thông suốt trong mọi tình huống, phục vụ sự chỉ đạo, lãnh đạo của Đảng và Nhà nước tới các bộ, ban, ngành Trung ương và các địa phương trong cả nước, góp phần tạo tiền đề cho cải cách hành chính, xây dựng chính phủ điện tử. Đến ngày 23.03.2012, cả hệ thống mạng này đã được khai trương và đi vào hoạt động (xt.: Tập đoàn VNPT).&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Tháng 10 năm 2004, bắt kịp với xu hướng phát triển công nghệ của thế giới, VNPT đã chính thức khai trương và đưa ra khai thác các dịch vụ trên nền mạng NGN. Đây là một bước chuyển biến mang tính cách mạng về công nghệ đối với cả mạng Viễn thông Việt Nam, nhờ đó mạng viễn thông của VNPT có khả năng cung cấp đa dạng các dịch vụ từ truyền thống cho tới hàng loạt các dịch vụ băng rộng với chất lượng cao. Ngày 19.11.2004, ngành Bưu điện chính thức đưa mạng viễn thông thế hệ mới NGN vào khai thác trên mạng lưới viễn thông của Việt Nam.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
VNPT đã thực hiện thành công chuyển giao công nghệ (chủ yếu được thực hiện tại các liên doanh) sản xuất các sản phẩm công nghệ cao, gồm: công nghệ sản phẩm, công nghệ sản xuất và phương pháp điều hành, quản lý. Năm 1995, VNPT ký Hợp đồng hợp tác kinh doanh (BCC) với hãng Comvik (Thụy Điển) để xây dựng mạng MobiFone sau này. Ngày 26 tháng 12 năm 1996, VNPT ký hợp đồng liên doanh thành lập Công ty trách nhiệm hữu hạn sản xuất các hệ thống viễn thông VNPT-Fujitsu tại Hà Nội. 4 tháng 2 năm1997, VNPT ký kết hợp đồng với công ty GSC (Hàn Quốc) về việc cung cấp cáp sợi quang cho VNPT tại Hà Nội. 23 tháng 5 năm 1997, VNPT ký hợp đồng liên doanh sản xuất các hệ thống viễn thông với công ty NEC (Nhật Bản) tại Hà Nội,… &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Năm 2002, mẫu biểu trưng thương mại của VNPT ra đời thay cho việc sử dụng biểu trưng của ngành qua nhiều năm, mở đầu cho việc xây dựng hệ thống nhận diện thương hiệu của VNPT về sau này. Cuối năm 2005, việc VNPT đưa vào sử dụng hệ thống nhận diện thương hiệu mới với câu hiệu (slogan) VNPT- Cuộc sống đích thực khẳng định cam kết vì con người, vì cộng đồng và vì sự phát triển bền vững của đất nước.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Ngày 18 tháng 10 năm 2005, Thủ tướng Chính phủ chính thức quyết định giao cho VNPT thực hiện Dự án Phóng vệ tinh viễn thông Việt Nam (VINASAT), đánh dấu một bước phát triển mới của cơ sở hạ tầng Viễn thông - Công nghệ thông tin và Truyền thông của đất nước.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Trong mười năm phát triển năng động, sáng tạo, VNPT đã có đóng góp xứng đáng vào sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc. Trước sự phát triển lớn mạnh của VNPT, ngày 23 tháng 3 năm 2005, Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án thí điểm xây dựng Tập đoàn Bưu chính Viễn thông (VNPT) trên cơ sở sắp xếp, tổ chức lại VNPT. (xt.: Tập đoàn VNPT). Ghi nhận đóng góp to lớn của VNPT, Nhà nước đã trao tặng Huân chương Sao Vàng (1995). Danh hiệu Anh hùng Lao động mà Tập đoàn VNPT vinh dự được Nhà nước phong tặng vì đã có thành tích đặc biệt xuất sắc trong lao động sáng tạo từ 1999 đến 2008 có công lao đóng góp to lớn của VNPT.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
=='''Tài liệu tham khảo'''==&lt;br /&gt;
# Thủ tướng Chính phủ, Quyết định số 249-TTg ngày 29.4.1995 về việc thành lập Tổng Công ty Bưu chính-Viễn thông Việt Nam.&lt;br /&gt;
# Chính phủ, Nghị định của Chính phủ số 51/CP ngày 01.08.1995 phê chuẩn Điều lệ tổ chức và hoạt động của Tổng công ty Bưu chính Viễn thông Việt Nam.&lt;br /&gt;
# Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Hội nghị lần thứ Năm Ban Chấp hành Trung ương khóa VIII, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1998.&lt;br /&gt;
# Hội đồng Quản trị VNPT, Quyết định số 04/2000/QĐ-BC ngày 06.01.2000 về việc ban hành “Quy định quản lý Điểm Bưu điện-Văn hóa xã”.&lt;br /&gt;
# Nguyễn Huyền Sơn, Một số vấn đề về cơ cấu lại các doanh nghiệp công nghiệp thuộc Tổng công ty Bưu chính Viễn thông Việt Nam, tạp chí Kinh tế và Phát triển,2004, số 79, tr.50-52&lt;br /&gt;
# Đỗ Trung Tá, Ngành Bưu điện Việt Nam: 60 năm chiến đấu, xây dựng và trưởng thành, tạp chí Cộng sản,2005, số 17, tr.69-73.&lt;br /&gt;
# Quốc Trường, Tổng Công ty Bưu chính Viễn thông Việt Nam 10 năm lớn mạnh cùng đất nước, tạp chí Kinh tế và Dự báo,2005, số 12, tr.113-115.&lt;br /&gt;
# Thủ tướng Chính phủ, Quyết định của Thủ tướng Chính phủ số 236/2005/QĐ-TTg ngày 26.9.2005 về việc phê duyệt quy hoạch phát triển Bưu chính Việt Nam đến năm 2010.&lt;br /&gt;
# Hà Mỹ Hạnh, Ngành Bưu điện Việt Nam thực hiện “Kế hoạch tăng tốc” (1993-2000) kết quả và kinh nghiệm, tạp chí Lịch sử Đảng,2014, số 11 (288), tr.88-93.&lt;br /&gt;
# Nguyễn Xuân Thu, Điểm Bưu điện Văn hóa xã, Nxb. Thông tin và Truyền thông, Hà Nội, 2014.&lt;/div&gt;</summary>
		<author><name>Deepmind2</name></author>
	</entry>
	<entry>
		<id>https://bktt.vn/index.php?title=T%E1%BB%95_qu%E1%BB%91c&amp;diff=22458</id>
		<title>Tổ quốc</title>
		<link rel="alternate" type="text/html" href="https://bktt.vn/index.php?title=T%E1%BB%95_qu%E1%BB%91c&amp;diff=22458"/>
		<updated>2023-01-11T11:22:58Z</updated>

		<summary type="html">&lt;p&gt;Deepmind2: Tạo trang mới với nội dung “&amp;lt;indicator name=&amp;quot;mới&amp;quot;&amp;gt;File:UnderCon icon.svg|40px|link={{TALKPAGENAME}}#Bình duyệt|alt=Mục từ này cần được bình duyệt|Mục từ này…”&lt;/p&gt;
&lt;hr /&gt;
&lt;div&gt;&amp;lt;indicator name=&amp;quot;mới&amp;quot;&amp;gt;[[File:UnderCon icon.svg|40px|link={{TALKPAGENAME}}#Bình duyệt|alt=Mục từ này cần được bình duyệt|Mục từ này cần được bình duyệt]]&amp;lt;/indicator&amp;gt;&lt;br /&gt;
'''Tổ quốc''' báo điện tử, cơ quan của Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch, được thành lập ngày 01.9.2006 theo Quyết định số 4049/QĐ-BVHTT của Bộ trưởng Bộ Văn hóa - Thông tin (nay là Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch kế thừa), một trong mười tờ báo điện tử đầu tiên của Việt Nam được cấp phép hoạt động báo chí trên môi trường mạng Internet. Tiền thân của báo điện tử Tổ quốc (TQ) là trang tin điện tử Tổ quốc của Bộ Văn hóa - Thông tin. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Theo quyết định số 4801/QĐ-BVHTTDL của Bộ trưởng Bộ VH, TT và DL, báo báo Tri thức trẻ được sáp nhập vào TQ. Hiện nay TQ có báo điện tử ở tên miền ''http://toquoc.vn; toquoc.gov.vn; phiên bản TQ tiếng Anh: http://nationaltimes.vn; các chuyên trang: Tri thức trẻ -http://ttvn.toquoc.vn; chuyên trang truyền hình - http://toquoctv.vn; Văn học Quê nhà - http://vanhocquenha.vn; Nhịp sống Kinh tế -  http://nhipsongkinhte.toquoc.vn; Nhịp sống Việt - http://nhipsongviet.toquoc.vn... ''&lt;br /&gt;
Bộ máy tổ chức của TQ gồm có Tổng biên tập, 1 phó Tổng biên tập, Phòng Thư ký tòa soạn, Phòng Trị sự, hai ban đại diện tại miền Trung, miền Nam và ba ban nội dung: Chính trị - Kinh tế - Quốc tế; Văn hóa – Văn nghệ; Khoa giáo - Chuyên đề và Bạn đọc.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Trụ sở tòa soạn TQ tại số 20 ngõ 2, Hoa Lư, q. Hai Bà Trưng, tp. Hà Nội; Văn phòng Thành phố Hồ Chí Minh tại số 170 Nguyễn Đình Chiểu, ph. 6, q. 3, Thành phố Hồ Chí Minh; Văn phòng Miền Trung tại số 58, Phan Chu Trinh, q. Hải Châu, tp. Đà Nẵng.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
TQ do Trung tâm Công nghệ thông tin của Bộ VH,TT&amp;amp;DL quản lý, có chức năng tuyên truyền giới thiệu những thành tựu trong các lĩnh vực: chính trị, kinh tế, xã hội, đặc biệt là lĩnh vực văn hóa, thể thao và du lịch; giới thiệu các văn bản pháp lý, các chính sách liên quan đến người Việt Nam ở nước ngoài, các nhà đầu tư nước ngoài và người nước ngoài quan tâm đến Việt Nam; các chính sách đối ngoại của Việt Nam trong quá trình hội nhập quốc tế.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
TQ có xu hướng phát triển thành một tổ hợp truyền thông đa phương tiện, đa dạng hóa thông tin theo các lĩnh vực đời sống trong nước và thế giới, duy trì đồng thời các chuyên trang với các loại hình phương tiện truyền thông số hóa trên môi trường mạng Internet. Định hướng giá trị thông tin của TQ là: nhanh, minh bạch và đúng sự thật, thể hiện đầy đủ trách nhiệm trước xã hội, trước bạn đọc, góp phần nâng cao dân trí, bình ổn đời sống tinh thần, lành mạnh thành dòng thông tin chủ lưu trong đời sống xã hội. TQ cũng tổ chức các chương trình biểu diễn nghệ thuật, các hoạt động xã hội, tọa đàm, giao lưu trực tuyến nhằm mục đích quảng bá cho tờ báo, thu hút công chúng. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Từ năm 2006 - 2015, nhà báo Mai Linh là Tổng biên tậpTQ. Tổng biên tập các giai đoạn tiếp theo là: Nhà báo Nguyễn Thanh Liêm từ 2016 - 2020, nhà báo Nguyễn Thị Hoàng Lan 02.2021 đến nay. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
TQ đã được tặng thưởng nhiều bằng khen của Bộ VH,TT&amp;amp;DL, Bộ Công an, Bộ Y tế, Ủy ban nhân dân tp. Hà Nội và nhiều phần thưởng khác&lt;br /&gt;
=='''Tài liệu tham khảo'''==&lt;br /&gt;
# Di sản văn hóa, bảo tàng, và như̋ng cuộc đối thoại, Nxb Thế giới, HN, 2007.&lt;br /&gt;
# Niên giám thông tin khoa học xã hội, Volume 3, Nxb Khoa học xã hội, HN, 2008.&lt;br /&gt;
# http://tuyengiao.vn/nghien-cuu/nghiep-vu-cong-tac-tuyen-giao/ra-mat-giao-dien-moi-bao-dien-tu-to-quoc-91366.&lt;/div&gt;</summary>
		<author><name>Deepmind2</name></author>
	</entry>
	<entry>
		<id>https://bktt.vn/index.php?title=T%E1%BB%95_ch%E1%BB%A9c_qu%E1%BB%91c_t%E1%BA%BF_c%C3%A1c_nh%C3%A0_b%C3%A1o&amp;diff=22457</id>
		<title>Tổ chức quốc tế các nhà báo</title>
		<link rel="alternate" type="text/html" href="https://bktt.vn/index.php?title=T%E1%BB%95_ch%E1%BB%A9c_qu%E1%BB%91c_t%E1%BA%BF_c%C3%A1c_nh%C3%A0_b%C3%A1o&amp;diff=22457"/>
		<updated>2023-01-11T11:17:39Z</updated>

		<summary type="html">&lt;p&gt;Deepmind2: Tạo trang mới với nội dung “&amp;lt;indicator name=&amp;quot;mới&amp;quot;&amp;gt;File:UnderCon icon.svg|40px|link={{TALKPAGENAME}}#Bình duyệt|alt=Mục từ này cần được bình duyệt|Mục từ này…”&lt;/p&gt;
&lt;hr /&gt;
&lt;div&gt;&amp;lt;indicator name=&amp;quot;mới&amp;quot;&amp;gt;[[File:UnderCon icon.svg|40px|link={{TALKPAGENAME}}#Bình duyệt|alt=Mục từ này cần được bình duyệt|Mục từ này cần được bình duyệt]]&amp;lt;/indicator&amp;gt;&lt;br /&gt;
'''Tổ chức quốc tế các nhà báo''' (A. International Organisation of Journalists - IOJ; F. Organisation Internationale des Journalistes - OIJ)&lt;br /&gt;
một tổ chức công đoàn của các nhà báo nhằm đại diện và hỗ trợ các tổ chức thành viên trong việc bồi dưỡng nghề nghiệp và các vấn đề chuyên môn.&lt;br /&gt;
IOJ được bắt đầu hình thành với việc soạn thảo các quy tắc vào tháng 6 năm 1946 tại Copenhagen (Đan Mạch), trên cơ sở hợp nhất hai tổ chức: Liên đoàn nhà báo quốc tế (IFJ), được thành lập 1926, tại Paris (Pháp), và Liên đoàn nhà báo quốc tế của các nước Đồng minh và Tự do (IFJOAFC), được thành lập năm 1941 tại Luân Đôn (Anh). &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Các mục tiêu cụ thể của IOJ là bảo vệ và củng cố các quyền và tự do của nhà báo; tôn trọng và bảo vệ quyền tự do thông tin, tự do truyền thông và độc lập của báo chí; duy trì và nâng cao tính chuyên nghiệp và thúc đẩy các tiêu chuẩn cao của báo chí và giáo dục báo chí; cải thiện và bảo vệ các điều kiện xã hội và làm việc của tất cả các nhà báo, đồng thời khuyến khích và hỗ trợ các thành viên trong thương lượng tập thể; và thúc đẩy sự hợp tác giữa các thành viên và hỗ trợ sự phát triển của công đoàn, thông qua việc tổ chức các nhóm trong châu lục và khu vực.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
IOJ ra đời đã trở thành một tổ chức đại diện rộng rãi của các nhà báo trên thế giới. Đầu tiên, IOJ có 21 nước tham gia, trong đó có các nước ở châu Âu, Liên Xô,  Mỹ, và Australia. IOJ đã nhanh chóng phát triểnlớn mạnh, có thời điểm lên đến hơn 130 nước thuộc năm châu lục, tập hợp 300.000 người làm báo thuộc đủ mọi loại hình. Tuy nhiên, đến năm 1950, IOJ đã bị chia rẽ nghiêm trọng bởi cuộc Chiến tranh Lạnh xảy ra giữa hai khối nước theo Chủ nghĩa Cộng sản và Chủ nghĩa tư bản. Đến năm 1952, các tổ chức báo chí ở các nước Tây Âu và Mỹ đã tách khỏi OIJ, và tái thành lập tổ chức IFJ (International Federation of Journalists) cho riêng họ, đặt trụ sở tại Bruxelles, thủ đô Bỉ. Các tổ chức báo chí của các nước, phần lớn khu vực Đông Âu và các nước đang phát triển, ở lại vẫn giữ tên IOJ (tức OIJ theo tiếng Pháp). Cũng kể từ đó, IOJ chuyển trụ sở về Prague, thủ đô Tiệp Khắc. Tuy nhiên, các năm sau đó hai tổ chức quốc tế OIJ và IFJ vẫn cố gắng hợp tác trong một số hoạt động,trong đó phải kể đến việc xây dựng bản Quy ước “Những nguyên tắc cơ bản của đạo đức nghề báo”  dưới sự bảo trợ của UNESCO. Bản quy ước đạo đức nghề nghiệp này là khung cho các tổ chức và cơ quan báo chí của các nước trên thế giới xây dựng bản quy tắc đạo đức nghề nghiệp của mình.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Khi hệ thống xã hội chủ nghĩa theo mô hình Liên Xô và các nước Đông Âu lâm vào suy thoái, đặc biệt sau sự kiện “sự sụp đổ của bức tường Berlin” tháng 11 năm 1989, IOJ đã rơi vào khó khăn, chủ yếu do bất đồng về quan điểm chính trị tại một số quốc gia và thiếu kinh phí hoạt động vì nhiều tổ chức quốc gia ngừng đóng lệ phí cho IOJ. Năm 1995, IOJ vẫn tổ chức Đại hội tại Amman, thủ đô Jordan, và đây là đại hội cuối cùng trong lịch sử của IOJ. Tại Đại hội này, đại biểu của Hội Nhà báo Việt Nam đã được bầu là Phó chủ tịch phụ trách khu vực Châu Á và Châu Úc. Hoạt động cuối cùng của IOJ đó là cuộc họp Ban Chấp hành IOJ mở rộng, cũng là dịp kỷ niệm 50 năm ngày thành lập Tổ chức với sự tham gia của 25 quốc gia đã được tổ chức vào tháng 7 năm 1996 tại Hà Nội. Kế hoạch Hành động 1995-1997 của IOJ được đặt ra tại Amman đã không được hoàn thành. IOJ đã đặt dấu chấm sau 50 năm hình thành và phát triển qua các biến cố của lịch sử: cuộc chiến tranh Thế giới lần thứ Hai, Chiến tranh Lạnh giữa hai khối nước “Đông Âu” và “Tây Âu” đứng đầu là Liên xô và Mỹ, và sự tan rã của hệ thống các nước Đông Âu và Liên xô cũ.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Hội Nhà báo Việt Nam là thành viên của IOJ từ rất sớm. Ngay sau khi Hội Nhà báo Việt Nam ra đời ngày 21 tháng 4 năm 1950, đoàn đại biểu Hội Nhà báo Việt Nam gồm nhà báo Trần Lâm, Giám đốc Đài phát thanh Tiếng nói Việt Nam, và nhà báo Thép Mới, biên tập viên tuần báo Sự thật (tiền thân của báo Nhân Dân ngày nay) đã sang thủ đô Helsinki, Phần Lan dự Đại hội lần thứ 3 của IOJ (15-17.9.1950). Tại Đại hội này, Hội Nhà báo Việt Nam đã được kết nạp là thành viên của IOJ. Trong suốt những năm Chiến tranh chống Mỹ và khi Việt Nam hoàn toàn thống nhất, IOJ kiên trì ủng hộ cuộc đấu tranh của nhân dân Việt Nam. IOJ giúp Hội nhà báo Việt Nam đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ ngắn ngày cho các nhà báo tại  các Trường nghiệp vụ của IOJ như Viện báo chí Berlin, Trường Báo chí IOJ ở Budapest, Trường báo chí IOJ tại Prague. Hội nhà báo Việt Nam tham dự hầu như tất cả các Đại hội của IOJ, từ Đại hội Helsinki năm 1950 cho đến Đại hội cuối cùng họp tại Amman năm 1995, đã nhiệt tình đóng góp vào các hoạt động của OIJ tại Việt Nam và các nước trong khu vực.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Sự tồn tại của IOJ trong vòng nửa thế kỷ có vai trò thúc đẩy và duy trì dân chủ trong báo chí, nâng cao vai trò xã hội của nhà báo và nghề báo. Với sự hiện diện rộng rãi của hơn 120 tổ chức báo chí quốc gia, IOJ đã góp phần quan trọng cho cuộc đấu tranh cho dân chủ, như quyền tự do ngôn luận cho các nhóm thiểu số, tăng cường truyền thông công cộng, và đảm bảo quyền lợi cho các nhà báo nói chung. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
=='''Tài liệu tham khảo'''==&lt;br /&gt;
# Kaarle Nordenstreng, 2017, Useful Recollections Part III: The Rise and Fall of the International Organization of Journalists Based in Czechoslovakia (1946–2016), Karolinum Charles University Prague. &lt;br /&gt;
# Liên đoàn các Hiệp hội Quốc tế (Union of International Associations), https://uia.org/s/or/en/1100013492&lt;br /&gt;
# Phan Quang, (Nguyên Chủ tịch Hội Nhà báo Việt Nam, Nguyên Tổng Giám đốc Đài TNVN), 2017,“OIJ chấm dứt hoạt động, sự nghiệp OIJ trường tồn”, https://vov.vn/chinh-tri/oij-cham-dut-hoat-dong-su-nghiep-oij-truong-ton-615654.vov&lt;/div&gt;</summary>
		<author><name>Deepmind2</name></author>
	</entry>
	<entry>
		<id>https://bktt.vn/index.php?title=Th%C6%B0_vi%E1%BB%87n_Vi%E1%BB%87n_v%C4%83n_h%E1%BB%8Dc&amp;diff=22456</id>
		<title>Thư viện Viện văn học</title>
		<link rel="alternate" type="text/html" href="https://bktt.vn/index.php?title=Th%C6%B0_vi%E1%BB%87n_Vi%E1%BB%87n_v%C4%83n_h%E1%BB%8Dc&amp;diff=22456"/>
		<updated>2023-01-11T11:13:30Z</updated>

		<summary type="html">&lt;p&gt;Deepmind2: Tạo trang mới với nội dung “&amp;lt;indicator name=&amp;quot;mới&amp;quot;&amp;gt;File:UnderCon icon.svg|40px|link={{TALKPAGENAME}}#Bình duyệt|alt=Mục từ này cần được bình duyệt|Mục từ này…”&lt;/p&gt;
&lt;hr /&gt;
&lt;div&gt;&amp;lt;indicator name=&amp;quot;mới&amp;quot;&amp;gt;[[File:UnderCon icon.svg|40px|link={{TALKPAGENAME}}#Bình duyệt|alt=Mục từ này cần được bình duyệt|Mục từ này cần được bình duyệt]]&amp;lt;/indicator&amp;gt;&lt;br /&gt;
'''Thư viện Viện văn học''' thư viện chuyên ngành, đầu ngành trong cả nước lưu trữ tài liệu về văn học, thuộc Viện Văn học, Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam (VHLKHXHVN), phục vụ cán bộ nghiên cứu, giảng dạy, học viên của Viện Văn học và những người dùng tin khác quan tâm, nghiên cứu về văn học, trụ sở tại 20 Lý Thái Tổ, quận Hoàn Kiếm, Hà Nội.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Đây là một trong những thư viện có lịch sử lâu đời nhất so với các thư viện thuộc VHLKHXHVN, ra đời cùng với sự thành lập của Viện Văn học năm 1960 (theo Quyết định số 038-TTg ngày 6.02.1960 của Thủ tướng Chính phủ). Thư viện có chức năng sưu tầm, lưu giữ, xử lý, cung cấp và bảo quản các tư liệu văn học, kết quả nghiên cứu và phê bình văn học, phục vụ các đối tượng dùng tin trong và ngoài Viện. Thư viện có nhiệm vụ: tổ chức, xử lý, sắp xếp, lưu trữ, bảo quản tài liệu, xây dựng hệ thống tra cứu phù hợp, thiết lập mạng lưới thông tin tự động hóa, xây dựng các cơ sở dữ liệu (CSDL), xây dựng các sản phẩm thông tin…; phục vụ, hướng dẫn người dùng tin khai thác, sử dụng hiệu quả tài liệu trong thư viện và các sản phẩm dịch vụ thông tin thư viện; nghiên cứu, ứng dụng thành tựu khoa học công nghệ tiên tiến và công nghệ thông tin vào công tác thư viện; bảo quản, kiểm kê định kỳ vốn tài liệu, cơ sở vật chất, thanh lọc các tài liệu hư nát, lạc hậu theo quy định; khai thác, bổ sung, quản lý và phát triển nguồn lực thông tin dưới nhiều hình thức: mua, thu nhận tài liệu nội sinh của Viện, trao đổi, chia sẻ nguồn lực thông tin,…; quản lý, vận hành trang thiết bị của Thư viện; mở rộng hợp tác, giao lưu liên kết với các thư viện trong và ngoài nước về lĩnh vực khoa học thư viện; tham mưu cho Lãnh đạo Viện tổ chức, quản lý và triển khai các hoạt động thông tin - thư viện phục vụ đào tạo, nghiên cứu khoa học của Viện; thực hiện các nhiệm vụ khác do Viện trưởng phân công.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Từ vốn sách ít ỏi ban đầu, trong đó có sách xuất bản trước cách mạng (1930-1945) và trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp, đến tháng 11.2020, TVVVH đã xây dựng được kho sách lớn, chủ yếu là sách văn học và một số khoa học liên quan như văn hóa, lịch sử, triết học,…, tổng cộng hơn 68.000 bản, trong đó, sách nghiên cứu và sáng tác có khoảng 66.800 bản, hằng năm được bổ sung khoảng 600 bản; từ điển có khoảng 1.200 bản, hằng năm được bổ sung khoảng 50 bản. Tính theo ngôn ngữ, sách tiếng Việt có 36.569 cuốn; sách tiếng Nga có 10.878 cuốn; sách tiếng Trung có 3.030 cuốn; sách Hán Nôm có 1.556 cuốn; sách tiếng Anh, Pháp có 6.377 cuốn; sách các ngôn ngữ khác (Đức, Tiệp, Ý, Nhật,…) có 3.590 cuốn. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Về báo, tạp chí, TVVVH có 431 nhan đề tiếng Việt, 32 nhan đề tiếng Trung, 48 nhan đề tiếng Nga, 92 nhan đề tiếng Anh, Pháp,… với tổng số khoảng 7.000 bản, trong đó có nhiều loại báo, tạp chí quý và cổ như Nam Phong, Tri tân (bộ Tạp chí Tri tân ở TVVVH là một trong những bộ đầy đủ nhất so với các Thư viện khác), An Nam tạp chí, Đông Dương tạp chí, Phụ nữ Tân văn, Trung bắc tân văn, Hữu Thanh, Ích hữu,… và rất nhiều tài liệu dịch chưa công bố.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Ngoài ra, TVVVH còn lưu trữ các báo cáo kỷ yếu hội thảo, đề tài nghiên cứu các cấp, luận văn, luận án,… Đặc biệt, Thư viện có nhiều tài liệu quý, hiếm, độc bản, bản thảo viết tay,… &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Kho sách Hán Nôm của TVVVH với hơn 1.000 cuốn có giá trị quan trọng về mặt lịch sử, là nguồn thư tịch cổ đặc biệt quý hiếm. Trong số đó có nhiều tài liệu là bản gốc, được viết tay hoặc khắc in dưới thời Nguyễn như các bộ: Thương Sơn ngoại tập của Miên Thẩm (20 quyển - 10 tập), Ngự chế Việt sử tổng vịnh của vua Tự Đức, Thảo Đường thi nguyên tập và các sách liên quan đến tác giả Phạm Quý Thích (bộ sách này còn ở tình trạng nguyên vẹn, lưu giữ rất nhiều giá trị tư liệu về các tác gia văn học trung đại Việt Nam thế kỷ XVIII), Đại Nam quốc sử diễn ca (khắc in năm Tự Đức thứ 34), Uyên giám loại hàm (54 cuốn), Uyên giám loại hàm lược biên; Trích cẩm vựng biên (khắc in dưới triều vua Minh Mệnh); Tứ thư tiết yếu, Ngũ kinh tiết yếu, Tính lư tiết yếu (21 quyển, khắc in dưới các triều Thiệu Trị và Tự Đức, thuộc vào loại có niên đại sớm của nhóm văn bản này), Thạch Nông thi văn tập của Nguyễn Tư Giản (11 quyển),v.v. và rất nhiều sách Phật giáo được khắc in qua các triều đại,…&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Tính đến cuối năm 2020, TVVVH đã sưu tầm và dịch trên 3.100 nhan đề tài liệu Hán Nôm, Anh, Pháp, Nga, như: Tùy viện thi thoại, Chủ nghĩa hiện thực vô bờ bến, Mỹ học của Hêghen; Phương pháp hiện thực và cá tính sáng tạo củaKhrapchencô; Hiện thực thứ hai của nghệ thuật và thuyết thần thoại trong mỹ học hiện đại,…&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
TVVVH đã và đang triển khai xây dựng mục lục điện tử toàn bộ kho sách tiếng Việt và một số sách tiếng như Latinh, Anh, Pháp,… Tính đến cuối tháng 11.2020, Thư viện đã xây dựng được CSDL sách tiếng Việt gồm 24.762 biểu ghi; CSDL sách tiếng Anh, Pháp, Latinh gồm 4.965 biểu ghi; CSDL bài trích Tạp chí Văn học gồm 7.277 biểu ghi; ngoài ra, Thư viện còn xây dựng CSDL luận án, luận văn, tài liệu dịch, tư liệu điền dã,…&lt;br /&gt;
 &lt;br /&gt;
Tính đến ngày 30.11.2020, TVVVH đã đóng góp 45.411 biểu ghi thư mục vào mục lục tra cứu trực tuyến (OPAC) và đóng góp tài liệu số vào thư viện số của VHLKHXHVN do Thư viện Viện Thông tin khoa học xã hội quản lý, có địa chỉ https://opac.issi.vass.gov.vn/ và https://thuvienkhxh-vass.contentdm.oclc.org/.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
TVVVH cung cấp nhiều sản phẩm và dịch vụ thông tin như: thông tin theo yêu cầu; các chuyên đề tổng hợp, phân tích theo yêu cầu; tổng thuật, tóm tắt tài liệu; tư vấn, tra cứu thông tin trên CSDL điện tử; các dạng thư mục theo chủ đề; bản sao tài liệu gốc;…&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
TVVVH luôn chú trọng mở rộng quan hệ hợp tác, trao đổi, chia sẻ tài liệu với các thư viện trong, ngoài nước như: Thư viện Viện Viễn Đông Bác Cổ, Thư viện Viện Thông tin Khoa học xã hội, Thư viện Viện Sử học,… và nhiều tổ chức, cá nhân nước ngoài ở Anh, Pháp, Mỹ, Nhật, Hàn Quốc,…&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
=='''Tài liệu tham khảo'''==&lt;br /&gt;
# Lê Thu Thủy, Thư viện Viện Văn học: hôm qua và hôm nay, tạp chí Văn học, 2003, số 11, tr.82-88.&lt;br /&gt;
# Nguyễn Thị Tường Anh, Thư viện Viện Văn học: 45 năm nhìn lại, tạp chí Thư viện Việt Nam,2005, số 1, tr.27-31.&lt;br /&gt;
# Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam, Quyết định số 248/QĐ-KHXH ngày 27.02.2013 của Chủ tịch Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam quy định nhiệm vụ và quyền hạn của Viện Văn học.&lt;br /&gt;
# Nguyễn Đăng Điệp, Viện Văn học: 60 năm xây dựng, phát triển và đổi mới cùng văn học dân tộc”, tạp chí Nghiên cứu văn học,2013, số 11, tr.5-12.&lt;br /&gt;
# Viện Văn học, Viện Văn học - 65 năm xây dựng, phát triển và đổi mới, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, 2018.&lt;/div&gt;</summary>
		<author><name>Deepmind2</name></author>
	</entry>
	<entry>
		<id>https://bktt.vn/index.php?title=Th%C6%B0_vi%E1%BB%87n_Vi%E1%BB%87n_th%C3%B4ng_tin_khoa_h%E1%BB%8Dc_x%C3%A3_h%E1%BB%99i&amp;diff=22455</id>
		<title>Thư viện Viện thông tin khoa học xã hội</title>
		<link rel="alternate" type="text/html" href="https://bktt.vn/index.php?title=Th%C6%B0_vi%E1%BB%87n_Vi%E1%BB%87n_th%C3%B4ng_tin_khoa_h%E1%BB%8Dc_x%C3%A3_h%E1%BB%99i&amp;diff=22455"/>
		<updated>2023-01-11T11:06:49Z</updated>

		<summary type="html">&lt;p&gt;Deepmind2: Tạo trang mới với nội dung “&amp;lt;indicator name=&amp;quot;mới&amp;quot;&amp;gt;File:UnderCon icon.svg|40px|link={{TALKPAGENAME}}#Bình duyệt|alt=Mục từ này cần được bình duyệt|Mục từ này…”&lt;/p&gt;
&lt;hr /&gt;
&lt;div&gt;&amp;lt;indicator name=&amp;quot;mới&amp;quot;&amp;gt;[[File:UnderCon icon.svg|40px|link={{TALKPAGENAME}}#Bình duyệt|alt=Mục từ này cần được bình duyệt|Mục từ này cần được bình duyệt]]&amp;lt;/indicator&amp;gt;&lt;br /&gt;
'''Thư viện Viện thông tin khoa học xã hội''' (hoặc Thư viện Khoa học xã hội) thư viện quốc gia, tổng hợp, đầu ngành về khoa học xã hội (KHXH) và nhân văn; lưu giữ nguồn tư liệu về KHXH và nhân văn, về Đông phương học với số lượng lớn, phong phú, quý hiếm, bộ sưu tập các tạp chí KHXH thế giới đa dạng; phục vụ giới nghiên cứu, giảng dạy KHXH trong và ngoài nước, các nhà hoạt động xã hội, các tổ chức và cá nhân dùng tin có nhu cầu; trụ sở tại số 1B Liễu Giai, quận Ba Đình, Hà Nội và 26 Lý Thường Kiệt, quận Hoàn Kiếm, Hà Nội.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
TVVTTKHXH được thành lập năm 1968, nhưng tiền thân của Thư viện là Thư viện Học viện Viễn Đông bác cổ Pháp (EFEO) được thành lập năm 1901 (xt: Thư viện Viện Viễn Đông Bác cổ). Năm 1957, EFEO bàn giao lại gần như toàn bộ tài liệu và hiện vật của EFEO cho Việt Nam. Năm 1959, Ủy ban Khoa học nhà nước được thành lập, Thư viện Khoa học Trung ương thuộc Ủy ban Khoa học Nhà nước ra đời trên cơ sở Thư viện EFEO.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Tháng 4 năm 1968, Thư viện Khoa học Trung ương được tách ra thành Thư viện Khoa học và Kỹ thuật Trung ương thuộc Ủy ban Khoa học Kỹ thuật nhà nước và Thư viện KHXH thuộc Ủy ban KHXH Việt Nam. Trên thực tế, ngày 31.7.1967, Hội đồng Chính phủ ban hành Nghị định số 117-CP quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức bộ máy của Ủy ban KHXH Việt Nam, trong đó Thư viện KHXH là một cơ quan trực thuộc.&lt;br /&gt;
 &lt;br /&gt;
Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc  tham quan&lt;br /&gt;
Khu trưng bày tài liệu về chủ quyền Biển đảo&lt;br /&gt;
do VTTKHXH tổ chức (Ảnh tư liệu Viện Thông tin khoa shojc xã hội)&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Ngày 8 tháng 5 năm 1975, Thư viện KHXH được sáp nhập với Ban Thông tin KHXH thành Viện Thông tin KHXH trực thuộc Ủy ban KHXH Việt Nam, nay là Viện Hàn lâm KHXH Việt Nam (xt: Viện Thông tin KHXH).&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Các Quyết định của Viện Hàn lâm KHXH Việt Nam từ 2005 đến nay đều xác định rõ một trong các chức năng của Viện Thông tin KHXH là bảo tồn, khai thác và phát huy di sản truyền thống Thư viện KHXH, xây dựng và phát triển thư viện là thư viện quốc gia về KHXH. Theo đó, Thư viện có các nhiệm vụ: (1) Chủ trì nghiên cứu nhằm tạo sự thống nhất và chuẩn hóa nghiệp vụ thư viện, xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu (CSDL) về kết quả nghiên cứu KHXH, tổ chức và phát triển nguồn thông tin KHXH, quản lý thống nhất tài nguyên thông tin số của các thư viện thuộc Viện Hàn lâm KHXH Việt Nam; cập nhật sách, báo, tạp chí, phần mềm ứng dụng, các dạng thông tin số, ảnh, băng đĩa…; bảo quản, phục chế, số hóa, vi phim hóa sách, báo, tư liệu của Thư viện KHXH. (2) Bảo tồn, khai thác, xây dựng và phát triển Thư viện KHXH thành Thư viện quốc gia về KHXH. Chủ trì xây dựng và thực hiện quy hoạch định hướng phát triển, hiện đại hóa hệ thống thư viện của Viện Hàn lâm KHXH Việt Nam theo mô hình thư viện trung tâm - thư viện thành viên; ứng dụng thành tựu công nghệ thông tin (CNTT) trong hoạt động thông tin - thư viện, điều phối hoạt động tin học hóa thư viện trong toàn Viện Hàn lâm KHXH Việt Nam; làm đầu mối về chuyên môn, tư vấn và hướng dẫn nghiệp vụ, đào tạo nguồn nhân lực thông tin - thư viện. (3) Hợp tác quốc tế và trong nước; trao đổi ấn phẩm với các tổ chức, thư viện trong và ngoài nước theo quy định của pháp luật; làm đầu mối bổ sung tài liệu ngoại văn, CSDL trực tuyến cho toàn Viện Hàn lâm KHXH Việt Nam và các nhiệm vụ khác,… &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Toàn bộ vốn tài liệu của Thư viện EFEO và vốn sách, báo, tạp chí KHXH đa ngữ được bổ sung từ Liên Xô và các nước khác kể ngày thành lập Thư viện Khoa học Trung ương đều thuộc tài nguyên của Thư viện KHXH. Năm 1964, trong chiến tranh phá hoại của Mỹ, đại bộ phận kho sách của Thư viện được chuyển đi sơ tán đến các địa điểm an toàn như: tỉnh Tuyên Quang; xã Liễn Sơn, huyện Lập Thạch, Vĩnh Yên; xã Trung Kiên, huyện Yên Lạc, Phúc Yên; huyện Hiệp Hòa, Bắc Giang; huyện Chương Mỹ, Hà Tây; huyện Phúc Thọ, Hà Tây. Từ năm 1980, tài liệu từ các địa điểm sơ tán bắt đầu được chuyển về Hà Nội. Năm 1971-1972, Thư viện đã tiếp nhận kho sách tặng của các ông Nguyễn Văn Tố, Nguyễn Văn Khoan, Nguyễn Khắc Viện,… Trong những năm Mỹ đánh phá miền Bắc, Thư viện vẫn thường xuyên bổ sung sách, báo và vận chuyển từ Hà Nội đến các nơi sơ tán để xử lý, bảo quản và phục vụ bạn đọc.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Từ năm 1970-1975, Thư viện đã tổ chức kho sách đa ngữ để cung cấp cho các thư viện miền Nam với hơn 10.000 cuốn sách và hàng nghìn số tạp chí KHXH các loại. Cuối năm 1975, đầu năm 1976, toàn bộ số sách này đã được chuyển cho Thư viện KHXH trực thuộc Viện KHXH tại thành phố Hồ Chí Minh.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Năm 1971-1972, Thư viện đã xây dựng được đầy đủ các hệ thống tra cứu. Từ năm 1976, Thư viện bắt đầu nghiên cứu, mô tả thư mục theo quy tắc ISBD (M) và ISBD (S) của IFLA, từ năm 1978, sử dụng khung phân loại BBK. Từ năm 1990, Thư viện ứng dụng công nghệ thông tin trong các hoạt động.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Đầu năm 1980, toàn bộ số sách Hán Nôm (cũ, do EFEO tạo lập) và số sách Hán Nôm được bổ sung sau năm 1957 đã được chuyển cho Viện Nghiên cứu Hán Nôm quản lý.&lt;br /&gt;
Từ tháng 3.1998, Viện Thông tin KHXH được giao nhiệm vụ xây dựng CSDL SACHMOI gồm thư mục điện tử toàn bộ sách của TVVTTKHXH và các thư viện thuộc các đơn vị thành viên của Viện KHXH Việt Nam, giúp bạn đọc khai thác tin nhanh, đầy đủ, chính xác và thuận tiện. Thư viện cũng xuất bản Thư mục thông báo sách mới nhập về các viện thuộc Viện KHXH Việt Nam; từ năm 2006, Thông báo này được cập nhật lên Wesite của Viện. Đồng thời, Thư viện đã xây dựng CSDL mục lục điện tử các bài tạp chí KHXH trong toàn viện KHXH Việt Nam.&lt;br /&gt;
 &lt;br /&gt;
Khách quốc tế tham quan phòng đọc Thư viện VTTKHXH (Ảnh tư liệu Viện Thông tin KHXH)&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Từ năm 1992, Thư viện được Chính phủ quyết định là một trong bốn thư viện lớn của cả nước được đầu tư ngoại tệ lớn nhất để mua sách, báo, tạp chí, tư liệu KHXH và nhân văn nước ngoài.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Hiện nay, tài nguyên sách và báo chí ấn bản của Thư viện gồm gần 500.000 nhan đề sách các ngữ về KHXH; hơn 2.000 nhan đề báo và tạp chí tiếng Việt và tiếng nước ngoài về KHXH (số lượng tạp chí là gần 900 nhan đề), trong đó hơn 500 nhan đề báo, tạp chí được bổ sung thường xuyên; 40.827 cuốn sách tiếng Pháp, tiếng Anh và một số tiếng thuộc ngữ hệ Latinh; 42.175 cuốn sách Trung Quốc cổ; 11.223 cuốn sách tiếng Nhật Bản cổ; 3.534 cuốn sách Hán Nôm; hơn 160 tập thần tích, thần sắc của khoảng 9.000 làng Việt; 1.225 văn bản hương ước được viết bằng chữ Hán, chữ Nôm, trong đó có 50 văn bản được soạn vào thế kỷ XVIII-XIX; 9.427 tấm bản đồ và 122 tập Atlas về các nước Đông Dương, trong đó quý nhất là bản đồ Hà Nội năm 1831 và năm 1873, bản đồ Sài Gòn năm 1902; 58.003 ảnh về các di tích lịch sử, sinh hoạt văn hóa, kiến trúc, khảo cổ…; 25.750 phim nhựa tấm và phim kính; 3.107 tấm phim đèn chiếu; 5.766 microfilm; hơn 400 bản sắc phong của Triều Nguyễn và các triều đại phong kiến thời trước, bản cổ nhất vào thế kỷ XVI. Bản độc đáo nhất của Thư viện có dấu “Ngự” của Triều Thanh Trung Quốc (thế kỷ XVIII). Một phần bộ Vĩnh lạc đại từ điển và một phần bộ Tứ khố toàn thư là những sách có giá trị đặc biệt mà ngay tại Trung Quốc cũng không có đủ.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Tài nguyên thông tin của TVVTTKHXH được xây dựng và phát triển theo kiểu khoa học kinh điển và hàn lâm, có những tư liệu có một không hai, được tổ chức thành hai hệ thống kho. Một là, các kho do EFEO để lại gồm có: (1) Kho Tranh cổ (xt: Kho Tranh cổ); (2) Kho Bản đồ (xt: Kho Bản đồ); (3) Kho Hương ước (xt: Kho Hương ước); Kho Sách Hán Nôm (xt: Kho sách Hán Nôm); (5) Kho Sách tiếng Nhật (xt: Kho sách Nhật Bản); (6) Kho Sách Trung Quốc cổ (xt: Kho sách Trung Quốc cổ); (7) Kho Sắc phong (xt: Kho Sắc phong); (8) Kho tài liệu Latinh cũ, (xt: Kho tài liệu La tinh cũ); (9) Kho Thần tích-thần sắc (xt: Kho Thần tích, thần sắc); (10) Kho Ảnh (xt: Kho Ảnh); (11) Kho Phim; (12) Kho Đĩa hát. Hai là, các kho được hình thành từ khi thành lập Thư viện Khoa học Trung ương (06.02.1960 đến nay) gồm: Kho Sách tiếng Nga; Kho Latinh mới; Kho Sách Trung Quốc hiện đại; Kho sách Việt; Kho Báo, Tạp chí; Kho Tạp chí tiếng Nga; Kho Tạp chí tiếng Việt; Các kho đặc thù (Các kho sách cá nhân, Các kho sách chuyên biệt, Kho Tư liệu Mỹ); Kho tài liệu dịch (tài liệu nội sinh);…&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Năm 2012, Thư viện tiếp nhận thêm trụ sở mới tại 1B Liễu Giai, Ba Đình, Hà Nội với cơ sở hạ tầng công nghệ thông tin thư viện điện tử, thư viện số hiện đại. Từ năm 2013, Thư viện ứng dụng phần mềm quản trị thư viện điện tử tích hợp, năm 2017, phần mềm này được nâng cấp, đồng thời ứng dụng phần mềm thư viện số hiện đại. Đó những phần mềm thư viện điện tử, thư viện số hàng đầu hiện nay trên thế giới. Kể từ đây, Thư viện dần dần áp dụng mô hình quản trị thư viện điện tử, thư viện số thư viện theo mô hình trung tâm - thành viên cho toàn hệ thống Thư viện Viện Hàn lâm KHXH (xt: Hệ thống thư viện Viện Hàn lâm KHXH Việt Nam). Với những phần mềm này, Thư viện có thể kết nối mạng lưới thư viện toàn cầu, download dữ liệu và thụ hưởng các tài nguyên có sẵn ở các thư viện lớn trong nước và trên thế giới; nâng cao chất lượng phục vụ người dùng tin. Tính đến ngày 01 tháng 12 năm 2020, số biểu ghi được tích hợp trong OPAC của cả hệ thống là 1.317.185 và thư viện số có hơn 5.000.000 trang số hóa (xt: Hệ thống thư viện Viện Hàn lâm KHXH Việt Nam). Trong đó, riêng Thư viện có CSDL thư mục trên 600.000 biểu ghi; trên 700.000 trang số hóa thuộc các bộ sưu tập số sau: Hình ảnh; Hương ước làng xã; Bảng kê thần tích thần sắc Hán Nôm; Tư liệu EFEO; Sách Nhật Bản cổ.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Thư viện có quan hệ chính thức với hơn 80 trung tâm thông tin và thư viện lớn của hơn 40 nước trên thế giới. Từ năm 1979, Viện Thông tin KHXH, trong đó có thư viện là cơ quan đại diện quốc gia là thành viên trong Hệ thống Thông tin KHXH quốc tế (MISON), Chương trình hợp tác phát triển của Viện với Viện Thông tin KHXH (INION) Liên Xô cùng các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu, tạo cơ hội và điều kiện để Thư viện tiếp nhận và chuyển giao thông tin về KHXH. Từ năm 1979, Viện trở thành thành viên của APINESS (Mạng Thông tin KHXH châu Á-Thái Bình Dương). Năm 2002, Viện là thành viên của Hiệp hội thư viện quốc tế IFLA.&lt;br /&gt;
Kế thừa và phát huy di sản EFEO để lại, Thư viện đã không ngừng phát triển vốn tài liệu, xây dựng các sản phẩm và dịch vụ thông tin hiện đại, tiên tiến.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
=='''Tài liệu tham khảo'''==&lt;br /&gt;
# Quyết định số 040-TTg ngày 6.2.1960 do Thủ tướng Phạm Văn Đồng ký về việc thành lập Thư viện Khoa học Trung ương thuộc Ủy ban Khoa học Nhà nước (Công báo số 6.1960, tr.89).&lt;br /&gt;
# Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Quyết định số 165-NQ/TVQH ngày 11.10.1965.&lt;br /&gt;
# Hội đồng Chính phủ, Quyết định số 93/CP ngày 8.5.1975 về việc thành lập Viện Thông tin khoa học xã hội (do Thủ tướng Phạm Văn Đồng ký).&lt;br /&gt;
# Viện Khoa học xã hội Việt Nam, Quyết định số 352/QĐ-KHXH ngày 25.4.2005 của Chủ tịch Viện Khoa học xã hội Việt Nam về cơ cấu tổ chức của Viện Thông tin khoa học xã hội.&lt;br /&gt;
# Hồ Sĩ Quý, Về một thư viện khoa học xã hội tầm cỡ khu vực, Thông tin khoa học xã hội,2010, số 1 (325), tr.10-14.&lt;br /&gt;
# GS.TS. Hồ Sĩ Quý, PGS.TS. Vương Toàn (Chủ biên), Thư viện Khoa học xã hội, Nxb. Khoa học xã hội, 2011.&lt;br /&gt;
# Lê Thị Lan, Đổi mới công tác thông tin-thư viện tại Viện Thông tin khoa học xã hội từ năm 2011 đến nay, Thông tin khoa học xã hội, 2014, số 8, tr.3-13.&lt;br /&gt;
# Nguyễn Thị Thúy Bình, Công tác bổ sung tài liệu tại Thư viện Khoa học xã hội, Thông tin khoa học xã hội, 2015, số 4, tr.62-67.&lt;br /&gt;
# Phùng Thị Bình, Số hóa tài liệu trong xu thế phát triển thư viện số tại Thư viện Khoa học xã hội, Thông tin khoa học xã hội, 2015, số 4, tr.77-83.&lt;br /&gt;
# Nguyễn Thị Thúy Nga, Nguồn lực thông tin và việc xây dựng mô hình quản lý thư viện trung tâm-thành viên tại Viện Hàn lâm khoa học xã hội Việt Nam, trong GS.TS. Hồ Sĩ Quý, ThS. Nguyễn Thị Thanh Hải (Chủ biên), Niên giám Thông tin khoa học xã hội, 2018, tập 13, Nxb. Khoa học xã hội.&lt;/div&gt;</summary>
		<author><name>Deepmind2</name></author>
	</entry>
	<entry>
		<id>https://bktt.vn/index.php?title=Th%C6%B0_vi%E1%BB%87n_Vi%E1%BB%87n_s%E1%BB%AD_h%E1%BB%8Dc&amp;diff=22454</id>
		<title>Thư viện Viện sử học</title>
		<link rel="alternate" type="text/html" href="https://bktt.vn/index.php?title=Th%C6%B0_vi%E1%BB%87n_Vi%E1%BB%87n_s%E1%BB%AD_h%E1%BB%8Dc&amp;diff=22454"/>
		<updated>2023-01-11T11:02:55Z</updated>

		<summary type="html">&lt;p&gt;Deepmind2: Tạo trang mới với nội dung “&amp;lt;indicator name=&amp;quot;mới&amp;quot;&amp;gt;File:UnderCon icon.svg|40px|link={{TALKPAGENAME}}#Bình duyệt|alt=Mục từ này cần được bình duyệt|Mục từ này…”&lt;/p&gt;
&lt;hr /&gt;
&lt;div&gt;&amp;lt;indicator name=&amp;quot;mới&amp;quot;&amp;gt;[[File:UnderCon icon.svg|40px|link={{TALKPAGENAME}}#Bình duyệt|alt=Mục từ này cần được bình duyệt|Mục từ này cần được bình duyệt]]&amp;lt;/indicator&amp;gt;&lt;br /&gt;
'''Thư viện Viện sử học''' thư viện chuyên ngành thuộc Viện Sử học, Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam (VHLKHXHVN), phục vụ cán bộ nghiên cứu, giảng dạy của Viện Sử học và người dùng tin khác trong, ngoài nước quan tâm nghiên cứu lịch sử và các chuyên ngành liên quan, trụ sở tại số 38, phố Hàng Chuối, quận Hai Bà Trưng, Hà Nội.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Tiền thân của TVVSH là Tủ sách của Ban Nghiên cứu Lịch sử, Địa lý, Văn học Việt Nam (thành lập ngày 2 tháng 12 năm 1953). Ngay từ khi Viện Sử học mới thành lập ngày 6 tháng 02 năm 1960, Ban Lãnh đạo Viện đã luôn chú trọng xây dựng, củng cố và phát triển Thư viện.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
TVVSH có nhiệm vụ: bổ sung và phát triển nguồn thông tin, tư liệu thông qua mua, tiếp nhận tài liệu do Viện xuất bản, các công trình nghiên cứu khoa học đã được nghiệm thu, nhận tài liệu biếu, tặng, trao đổi tài liệu,...; tổ chức xử lý, sắp xếp, lưu trữ, bảo quản, quản lý tài liệu, xây dựng hệ thống tra cứu phù hợp; phục vụ, hướng dẫn người dùng tin khai thác, tìm kiếm, sử dụng hiệu quả tài liệu và các sản phẩm dịch vụ thông tin - thư viện; quản lý, bảo quản, kiểm kê định kỳ vốn tài liệu và các tài sản khác của thư viện; thực hiện các nhiệm vụ khác do Viện trưởng giao.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Từ vài trăm cuốn sách kế thừa của Ban Nghiên cứu Lịch sử, Địa lý, Văn học Việt Nam, TVVSH đã xây dựng được kho sách quy mô lớn với hàng vạn đầu sách, tạp chí nhiều ngôn ngữ, thể loại phong phú. Tính đến năm 2016, số lượng sách tiếng Việt của Thư viện đã lên tới gần 170 nghìn cuốn; sách tiếng Anh, Pháp, Nga có gần 10 nghìn cuốn; sách Hán Nôm có gần 3000 cuốn; từ điển có khoảng 600 cuốn; 3.000 bản tư liệu dịch; 1.000 tập báo và 25 nhan đề tạp chí chuyên ngành khoa học xã hội (được đóng tập theo năm). Trong đó, vốn sách quý của thư viện là kho sách Hán Nôm (xt.: Kho sách Hán Nôm Viện Sử học) và kho sách tiếng Pháp.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Kho sách tiếng Việtgồm những tài liệu tham khảo, chuyên khảo, được chia thành:&lt;br /&gt;
 &lt;br /&gt;
1) Sách dịch từ nguồn sách Hán Nôm; &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
2) Tài liệu do các nhà nghiên cứu đầu ngành của Viện Sử học như Trần Huy Liệu, Đào Duy Anh, Trần Văn Giáp, Tôn Quang Phiệt, Minh Tranh, Hoa Bằng, Văn Tân, Nguyễn Hồng Phong,… nghiên cứu biên soạn, tiêu biểu như: Xã thôn Việt Nam, Cổ sử Việt Nam, Lịch sử 80 năm chống Pháp (3 tập), Tài liệu tham khảo lịch sử cận đại Việt Nam (12 tập), Lịch sử Thủ đô Hà Nội, Cách mạng Tháng Tám (2 tập), Nông thôn Việt Nam trong lịch sử (2 tập), Tìm hiểu xã hội Việt Nam thời Lý - Trần, Nông dân và nông thôn Việt Nam thời cận đại, Sử học và hiện thực, Lịch sử cách mạng miền Nam giai đoạn 1954-1960, Chính quyền thuộc địa ở Việt Nam trước Cách mạng Tháng Tám 1945, Nhà Đinh dẹp loạn và dựng nước, Bộ sách Lịch sử Việt Nam (15 tập), Việt Nam những sự kiện lịch sử (4 tập, từ thời nguyên thủy đến năm 2000), Thế giới - Những sự kiện lịch sử thế kỷ XX (2 tập),…; phông Lưu trữ Trần Huy Liệu với 2.632 tài liệu;…&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
3) Sách do Viện Sử học phối hợp với các địa phương và các ngành biên soạn, chủ yếu là các ấn phẩm thuộc thể loại địa chí - lịch sử, các cuốn lịch sử Đảng bộ, lịch sử địa phương của các tỉnh trong cả nước như: Địa chí Hà Nam, Địa chí Thái Nguyên, Địa chí Ninh Bình, Lịch sử Cao Bằng, Lịch sử Thanh Hóa,… &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
4) Các nguồn sách bằng tiếng Việt được xuất bản từ trước Cách mạng Tháng Tám năm 1945 đến nay, chủ yếu là những công trình nghiên cứu chuyên khảo trên các lĩnh vực Sử học, Văn hóa học, Kinh tế học, Triết học,… cung cấp nhiều tư liệu có giá trị cho công tác nghiên cứu khoa học xã hội và nhân văn, đặc biệt là trong nghiên cứu Lịch sử dân tộc và lịch sử thế giới. Kho sách ngoại văn gồm các ấn phẩm được xuất bản bằng các thứ tiếng như Anh, Pháp, Nga, Đức,… Mảng tài liệu tiếng Pháp có nhiều tài liệu quý viết về lịch sử, địa lý, triết học, chính trị - xã hội ở khu vực Đông Dương và Việt Nam giai đoạn Cận đại. Ngoài ra, Thư viện có các tạp chí chuyên ngành như L’histoire (Lịch sử), Histoire, Economie et Societe (Lịch sử, kinh tế và xã hội), Revue des Sciences morales et politiques (Tạp chí khoa học đạo đức và chính trị), Bullentin de l’Ecole Francaise d’Extreme - Orient (Tập san của Trường Viễn Đông Bác cổ), Revue Indochinoise (Tạp chí Đông Dương), Bullentin des amis du vieux Hue (Những người bạn của Cố đô Huế), Journal officiel de L’Indochine (Công báo Đông Dương), Bullentin Economique de L’Indochine (Tập san Kinh tế Đông Dương),…&lt;br /&gt;
Kho báo, tạp chí lưu trữ nhiều tờ báo và tạp chí xuất bản trước Cách mạng Tháng Tám như: Tiếng Dân, Nam Phong, Tri Tân, Thanh Nghị,… Từ năm 1954 đến nay, các báo Nhân dân, Quân đội Nhân dân, Hà Nội mới,… được lưu giữ đầy đủ. Thư viện lưu giữ trọn bộ Tập sanVăn Sử Địa (1954-1959) và Nghiên cứu Lịch sử (từ năm 1960), các tạp chí chuyên ngành khoa học xã hội và nhân văn như Dân tộc học, Khảo cổ học, Hán Nôm, Lịch sử quân sự, Lịch sử Đảng, Nghiên cứu Kinh tế,…&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
TVVSH chú trọng phát triển các sản phẩm thông tin, xây dựng nhiều bộ thư mục chuyên đề có giá trị như:  Nạn đói năm 1945 ở Việt Nam với gần 200 nhan đề tài liệu được khai thác từ tài liệu xuất bản thời kỳ 1944-1945, tài liệu, sách, báo xuất bản sau cách mạng và khảo cứu thực tế một số địa phương; Cách mạng Tháng Tám, các tập thư mục nhân vật như: thư mục nhà sử học Trần Văn Giáp, Văn Tân, Nguyễn Lương Bích,…&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Tính đến tháng 12.2020, TVVSH đã xây dựng cơ sở dữ liệu mục lục điện tử gồm khoảng 12.000 biểu ghi sách tiếng Việt và sách ngoại văn (tiếng Anh, Pháp), 800 biểu ghi sách Hán Nôm, 600 biểu ghi sách tiếng Nga, 4.000 biểu ghi Tạp chí Nghiên cứu lịch sử, 4.000 biểu ghi các loại tạp chí chuyên ngành khác.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Tính đến ngày 30 tháng 11 năm 2020, TVVSH đã đóng góp 33.788 biểu ghi thư mục vào mục lục tra cứu trực tuyến (OPAC) của VHLKHXHVN do Thư viện Viện Thông tin khoa học xã hội quản lý, có địa chỉ http://opac.issi.vass.gov.vn/.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
TVVSH triển khai nhiều loại hình dịch vụ thông tin như: dịch vụ đọc tại chỗ, dịch vụ tra cứu truyền thống, dịch vụ tra cứu thư mục trực tuyến; dịch vụ làm thẻ thư viện, sao chụp tài liệu, in ấn, sao lưu băng đĩa, truy xuất các thông tin số hóa,...&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
=='''Tài liệu tham khảo'''==&lt;br /&gt;
# Trần Thị Mai, Thư viện Viện Sử học với công tác tin học hóa - một bước chuyển biến mới, Thông tin Khoa học xã hội, 1998, số 8, tr.59-60.&lt;br /&gt;
# Trần Thị Mai, Thư viện Viện Sử học: 50 năm xây dựng và phát triển, tạp chí Nghiên cứu lịch sử, 2003, số 6, tr.86-88.&lt;br /&gt;
# Mục từ Thư viện Viện Sử học, Bách khoa thư Hà Nội, tập 13, Nxb. Thông tin, Hà Nội, 2010, tr. 240-241.&lt;br /&gt;
# Phạm Thị Quế Liên, Thư viện Viện Sử học, tạp chí Nghiên cứu Lịch sử, 2013, số 10, tr.74-78.&lt;br /&gt;
# Nguyễn Văn Nhật, Viện Sử học - 60 năm xây dựng và phát triển, tạp chí Nghiên cứu Lịch sử,2013, số 10, tr.5-16.&lt;br /&gt;
# VHLKHXHVN, Quyết định số 704/QĐ-KHXH, ngày 30.03.2015 của Chủ tịch VHLKHXHVN về việc ban hành Quy chế tổ chức và hoạt động của Viện Sử học.&lt;/div&gt;</summary>
		<author><name>Deepmind2</name></author>
	</entry>
	<entry>
		<id>https://bktt.vn/index.php?title=Th%C6%B0_vi%E1%BB%87n_Vi%E1%BB%87n_nghi%C3%AAn_c%E1%BB%A9u_Trung_Qu%E1%BB%91c&amp;diff=22453</id>
		<title>Thư viện Viện nghiên cứu Trung Quốc</title>
		<link rel="alternate" type="text/html" href="https://bktt.vn/index.php?title=Th%C6%B0_vi%E1%BB%87n_Vi%E1%BB%87n_nghi%C3%AAn_c%E1%BB%A9u_Trung_Qu%E1%BB%91c&amp;diff=22453"/>
		<updated>2023-01-11T10:56:19Z</updated>

		<summary type="html">&lt;p&gt;Deepmind2: Tạo trang mới với nội dung “&amp;lt;indicator name=&amp;quot;mới&amp;quot;&amp;gt;File:UnderCon icon.svg|40px|link={{TALKPAGENAME}}#Bình duyệt|alt=Mục từ này cần được bình duyệt|Mục từ này…”&lt;/p&gt;
&lt;hr /&gt;
&lt;div&gt;&amp;lt;indicator name=&amp;quot;mới&amp;quot;&amp;gt;[[File:UnderCon icon.svg|40px|link={{TALKPAGENAME}}#Bình duyệt|alt=Mục từ này cần được bình duyệt|Mục từ này cần được bình duyệt]]&amp;lt;/indicator&amp;gt;&lt;br /&gt;
'''Thư viện Viện nghiên cứu Trung Quốc''' thư viện chuyên ngành thuộc Viện Nghiên cứu Trung Quốc, Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam (VHLKHXHVN), phục vụ cán bộ nghiên cứu, giảng dạy của Viện Nghiên cứu Trung Quốc và người dùng tin khác quan tâm, nghiên cứu về Trung Quốc, trụ sở tại tầng 13, tòa A, số 1 Liễu Giai, quận Ba Đình, Hà Nội. Từ ngày 06 tháng 10 năm 2020, TVVNCTQ chuyển trụ sở về 176 Thái Hà, quận Đông Đa, Hà Nội, sáp nhập vào Trung tâm Thông tin-Thư viện quốc tế, trực thuộc VHLKHXHVN.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
TVVNCTQ được thành lập ngay sau khi Trung tâm Nghiên cứu Trung Quốc (nay là Viện Nghiên cứu Trung Quốc) ra đời theo Quyết định số 466/TTg ngày 15 tháng 9 năm 1993 của Thủ tướng Chính phủ.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
TVVNCTQ có chức năng sưu tầm, lưu trữ, cung cấp và bảo quản các tư liệu về Trung Quốc và Việt Nam trên các lĩnh vực kinh tế, chính trị, xã hội, văn hóa, lịch sử,… phục vụ tư liệu cho các cán bộ nghiên cứu, giảng dạy, học tập và quan tâm tìm hiểu về Trung Quốc. Thư viện có nhiệm vụ: bổ sung, trao đổi, xử lý, bảo quản thông tin - tư liệu và phục vụ người dùng tin theo quy định; tổ chức thông tin, giới thiệu tài liệu của thư viện; liên thông với các thư viện trong nước; hợp tác, trao đổi tài liệu với thư viện nước ngoài theo quy định; xây dựng kế hoạch bồi dưỡng nghiệp vụ chuyên môn cho cán bộ thư viện; tổ chức nghiên cứu khoa học, xây dựng cơ sở dữ liệu (CSDL), biên soạn ấn phẩm thông tin phục vụ bạn đọc; thực hiện các nhiệm vụ khác theo sự phân công của Viện trưởng.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
TVVNCTQ đã xây dựng được kho tư liệu phong phú về nội dung, ngôn ngữ và thể loại tài liệu. Tính đến cuối năm 2018, Thư viện đã thu thập, bổ sung, xử lý, lưu trữ được khoảng 12.000 nhan đề sách, báo, tạp chí, tư liệu bằng các ngôn ngữ khác nhau, trong đó: có 4.202 cuốn sách tiếng Việt; 4.686 cuốn sách tiếng Trung; 132 cuốn sách tiếng Nga; 130 cuốn sách tiếng Latinh; 19 cuốn sách tiếng Anh; 500 cuốn sách tra cứu, từ điển tiếng Việt và tiếng Trung; 2.561 cuốn tư liệu tiếng Việt; 68 cuốn tư liệu tiếng Trung; 100 cuốn tư liệu tiếng Anh; 16 loại tạp chí tiếng Việt; 82 nhan đề tạp chí tiếng Trung; 01 nhan đề tạp chí tiếng Anh: 01 nhan đề báo tiếng Việt: 01 nhan đề báo tiếng Trung; 93 cuốn ấn phẩm của Viện; 46 nhan đề luận văn, luận án; 503 nhan đề đề tài nghiên cứu khoa học. Đặc biệt, Thư viện lưu giữ những bộ sách quý hiếm như: Thông sử Trung Quốc (gồm 24 cuốn, xuất bản năm 2004, tái bản năm 2007); Bách khoa toàn thư người Hoa, Hoa Kiều (gồm 12 cuốn, xuất bản năm 2002); Đại từ điển Bách khoa Trung Quốc (gồm 10 cuốn, xuất bản năm 1999); Biên niên sử nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa (gồm 10 cuốn, từ năm 1949 đến năm 1959); Bộ Tùng thư Trung Quốc đương đại (gồm 53 cuốn, xuất bản từ năm 1984 đến năm 1991); Bộ Đại sử ký 20 năm cải cách mở cửa Trung Quốc (gồm 16 cuốn, xuất bản năm 1998); Đại từ điển lịch sử Trung Quốc ''(gồm 2 cuốn, xuất bản năm 2000); nhiều sách, tài liệu quý về Biển Đông và liên quan đến Biển Đông.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Từ năm 2018, TVVNCTQ bắt đầu số hóa các tư liệu của Thư viện. Đến cuối năm 2020, Thư viện đã số hóa được một số tư liệu tiếng Việt và tiếng Trung, các ấn phẩm nội sinh của Viện Nghiên cứu Trung Quốc, trong đó có Tạp chí Nghiên cứu Trung Quốc. Thư viện xây dựng mục lục tra cứu điện tử các tài liệu của Thư viện gồm: CSDL sách tiếng Việt; CSDL sách tiếng Trung; CSDL tạp chí tiếng Việt; CSDL tạp chí tiếng Trung; CSDL tạp chí tiếng Anh; CSDL tư liệu; CSDL tin tham khảo; CSDL đề tài tiếng Trung;… Đặc biệt, Thư viện đã xây dựng mục lục tra cứu trực tuyến (OPAC) của VHLKHXHVN do Thư viện Viện Thông tin Khoa học xã hội quản lý (địa chỉ: http://opac.issi.vass.gov.vn). Tính đến ngày 30.11.2020, TVVNCTQ đã đóng góp 13.340 biểu ghi vào hệ thống OPAC này.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Để phục vụ tốt việc tra cứu, tham khảo, hằng năm, Thư viện còn xây dựng các cuốn thư mục sách tiếng Việt, tiếng Trung; Thư mục trích  báo, tạp chí tiếng Việt, tiếng Trung,… &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Thư viện triển khai nhiều loại hình dịch vụ thông tin như: dịch vụ đọc tại chỗ, dịch vụ tra cứu truyền thống, dịch vụ tra cứu thư mục trực tuyến, làm thẻ thư viện; sao chụp, in ấn tài liệu; sao lưu băng đĩa; truy xuất các thông tin số hóa… &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
=='''Tài liệu tham khảo'''==&lt;br /&gt;
# Thủ tướng Chính phủ, Quyết định số 466/TTg ngày 15.9.1993 về việc thành lập các Trung tâm nghiên cứu khoa học trực thuộc Trung tâm Khoa học xã hội và nhân văn quốc gia.&lt;br /&gt;
# Trung tâm Khoa học xã hội và nhân văn quốc gia, Quyết định số 320/KHXH-TC ngày 09.12.1993 về chức năng, nhiệm vụ và cơ cấu tổ chức của Trung tâm Nghiên cứu Trung Quốc.&lt;br /&gt;
# VHLKHXHVN, Quyết định số 2152/QĐ-KHXH, ngày 15.12.2017 của Chủ tịch Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam về việc quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Viện Nghiên cứu Trung Quốc.&lt;br /&gt;
# VHLKHXHVN, Quyết định số 1382/QĐ-KHXH ngày 17.7.2018 của Chủ tịch Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam về việc Ban hành Quy chế Tổ chức và hoạt động của Viện Nghiên cứu Trung Quốc.&lt;br /&gt;
# Viện Nghiên cứu Trung Quốc, Viện Nghiên cứu Trung Quốc - 25 năm xây dựng và phát triển (1993-2018), Nxb. Khoa học xã hội, tháng 9.2018.&lt;br /&gt;
# VHLKHXHVN, Quyết định số 1512/QĐ-KHXH ngày 06.10.2020 về việc thành lập Trung tâm Thông tin-Thư viện quốc tế trực thuộc VHLKHXHVN.&lt;/div&gt;</summary>
		<author><name>Deepmind2</name></author>
	</entry>
	<entry>
		<id>https://bktt.vn/index.php?title=Th%C6%B0_vi%E1%BB%87n_Vi%E1%BB%87n_nghi%C3%AAn_c%E1%BB%A9u_H%C3%A1n_N%C3%B4m&amp;diff=22452</id>
		<title>Thư viện Viện nghiên cứu Hán Nôm</title>
		<link rel="alternate" type="text/html" href="https://bktt.vn/index.php?title=Th%C6%B0_vi%E1%BB%87n_Vi%E1%BB%87n_nghi%C3%AAn_c%E1%BB%A9u_H%C3%A1n_N%C3%B4m&amp;diff=22452"/>
		<updated>2023-01-11T10:43:45Z</updated>

		<summary type="html">&lt;p&gt;Deepmind2: Tạo trang mới với nội dung “&amp;lt;indicator name=&amp;quot;mới&amp;quot;&amp;gt;File:UnderCon icon.svg|40px|link={{TALKPAGENAME}}#Bình duyệt|alt=Mục từ này cần được bình duyệt|Mục từ này…”&lt;/p&gt;
&lt;hr /&gt;
&lt;div&gt;&amp;lt;indicator name=&amp;quot;mới&amp;quot;&amp;gt;[[File:UnderCon icon.svg|40px|link={{TALKPAGENAME}}#Bình duyệt|alt=Mục từ này cần được bình duyệt|Mục từ này cần được bình duyệt]]&amp;lt;/indicator&amp;gt;&lt;br /&gt;
'''Thư viện Viện nghiên cứu Hán Nôm''' thư viện của một viện nghiên cứu chuyên ngành thuộc Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam (VHLKHXHVN), được xây dựng trên cơ sở của Phòng Thông tin - Tư liệu - Thư viện thuộc Viện Nghiên cứu Hán Nôm, thành lập năm 1979 mà tiền thân là Ban Hán Nôm được thành lập năm 1970. &lt;br /&gt;
Mục đích thành lập TVVNCHN nhằm phục vụ công tác nghiên cứu và bảo tồn di sản Hán Nôm của Viện Nghiên cứu Hán Nôm và ngành Hán Nôm. Vì thế Thư viện có nhiệm vụ thu thập và bảo quản các nguồn tài liệu Hán Nôm, cùng các tài liệu nghiên cứu liên quan đến di sản Hán Nôm; đồng thời là nơi để các nhà nghiên cứu Hán Nôm và văn hóa truyền thống Việt Nam trong nước và quốc tế đến nghiên cứu, khai thác kho tàng di sản Hán Nôm. Thư viện có Giám đốc, một Phó Giám đốc và một số thư viện viên. Tuy nhiên, tên gọi này cũng có nhiều thay đổi, như hiện tại được tổ chức là một Phòng thuộc Viện Nghiên cứu Hán Nôm.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Trong buổi đầu thành lập, tài liệu thư viện chủ yếu có được từ việc tiếp nhận một bộ phận củaThư viện Thông tin khoa học xã hội vốn được Thư viện Viễn Đông bác cổ Pháp để lại, cùng một số thư viện tư nhân hiến tặng và mua gom. Sau đó, tài liệu trong Thư viện liên tục được bổ sung bằng chính các sản phẩm sưu tầm, nghiên cứu, dịch thuật của cán bộ và cộng tác viên của Viện Nghiên cứu Hán Nôm thực hiện đóng góp, cùng nguồn sách báo mua bổ sung hàng năm. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Từ một vốn tài liệu ban đầu còn rất nghèo nàn, đến năm 2020,TVVNCHN đã có trên 20.000 nhan đề sáchtiếng Việt, tiếng Trung, tiếng Nhật, tiếng Anh, tiếng Pháp và tiếng Nga, gần 800 đơn vị bản đồ và hàng ngàn cuốn tạp chí các loại. &lt;br /&gt;
Ký hiệu tài liệu tại TVVNCHN được quy định như sau: Sách tiếng Việt được kí hiệu bằng chữ V và phân làm ba loại theo khổ sách: Vv (Việt vừa) có 6.650 nhan đề, Vb (Việt bé) 2.790 nhan đề và Vt (Việt to) có 820 nhan đề. Sách nước ngoài cũng được phân như vậy, như sách Trung Quốc được kí hiệu bằng Hv (Hán vừa) có 850 nhan đề, Hb (Hán bé) có 2.040 nhan đề và Ht (Hán to) có 420 nhan đề; sách tiếng Nhật được kí hiệu là Nv (Nhật vừa), Nb (Nhật bé) và Nt (Nhật to) tổng cộng khoảng 300 nhan đề,... &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Tài liệu dịch được kí hiệu bằng chữ D, phân làm ba loại: D (dùng chung cho các bản dịch tiếng Việt từ tài liệu Hán Nôm) khoảng trên 500 nhan đề tài liệu, DH (Dịch Hán) bao gồm bản dịch tiếng Việt từ văn bản chữ Hán (cổ văn) 200 nhan đề sách và DT (Dịch Trung) bản dịch tiếng Việt từ nguyên bản Trung Quốc (hiện đại) 120 nhan đề sách.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Bản thảo chưa xuất bản được kí hiệu Bt gồm khoảng 500 nhan đề bao gồm bản thảo nghiên cứu, dịch tài liệu Hán Nôm của cán bộ và cộng tác viên của Viện Nghiên cứu Hán Nôm thuộc nhiệm vụ công tác trong thời gian đầu thành lập Ban Hán Nôm và sau là Viện Nghiên cứu Hán Nôm, cùng các đề tài nghiên cứu khoa học sau này đến nay.&lt;br /&gt;
 &lt;br /&gt;
Trong phòng đọc Thư viện Viện nghiên cứu Hán Nôm (Ảnh tư liệu)&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Các luận án Hán Nôm được kí hiệu LA có 170 nhan đề, bao gồm luận văn Cao học và luận án Tiến sĩ Hán Nôm của cơ sở đào tạo Viện Nghiên cứu Hán Nôm và của cán bộ Viện Nghiên cứu Hán Nôm.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Ngoài ra, Thư viện Viện Nghiên cứu Hán Nôm còn bảo quản các bản sao chụp sách Hán Nôm từ kho sách Hán Nôm của Viện để bảo vệ bản gốc kho sách Hán Nôm và thuận tiện cho việc phục vụ độc giả. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Ra đời chủ yếu từ năm 1945 trở về trước, kho sách Hán Nôm bao gồm các sách và tài liệu ghi bằng chữ Hán, chữ Nôm. Sách có khoảng 34.000 nhan đề, đượcký hiệu là: A, VHv, VHb, VHt (sách viết bằng chữ Hán); AB, VNv, VNb (sách viết bằng chữ Nôm); AC, HV (sách sao chép hoặc in lại của Trung Quốc) với 5.038 nhan đề sách. Bên cạnh đó là các tài liệu Hán Nôm khác được ký hiệu như: AD (thần sắc); AE (thần tích); AF (tục lệ); AG (địa bạ; AH (xã chí); AJ (cổ chỉ); cả thảy gồm 2280 nhan đề. Ngoài ra, còncó trên 56.000 đơn vị thác bản văn khắc Hán Nôm như: bia đá, chuông đồng, khánh, bản gỗ… có niên đại từ thế kỷ IV đến thời Nguyễn nửa đầu thế kỷ XX, cùng nhiều tư liệu khác như phim, vi phim, mộc bản,…&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Trong gần 20 năm, từ năm 1998-2016, Thư viện đã số hóa được khoảng 800.000 trang tài liệu Hán Nôm. Trong 2 năm 2017-2018, Dự án Tăng cường năng lực để nâng cao khả năng bảo tồn và lưu trữ tư liệu Hán Nôm tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm đã số hóa được 1,6 triệu trang, tu bổ được 100.000 trang. Dự án là bước đột phá trong khâu số hóa và tu bổ tài liệu của TVVNCHN. Việc số hóa tài liệu này góp phần quan trọng trong việc bảo tồn, quản lý, khai thác tư liệu Hán Nôm được hiệu quả hơn.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Thực tế, tư liệu TVVNCHN là tư liệu Hán Nôm gốc, nguồn tư liệu quan trọng trong việc nghiên cứu lịch sử văn hóa truyền thống Việt Nam. Hầu hết các công trình nghiên cứu trong lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn Việt Nam trong và ngoài nước đều không thể không sử dụng tài liệu Hán Nôm, mà phần lớn là tài liệu Hán Nôm tại TVVNCHN. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Có thể nói, TVVNCHN là kho tư liệu chuyên biệt về di sản Hán Nôm lớn nhất và quý giá nhất trong phạm vi cả nước.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
=='''Tài liệu tham khảo'''==&lt;br /&gt;
# Trần Nghĩa, Bước đầu tìm hiểu các kho sách Hán Nôm và lịch sử Thư mục học Hán Nôm,  tạp chí Hán Nôm, Số 2 (5), 1988, tr.3-20.&lt;br /&gt;
# Trần Nghĩa-François Gros, Di sản Hán Nôm Việt Nam: Thư mục đề yếu, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, 1993.&lt;br /&gt;
# Viện Nghiên cứu Hán Nôm-Viện Viễn đông bác cổ Pháp, Tổng tập văn khắc Hán Nôm Việt Nam, Nxb. Văn hóa - Thông tin, Hà Nội, 2005&lt;br /&gt;
# Nguyễn Tuấn Cường, Trịnh Khắc Mạnh, Nửa thế kỷ Viện Nghiên cứu Hán Nôm (1970-2020): thành tựu và triển vọng, tạp chí Hán Nôm, 4 (161)/2020, tr.6-31.&lt;/div&gt;</summary>
		<author><name>Deepmind2</name></author>
	</entry>
	<entry>
		<id>https://bktt.vn/index.php?title=Th%C6%B0_vi%E1%BB%87n_Vi%E1%BB%87n_kh%E1%BA%A3o_c%E1%BB%95_h%E1%BB%8Dc&amp;diff=22451</id>
		<title>Thư viện Viện khảo cổ học</title>
		<link rel="alternate" type="text/html" href="https://bktt.vn/index.php?title=Th%C6%B0_vi%E1%BB%87n_Vi%E1%BB%87n_kh%E1%BA%A3o_c%E1%BB%95_h%E1%BB%8Dc&amp;diff=22451"/>
		<updated>2023-01-11T10:40:14Z</updated>

		<summary type="html">&lt;p&gt;Deepmind2: Tạo trang mới với nội dung “&amp;lt;indicator name=&amp;quot;mới&amp;quot;&amp;gt;File:UnderCon icon.svg|40px|link={{TALKPAGENAME}}#Bình duyệt|alt=Mục từ này cần được bình duyệt|Mục từ này…”&lt;/p&gt;
&lt;hr /&gt;
&lt;div&gt;&amp;lt;indicator name=&amp;quot;mới&amp;quot;&amp;gt;[[File:UnderCon icon.svg|40px|link={{TALKPAGENAME}}#Bình duyệt|alt=Mục từ này cần được bình duyệt|Mục từ này cần được bình duyệt]]&amp;lt;/indicator&amp;gt;&lt;br /&gt;
'''Thư viện Viện khảo cổ học''' thư viện chuyên ngành, đầu ngành trong cả nước lưu trữ tài liệu về khảo cổ học, thuộc Viện Khảo cổ học, Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam (VHLKHXHVN), phục vụ cán bộ nghiên cứu, giảng dạy của Viện Khảo cổ học và những người dùng tin khác trong, ngoài nước quan tâm, nghiên cứu về khảo cổ và các chuyên ngành liên quan, trụ sở tại  số 61 Phan Chu Trinh, quận Hoàn Kiếm, Hà Nội.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
TVVKCH được thành lập ngay sau khi Viện Khảo cổ học trực thuộc Ủy ban Khoa học xã hội Việt Nam ra đời theo Quyết định số 59-CP ngày 14 tháng 5 năm 1968. Thư viện đã tiếp nhận tài liệu từ Đội Khảo cổ (được thành lập năm 1959).&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
TVVKCH có chức năng sưu tầm, bổ sung, xử lý tài liệu, xây dựng và phát triển sản phẩm, dịch vụ thông tin về khảo cổ và các chuyên ngành liên quan, phục vụ công tác nghiên cứu khoa học, đào tạo và tư vấn chính sách của Viện Khảo cổ học và người dùng tin khác trong, ngoài VHLKHXHVN. Thư viện có nhiệm vụ: bổ sung, xử lý, tổ chức, cung cấp tài liệu phục vụ các đối tượng dùng tin Viện Khảo cổ học trong công tác nghiên cứu khoa học, đào tạo, tư vấn chính sách; sưu tầm, trao đổi, bổ sung tư liệu sách, báo, tạp chí, cung cấp tư liệu cho các bảo tàng, sở văn hóa, các cơ quan bạn trong và ngoài nước; số hóa các tài liệu như sách, hồ sơ khảo cổ, ảnh khảo cổ, tạp chí, bản đồ, luận văn, luận án…; xây dựng, quảng bá, giới thiệu các sản phẩm thông tin như các thư mục thông báo sách mới, tài liệu mới, thư mục chuyên đề,…; hợp tác trong nước và nước ngoài trong lĩnh vực thư viện.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Theo số liệu thống kê năm 2016, TVVKCH lưu trữ trên 20.000 nhan đề tài liệu chuyên ngành và liên ngành bằng nhiều ngôn ngữ khác nhau như: Việt, Anh, Pháp, Đức, Nga, Nhật Bản, Trung Quốc, Hàn Quốc,… Trong đó, có hơn 11.000 nhan đề sách các loại, 209 nhan đề tạp chí chuyên ngành và liên ngành với khoảng 4.000 số (tiếng Việt: 43, tiếng Latinh: 83, Trung Quốc: 45, Nga: 30, Nhật: 8). Thư viện còn lưu giữ hơn 800 nhan đề tài liệu quý bằng tiếng Trung, Nga, Anh, Pháp,… và hơn 1.000 nhan đề tư liệu là kết quả các đề tài nghiên cứu, các bài tham luận tại các hội thảo, hội nghị trong và ngoài nước, các khoá luận, luận văn, luận án,… chuyên ngành khảo cổ học. Ngoài ra, Thư viện còn có 30 bộ bản đồ các loại với gần 2.000 mảnh.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Tính đến cuối năm 2020, Thư viện đã xử lý và đang lưu giữ 797 bộ hồ sơ khảo cổ học với khoảng trên 4.000 nhan đề tài liệu và hàng nghìn bộ ảnh. Đây là các kết quả nghiên cứu điều tra và khai quật từ năm 1956 đến nay. Mỗi bộ hồ sơ là kết quả nghiên cứu của một di chỉ, di tích hoặc nhiều di chỉ hoặc di tích khác nhau; bao gồm các loại hình tài liệu như: báo cáo bằng chữ viết, bản vẽ (bản vẽ chì, bản vẽ mực), ảnh (ảnh màu và ảnh đen trắng), bản dập trên giấy dó, các loại bảng thống kê, phiếu đăng ký hiện vật, bản đồ, sơ đồ và nhiều loại hình khác,... Hồ sơ tư liệu này được bổ sung hàng năm và phụ thuộc vào hoạt động nghiên cứu của Viện. Trung bình mỗi năm Thư viện bổ sung khoảng 15-20 bộ hồ sơ.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Từ năm 1998, TVVKCH bắt đầu xây dựng mục lục điện tử. Tính đến năm 2016, hơn nửa số tài liệu trong kho đã được xử lý và cập nhật vào cơ sở dữ liệu (CSDL) với tổng số 22.300 biểu ghi, gồm sách, hồ sơ khảo cổ, ảnh khảo cổ, luận án, luận văn, khoá luận, tạp chí các loại và bản đồ,... TVVKHC đã và đang triển khai xây dựng mục lục tra cứu trực tuyến (OPAC) của VHLKHXHVN do Viện Thông tin Khoa học xã hội quản lý. Tính đến ngày 30 tháng 11 năm 2020, TVVKCH đã đóng góp 19.843 biểu ghi cho hệ thống OPAC này (địa chỉ http://opac.issi.vass.gov.vn/).&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
TVVKCH còn triển khai nhiều loại hình dịch vụ như: dịch vụ đọc tại chỗ; dịch vụ tra cứu truyền thống; dịch vụ làm thẻ thư viện; sao chụp tài liệu, in ấn, sao lưu băng đĩa, truy xuất các thông tin số hóa,…&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
TVVKCH liên kết, trao đổi thông tin, tư liệu, trao đổi nghiệp vụ với nhiều cơ quan, tổ chức trong, ngoài nước, trong đó có Bảo tàng Lịch sử Việt Nam, Bảo tàng Mỹ thuật, Khoa Lịch sử trường Đại học Khoa học xã hội và nhân văn, Viện Viễn Đông Bác cổ Pháp, Viện Sử học, Viện Dân tộc học, Viện Văn hóa dân gian, Thư viện Viện Khoa học xã hội vùng Nam Bộ, Trung tâm Khảo cổ học vùng Nam Bộ, Bảo tàng Lịch sử Việt Nam tại thành phố Hồ Chí Minh, Khoa Lịch sử trường Đại học Khoa học xã hội và nhân văn thành phố Hồ Chí Minh, Bảo tàng Nhân học, Đại học Boston, Đại học Michigan (Mỹ),…&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
=='''Tài liệu tham khảo'''==&lt;br /&gt;
# Trịnh Thị Hòa, Mối quan hệ hợp tác giữa Bảo tàng Lịch sử Việt Nam thành phố Hồ Chí Minh với Viện Khảo cổ học Việt Nam trong thời kỳ mới, tạp chí Khảo cổ học, 2004, số 5, tr.46-50.&lt;br /&gt;
# Phạm Quốc Quân, Viện Khảo cổ học: Một trung tâm nghiên cứu - đào tạo, tạp chí Khảo cổ học, 2004, số 5, tr.41-45.&lt;br /&gt;
# Ngô Thị Lan, 40 năm Thư viện Viện Khảo cổ học, tạp chí Khảo cổ học, 2008, số 5, tr.48-51.&lt;br /&gt;
# Tống Trung Tín, Viện Khảo cổ học Việt Nam 45 năm thành lập và phát triển, tạp chí Khảo cổ học, 2013, số 5, tr.14-27.&lt;br /&gt;
# Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam, Quyết định số 252/QĐ-KHXH ngày 27.2.2013 của Chủ tịch Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam về Quy định chức năng, nhiệm vụ của Viện Khảo cổ học.&lt;br /&gt;
# Ngô Thị Lan, Giới thiệu trữ lượng tài liệu và các hoạt động tại thư viện Viện Khảo cổ học, tạp chí Thư viện Việt Nam, 2016, số 3, tr.44-46. &lt;br /&gt;
# Ngô Thị Lan, Xây dựng mô hình thư viện trực tuyến về hồ sơ khảo cổ học tại Viện Khảo cổ học Việt Nam, tạp chí Thư viện Việt Nam, 2018, số 6, tr.44-49.&lt;/div&gt;</summary>
		<author><name>Deepmind2</name></author>
	</entry>
	<entry>
		<id>https://bktt.vn/index.php?title=Th%C6%B0_vi%E1%BB%87n_Vi%E1%BB%87n_d%C3%A2n_t%E1%BB%99c_h%E1%BB%8Dc&amp;diff=22448</id>
		<title>Thư viện Viện dân tộc học</title>
		<link rel="alternate" type="text/html" href="https://bktt.vn/index.php?title=Th%C6%B0_vi%E1%BB%87n_Vi%E1%BB%87n_d%C3%A2n_t%E1%BB%99c_h%E1%BB%8Dc&amp;diff=22448"/>
		<updated>2023-01-11T09:41:38Z</updated>

		<summary type="html">&lt;p&gt;Deepmind2: Tạo trang mới với nội dung “&amp;lt;indicator name=&amp;quot;mới&amp;quot;&amp;gt;File:UnderCon icon.svg|40px|link={{TALKPAGENAME}}#Bình duyệt|alt=Mục từ này cần được bình duyệt|Mục từ này…”&lt;/p&gt;
&lt;hr /&gt;
&lt;div&gt;&amp;lt;indicator name=&amp;quot;mới&amp;quot;&amp;gt;[[File:UnderCon icon.svg|40px|link={{TALKPAGENAME}}#Bình duyệt|alt=Mục từ này cần được bình duyệt|Mục từ này cần được bình duyệt]]&amp;lt;/indicator&amp;gt;&lt;br /&gt;
'''Thư viện Viện dân tộc học''' thư viện chuyên ngành thuộc Viện Dân tộc  học, Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam (VHLKHXHVN), phục vụ cán bộ nghiên cứu, giảng dạy của Viện Dân tộc học và người dùng tin khác trong, ngoài nước quan tâm nghiên cứu về dân tộc học, nhân học và các chuyên ngành liên quan, trụ sở tại tầng 10, số 1 Liễu Giai, quận Ba Đình, Hà Nội.&lt;br /&gt;
 &lt;br /&gt;
Kho sách Thư viện Dân tộc học (Ảnh  TTM)&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
	Thư viện Viện Dân tộc học (TVVDTH) ra đời năm 1968, khi Viện Dân tộc học được thành lập theo Nghị định 59/CP ngày 14 tháng 5 năm 1968 của Hội đồng Chính phủ. Là một thư viện chuyên ngành, TVVDTH có chức năng phục vụ các nhiệm vụ chuyên môn của Viện Dân tộc học, bao gồm: Các hoạt động nghiên cứu cơ bản, toàn diện, kết hợp với nghiên cứu ứng dụng và dự báo về các vấn đề dân tộc ở Việt Nam và thế giới, nhằm cung cấp những luận cứ khoa học cho việc hoạch định và thực hiện hiệu quả chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước Việt Nam; công tác đào tạo đại học, sau đại học, góp phần xây dựng, phát triển nguồn nhân lực khoa học về Dân tộc học/ Nhân học cho cả nước.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Thực hiện chức năng chuyên môn, TVVDTH có nhiệm vụ bổ sung, bảo quản sách, báo, các tư liệu khoa học về các vấn đề dân tộc học/nhân học và liên quan; trao đổi thông tin, tư liệu khoa học không thuộc bí mật quốc gia về ngành dân tộc học/ nhân học với các cơ quan, tổ chức trong và ngoài nước; phục vụ hoạt động nghiên cứu, đào tạo và tư vấn chính sách của Viện Dân tộc học và độc giả.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Trong quá trinh xây dựng, phát triển, TVVDTH đã phục vụ người có yêu cầu sử dụng nguồn thông tin về các vấn đề dân tộc học/ nhân học trong và ngoài nước; bổ sung tài liệu về dân tộc học/ nhân học và các ngành liên quan về các dân tộc ở Việt Nam và trên thế giới; trao đổi tài liệu với các thư viện thuộc VHLKHXHVN và các thư viện khác ở trong và ngoài nước; tổ chức, bảo quản, kiểm kê định kỳ tài liệu một cách khoa học; tổ chức xây dựng mục lục điện tử, thư viện số, hiện đại hóa thư viện; quản lý và tổ chức Website của Viện Dân tộc học,… và các nhiệm vụ chuyên môn khác do Viện trưởng giao.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
TVVDTH lưu giữ nguồn tài liệu quý hiếm về dân tộc học, trong đó có rất nhiều tài liệu độc bản như: bộ ''Xã hội học tộc người'' (gồm 5 quyển), ''Nhật ký ghi chép của Codoominas,…''; nguồn ảnh tư liệu dân tộc học bao gồm hơn 12.000 ảnh màu, đen trắng, được thể hiện đầy đủ trên các album ảnh; băng hình (40 băng) về lễ cấp sắc, đám cưới, tang ma, hát then,… của một số dân tộc trên đất nước Việt Nam và của một số dân tộc khác trên thế giới; tạp chí ''Viễn Đông Bác Cổ'' (BEFEO), công trình nghiên cứu khoa học trong hơn 100 năm qua (1901-2001), ghi chép về phong tục, tập quán, kinh tế, xã hội của các dân tộc thiểu số ở Đông Dương nói chung và Việt Nam nói riêng.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Tài liệu tra cứu tuy chỉ chiếm tỷ lệ nhỏ trong kho sách (802 bản, chiếm 4,3% kho sách - số liệu năm 2014), nhưng là công cụ giúp bạn đọc tra cứu nhanh. Các tài liệu tra cứu bao gồm: từ điển tổng hợp và chuyên ngành với nhiều ngôn ngữ dân tộc khác nhau; Almanach - những nền văn minh thế giới; Bách Khoa thư tiếng Việt và tiếng Anh; Cẩm nang chuyên ngành; Tài liệu thống kê; Thư mục Dân tộc học; Các loại sổ tay tra cứu như sổ tay tra cứu các dân tộc trên thế giới, sổ tay về các dân tộc, sổ tay xã hội học tôn giáo…&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
TVVDTH có số lượng sách, báo, tạp chí phong phú về dân tộc học/ nhân học và các chuyên ngành liên quan. Tính đến cuối tháng 11 năm 2020, Thư viện có 2.425 cuốn sách tiếng Nga; 125 cuốn sách tiếng Trung; 1.332 cuốn sách tiếng Anh, Pháp; 10.533 cuốn sách tiếng Việt; 3.605 cuốn tư liệu điền dã, tài liệu dịch, đề tài các loại,…; 463 nhan đề tạp chí tiếng Anh, Pháp, Nga, Việt; hơn 12.000 ảnh màu, đen trắng; 2.180 cái bản đồ;… Tài liệu số hóa của Thư viện bao gồm 1.472 nhan đề tài liệu với 57G dữ liệu, 8.590 ảnh; 31.363 biểu ghi thư mục;….&lt;br /&gt;
Tính đến ngày 30.11.2020, TVVDTH đã đóng góp 33.732 biểu ghi thư mục cho mục lục tra cứu trực tuyến (OPAC) của thư viện điện tử VHLKHXHVN do Thư viện Viện Thông tin khoa học xã hội quản lý (http://opac.issi.vass.gov.vn); đóng góp tài liệu số cho thư viện số VHLKHXHVN do Viện Thông tin khoa học xã hội quản lý (http://thuvienkhxh-vass.contentdm.oclc.org). &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
TVVDTH triển khai nhiều loại hình dịch vụ như: đọc tại chỗ; tra cứu truyền thống; tra cứu thư mục trực tuyến; làm thẻ thư viện; sao chụp tài liệu, in ấn, sao lưu băng đĩa, truy xuất các thông tin số hóa,… &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
=='''Tài liệu tham khảo'''==&lt;br /&gt;
# Viện Dân tộc học, 30 năm Viện Dân tộc học xây dựng và phát triển 1968-1998), Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, 1998. &lt;br /&gt;
# Nguyễn Thị Hồng Nhị, Tin học hóa hoạt động thông tin - thư viện tại Viện Dân tộc học, tạp chí Thư viện Việt Nam, 2008, số 16, tr.38-42.&lt;br /&gt;
# Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam, Quyết định số 2098/QĐ-KHXH ngày 07.12.2017 về việc Quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Viện Dân tộc học.&lt;br /&gt;
# Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam, Quyết định số 551/QĐ-KHXH ngày 18.01.2018 về việc Ban hành Quy chế tổ chức và hoạt động của Viện Dân tộc học.&lt;br /&gt;
# OPAC của Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam, http://opac.issi.vass.gov.vn/&lt;br /&gt;
# Thư viện số Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam,  https://thuvienkhxh-vass.contentdm.oclc.org.&lt;/div&gt;</summary>
		<author><name>Deepmind2</name></author>
	</entry>
	<entry>
		<id>https://bktt.vn/index.php?title=Th%C6%B0_vi%E1%BB%87n_t%E1%BB%89nh_Th%C3%A1i_B%C3%ACnh&amp;diff=22447</id>
		<title>Thư viện tỉnh Thái Bình</title>
		<link rel="alternate" type="text/html" href="https://bktt.vn/index.php?title=Th%C6%B0_vi%E1%BB%87n_t%E1%BB%89nh_Th%C3%A1i_B%C3%ACnh&amp;diff=22447"/>
		<updated>2023-01-11T09:38:36Z</updated>

		<summary type="html">&lt;p&gt;Deepmind2: Tạo trang mới với nội dung “&amp;lt;indicator name=&amp;quot;mới&amp;quot;&amp;gt;File:UnderCon icon.svg|40px|link={{TALKPAGENAME}}#Bình duyệt|alt=Mục từ này cần được bình duyệt|Mục từ này…”&lt;/p&gt;
&lt;hr /&gt;
&lt;div&gt;&amp;lt;indicator name=&amp;quot;mới&amp;quot;&amp;gt;[[File:UnderCon icon.svg|40px|link={{TALKPAGENAME}}#Bình duyệt|alt=Mục từ này cần được bình duyệt|Mục từ này cần được bình duyệt]]&amp;lt;/indicator&amp;gt;&lt;br /&gt;
'''Thư viện tỉnh Thái Bình''' đơn vị sự nghiệp công lập trực thuộc Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Thái Bình, là Thư viện trung tâm của tỉnh Thái Bình, trụ sở tại số 196, phố Hai Bà Trưng, thành phố Thái Bình.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
TVTTB thành lập năm 1955. Trụ sở đầu tiên của Thư viện đặt ở góc phố Lê Lợi, sau chuyển về địa điểm chân Cầu Bo.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Ngày 20 tháng 9 năm 1963, người đặt viên gạch đầu tiên xây dựng Thư viện mới là Bí thư Tỉnh ủy Ngô Duy Đông. Ngày 15 tháng 4 năm 1975, Thư viện mới được khánh thành và đi vào hoạt động. Thư viện lấy ngày 15.4 làm ngày truyền thống. Cũng trong năm 1975, Thư viện được chuyển từ thư viện phổ thông lên thư viện khoa học tổng hợp.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Ngày 09 tháng 10 năm 2020, Phó Chủ tịch Ủy ban Nhân dân tỉnh Thái Bình ký Quyết định số 2875/QĐ-UBND đổi tên Thư viện Khoa học tổng hợp tỉnh Thái Bình thành TVTTB trực thuộc, chịu sự chỉ đạo, quản lý trực tiếp và toàn diện của Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Thái Bình; đồng thời chịu sự chỉ đạo, thanh tra, kiểm tra về chuyên môn nghiệp vụ của Vụ Thư viện, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch.&lt;br /&gt;
 &lt;br /&gt;
Tòa nhà Thư viện Thái Bình (Ảnh LTTH)&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Ngày 12 tháng 10 năm 2020, Giám đốc Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch  tỉnh Thái Bình ký Quyết định số 286/QĐ-SVHTTDL về việc quy định chức năng, nhiệm vụ của TVTTB. Theo đó, TVTTB có chức năng thu thập, bảo quản, tổ chức khai thác và sử dụng chung các tài liệu được xuất bản tại tỉnh Thái Bình, hoặc nói về tỉnh Thái Bình, các tài liệu trong nước và ngoài nước, phù hợp với đặc điểm, yêu cầu xây dựng và phát triển của tỉnh Thái Bình về chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh, quốc phòng; tổ chức sử dụng tài nguyên thông tin, sản phẩm thông tin và dịch vụ thư viện, góp phần truyền bá tri thức, những giá trị văn hóa của dân tộc và của nhân loại; phục vụ nhu cầu nghiên cứu, học tập. Thư viện có các nhiệm vụ: 1) Thu thập, tàng trữ và bảo quản lâu dài các tư liệu được xuất bản tại địa phương; nhận các sách xuất bản lưu chuyển địa phương do Sở Thông tin và Truyền thông tỉnh Thái Bình chuyển giao; sưu tầm các tài liệu quý hiếm của địa phương, liên quan đến địa phương, các bản sao khóa luận, luận văn tốt nghiệp của sinh viên các trường đại học được mở rộng tại địa phương; tổ chức phục vụ và tạo mọi điều kiện thuận lợi cho người đọc sử dụng vốn tài liệu thư viện thông qua các hình thức theo quy định của Luật Thư viện; tổ chức thực hiện công tác tuyên truyền, giới thiệu rộng rãi vốn tài liệu của thư viện đến mọi tầng lớp nhân dân, các tài liệu phục vụ công cuộc phát triển kinh tế - văn hóa - xã hội địa phương; 2) biên soạn và xuất bản các ấn phẩm thông tin-thư mục phù hợp với chức năng, nhiệm vụ và đối tượng bạn đọc của thư viện; ứng dụng thành tựu khoa học và công nghệ, hiện đại hóa thư viện; 3) hướng dẫn nghiệp vụ đối với thư viện cấp huyện và cơ sở xã, phường, thị trấn; tổ chức luân chuyển sách, báo đến các thư viện huyện và các thư viện cơ sở trọng điểm; chủ trì, phối hợp hoạt động về chuyên môn, nghiệp vụ đối với các thư viện khác của địa phương; 4) hợp tác quốc tế về lĩnh vực thư viện.&lt;br /&gt;
 &lt;br /&gt;
Kho sách Thư viện Thái Bình (Ảnh LTTH)&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Cơ cấu tổ chứccủa TVTTB gồm Giám đốc, các Phó Giám đốc và các phòng chuyên môn, nghiệp vụ: Hành chính-Tổng hợp; Nghiệp vụ; Công tác bạn đọc; Thông tin thư mục và Phong trào cơ sở.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Sách báo ban đầu của TVTTB chỉ có khoảng 2.000 bản, đến năm 1975, vốn sách của Thư viện đã có 130.000 bản, 300 nhan đề tạp chí và hàng nghìn đơn vị tạp chí cũ được đóng bìa. Mỗi năm Thư viện phục vụ 3.000 lượt bạn đọc với 6.000 lượt sách báo luân chuyển. Đối tượng phục vụ chủ yếu là bộ đội, dân quân tự vệ, các đội sản xuất, các trường học,… Thư viện phục vụ ngày 3 buổi sáng, chiều, tối (kể cả chủ nhật). &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Đầu năm 1985, toàn tỉnh Thái Bình có 167 thư viện xã được TVTTB giúp sức xây dựng và tổ chức hoạt động, 300 thư viện các trường phổ thông, thư viện các trường chuyên nghiệp, thư viện trường Đảng được phát triển và hoạt động đều có sự phối hợp chặt chẽ giữa thư viện huyện và tỉnh. Thư viện đã tặng Thư viện Vĩnh Trà, tỉnh kết nghĩa với tỉnh Thái Bình, 20.0000 bản sách được đóng bìa cứng và hàng ngàn bản sách cho Thư viện tỉnh Lạng Sơn (1980).&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Về các sản phẩm, năm 1990, Thư viện đã biên soạn được hàng trăm bản Thư mục, phục vụ nhiều đề tài nghiên cứu khoa học, trong đó có ba công trình Thư mục địa chí lớn: Thư mục “Thái Bình mảnh đất và con người”, tập I, tập hợp 2.887 tài liệu từ năm 1983 trở về trước; tập II, tập hợp 1.270 tài liệu từ năm 1983 đến năm 1989; Thư mục “Lê Quý Đôn”, tập hợp 179 tài liệu gồm những tác phẩm của Lê Quý Đôn và những tài liệu viết về Lê Quý Đôn. Năm 1995, Thư viện được xếp vào hạng Hai.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Cuối năm 2004, vốn sách của Thư viện có 160.000 bản sách, 200 nhan đề tạp chí, hàng ngàn đơn vị tạp chí cũ được đóng bìa để lưu giữ. Sách được thư viện sắp xếp khoa học trên hệ thống giá sách, tổ chức thành các kho tài liệu: kho đọc tại chỗ, kho báo và tạp chí, kho tài liệu tra cứu, kho sách báo ngoại văn, kho tài liệu địa chí (có hệ thống mục lục tra cứu tìm sách báo), kho mượn tự chọn, kho sách lưu động, kho sách thiếu nhi và một kho nhỏ sách chữ nổi, băng ghi âm phục vụ bạn đọc khiếm thị. Hàng năm, thư viện cấp trên 2.500 thẻ mới cho bạn đọc (người lớn), 300 thẻ cho bạn đọc (thiếu nhi) vào dịp nghỉ hè. Phục vụ trung bình 90.000 lượt bạn đọc với hơn 150.000 lượt tài liệu, phục vụ nhiều đề tài nghiên cứu có hiệu quả.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Năm 2001-2005, Thư viện đã hỗ trợ sách, báo, hướng dẫn nghiệp vụ quản lý, phục vụ sách báo cho 250 nhà bưu điện văn hóa xã, 3 đồn biên phòng, 2 đơn vị huấn luyện chiếu đấu, nhiều thư viện trường phổ thông, tổ chức các cuộc triển lãm về sách báo; tổ chức giảng dạy nghiệp vụ cho 5 khóa học sinh trung học thư viện của trường Cao đẳng Văn hóa Nghệ thuật tỉnh Thái Bình; cán bộ thư viện còn tham gia vào lĩnh vực nghiên cứu khoa học. Thư viện đã tiếp cận với công nghệ tin học từ những năm 1990. Hiện nay, Thư viện đang ứng dụng phần mềm llib vào các hoạt động nghiệp vụ Thư viện.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Để ghi nhận những thành tích, đóng góp của Thư viện, Đảng và Nhà nước đã tặng thưởng TVTTB Huân chương Lao động hạng Ba; Huân chương Lao động hạng Nhì.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
=='''Tài liệu tham khảo '''==                                                       &lt;br /&gt;
# Ủy ban Nhân dân tỉnh Thái Bình, Quyết định số 2875/QQĐ-UBND, ngày 09.10.2020.&lt;br /&gt;
# Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Quyết định số 286/QĐ-SVHTTDL ngày 12.10.2020.&lt;br /&gt;
# Nguyễn Quang Ân, Nguyễn Thanh (Chủ biên), Từ điển Thái Bình (tái bản có bổ sung),Nxb. Thế giới, Hà Nội, 2020.&lt;/div&gt;</summary>
		<author><name>Deepmind2</name></author>
	</entry>
	<entry>
		<id>https://bktt.vn/index.php?title=Th%C6%B0_vi%E1%BB%87n_T%E1%BA%A1_Quang_B%E1%BB%ADu&amp;diff=22445</id>
		<title>Thư viện Tạ Quang Bửu</title>
		<link rel="alternate" type="text/html" href="https://bktt.vn/index.php?title=Th%C6%B0_vi%E1%BB%87n_T%E1%BA%A1_Quang_B%E1%BB%ADu&amp;diff=22445"/>
		<updated>2023-01-11T09:35:24Z</updated>

		<summary type="html">&lt;p&gt;Deepmind2: Tạo trang mới với nội dung “&amp;lt;indicator name=&amp;quot;mới&amp;quot;&amp;gt;File:UnderCon icon.svg|40px|link={{TALKPAGENAME}}#Bình duyệt|alt=Mục từ này cần được bình duyệt|Mục từ này…”&lt;/p&gt;
&lt;hr /&gt;
&lt;div&gt;&amp;lt;indicator name=&amp;quot;mới&amp;quot;&amp;gt;[[File:UnderCon icon.svg|40px|link={{TALKPAGENAME}}#Bình duyệt|alt=Mục từ này cần được bình duyệt|Mục từ này cần được bình duyệt]]&amp;lt;/indicator&amp;gt;&lt;br /&gt;
'''Thư viện Tạ Quang Bửu''' trực thuộc Đại học Bách khoa Hà Nội (ĐHBKHN); thuộc loại hình thư viện đại học; phục vụ công tác đào tạo, nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ của ĐHBKHN; phục vụ các đối tượng dùng tin là cán bộ, giảng viên, học viên, sinh viên Nhà trường và người dùng tin khác có nhu cầu; trụ sở tại ĐHBKHN, số 1 Đại Cồ Việt, quận Hai Bà Trưng, Hà Nội.&lt;br /&gt;
Thư viện ĐHBKHN thành lập năm 1956. Ban đầu, Thư viện chỉ là một bộ phận trực thuộc Phòng Giáo vụ Nhà trường. Từ năm 1973, Thư viện được tách ra thành Ban Thư viện.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Tháng 11 năm 2003, Thư viện và Trung tâm Thông tin mạng được sáp nhập thành Thư viện và Mạng thông tin với nhiệm vụ chính là vận hành và khai thác thư viện điện tử mới và quản lý điều hành mạng thông tin của Nhà trường.&lt;br /&gt;
Tháng 9 năm 2008, bộ phận Thư viện được tách ra thành TVTQB.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
TVTQB được Nhà trường đầu tư xây dựng, phát triển quy mô, hiện đại. Ngày 7 tháng 10 năm 2006, tòa nhà TVTQB 10 tầng với tổng diện tích 37.000m2 được khánh thành. Đây là một trong những thư viện lớn nhất hệ thống thư viện đại học Việt Nam với với 600.000 bản sách, 130.000 nhan đề sách điện tử; có thể phục vụ đồng thời 2.000 bạn đọc; sinh viên ĐHBKHN được truy cập miễn phí cơ sở dữ liệu (CSDL) từ các nguồn như Science Driect, Scopus,… mà TVTQB kết nối.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
TVTQB có chức năng giúp Hiệu trưởng quản lý, khai thác, phát triển nguồn lực thông tin và dịch vụ thông tin phục vụ các hoạt động nghiên cứu, đào tạo, chuyển giao công nghệ của Nhà trường.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
TVTQB có nhiệm vụ: Bổ sung, phát triển nguồn lực thông tin trong nước và nước ngoài đáp ứng nhu cầu giảng dạy, học tập, nghiên cứu khoa học của Nhà trường; thu nhận, lưu giữ, phổ biến các tài liệu nội sinh của nhà trường và các dạng tài liệu khác thông qua trao đổi, biếu tặng; xử lý kỹ thuật nghiệp vụ các tài liệu đã bổ sung, xây dựng hệ thống tra cứu thông tin tự động; tổ chức hệ thống phòng đọc, phòng mượn, môi trường học tập, cung cấp thông tin, tài liệu đáp ứng nhu cầu tin của người dùng tin của Nhà trường; tổ chức tập huấn, hướng dẫn bạn đọc khai thác, sử dụng hiệu quả thông tin; nghiên cứu ứng dụng thành tựu khoa học công nghệ tiên tiến, các tiêu chuẩn nghiệp vụ vào hoạt động thư viện; xây dựng quy hoạch, kế hoạch, tổ chức bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ, ngoại ngữ, tin học cho cán bộ thư viện; bảo quản, kiểm kê định kỳ vốn tài liệu, cơ sở vật chất kỹ thuật và các tài sản khác; thanh lý tài liệu, thiết bị cũ nát, lạc hậu theo quy định; hợp tác với các cơ quan trong, ngoài nước về lĩnh vực thư viện; và các nhiệm vụ khác.&lt;br /&gt;
 &lt;br /&gt;
Trong phòng đọc Thư viện Tạ Quang Bửu (Ảnh NTPT)&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Về cơ cấu tổ chức, TVTQB có Giám đốc, Phó giám đốc và ba phòng: Xử lý thông tin; Dịch vụ thông tin; Thông tin-Thư mục.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Từ năm 2007, Thư viện đã xây dựng Thư viện số với nguồn tài liệu chủ yếu là các bài giảng, giáo trình của giảng viên của Nhà trường, luận án, luận văn sau đại học. Tính đến nay, thư viện số gồm năm đơn vị: 1) Bài giảng điện tử (41 bài); 2) OER-TEST (16); 3) Z.Ebook (2); 4) Luận án tiến sĩ (752); 5) Luận văn thạc sĩ (13.637). Trong mỗi đơn vị này, tài liệu lại được chia thành các bộ sưu tập số theo các chuyên ngành: Công nghệ thông tin (CNTT); Cơ khí; Cơ khí động lực; Dệt may; Hóa học; Kinh tế và quản lý; Môi trường; Nhiệt lạnh; Sinh học; Thực phẩm; Sư phạm kỹ thuật; Toán học; Vật liệu; Vật lý; Vật lý kỹ thuật; Điện; Điện tử viễn thông; Ngành khác.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
TVTQB đã kết nối thư viện số với: 1) Thư viện Đại học Quốc gia Hà Nội; 2) Thư viện số Đại học Văn hóa Hà Nội; 3) Thư viện số Đại học Mỏ-Địa chất; 4) Trung tâm Thông tin học liệu Đại học Đà Nẵng; 5) Thư viện số Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật thành phố Hồ Chí Minh,... Trong đó, Thư viện chia sẻ tài nguyên số với Thư viện Đại học Mỏ-Địa chất.&lt;br /&gt;
 &lt;br /&gt;
Khu Trung tâm triển lãm Thư viện Tạ Quang Bửu (Ảng NTPT)&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Năm 2014, Thư viện đã phối hợp với Câu lạc bộ Khoa học công nghệ các trường đại học kỹ thuật xây dựng “Liên hiệp chia sẻ nguồn tin khoa học công nghệ và kỹ thuật-STE Consortium” gồm 22 thư viện các trường đại học với mục đích hợp tác, chia sẻ lợi ích khi bổ sung chung các nguồn tin khoa học công nghệ. TVTQB là một trong bốn thư viện trong cả nước được Bộ Khoa học và Công nghệ bảo trợ sử dụng quyền truy cập CSDL điện tử Sciencedirect. Ngoài ra, TVTQB còn kết nối với CSDL Proquest và Ebrary.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Tháng 8 năm 2016, sau hai giai đoạn gửi toàn bộ biểu ghi lên CSDL mục lục liên hợp toàn cầu Worldcat và triển khai sử dụng phần mềm biên mục tài liệu trực tuyến (Online Cataloging), TVTQB được công nhận là thành viên của Tổ chức Thư viện thế giới OCLC. Kể từ đây, các thư viện trên thế giới là thành viên của OCLC có thể tiếp cận, khai thác những biểu ghi thư mục của TVTQB có trong Worldcat. Ngược lại, TVTQB cũng có thể khai thác được CSDL thư mục gồm trên 330.000.000 biểu ghi trong Worldcat.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Hiện nay, mỗi năm, TVTQB phục vụ khoảng 30.000 bạn đọc là sinh viên ĐHBKHN. Trung bình mỗi ngày có 2.200 đến 2.500 lượt bạn đọc tới thư viện. Đặc biệt, vào mùa thi, TVTQB đón tiếp khoảng 2.800 lượt sinh viên mỗi ngày. Quy trình mượn-trả sách đều được thư viện tự động hóa và người dùng tự làm thủ tục thông qua hệ thống nhận diện, quét ID. Đồng thời, TVTQB còn phát triển dịch vụ chuyển phát nhanh tài liệu tới tay bạn đọc.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Từ một thư viện đơn sơ khi mới thành lập với số vốn tài liệu khoảng 5.000 cuốn sách, TVTQB đã phát triển thành một trong những thư viện lớn nhất, hiện đại nhất Việt Nam, thư viện đầu tiên của Việt Nam là thành viên OCLC.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
=='''Tài liệu tham khảo'''==&lt;br /&gt;
# Bộ Giáo dục, Nghị định số 147/NĐ ngày 6.3.1956 về việc thành lập trường Đại học Chuyên nghiệp Bách khoa.&lt;br /&gt;
# Nguyễn Văn Thiên, Xây dựng hệ thống tra cứu trực tuyến phục vụ công tác phân loại và định chủ đề tại Thư viện Tạ Quang Bửu, tạp chíThư viện Việt Nam, 2010, số 2(22), tr.44-45.&lt;br /&gt;
# Trường Đại học Bách khoa Hà Nội, Quyết định số 244/QĐ-ĐHBK-HCTH ngày 15.02.2017 của Hiệu trưởng Trường Đại học Bách khoa Hà Nội “Về việc công bố Sứ mạng, Tầm nhìn và Giá trị cốt lõi của Đại học Bách khoa Hà Nội”.&lt;br /&gt;
# Trường Đại học Bách khoa Hà Nội, Chiến lược phát triển Đại học Bách khoa Hà Nội giai đoạn 2017-2025 kèm theo Quyết định số 245/QĐ-ĐHBKHN-HCTH.&lt;br /&gt;
# Hữu Trưởng, Xây dựng không gian thư viện trong kỷ nguyên số, báo Quân đội nhân dân online, ngày 26.10.2020, https://www.qdnd.vn/van-hoa-giao-duc/giao-duc/xay-dung-khong-gian-thu-vien-trong-ky-nguyen-so-642039, truy cập ngày 10.12.2020.&lt;/div&gt;</summary>
		<author><name>Deepmind2</name></author>
	</entry>
	<entry>
		<id>https://bktt.vn/index.php?title=Th%C6%B0_vi%E1%BB%87n_H%C3%A0_N%E1%BB%99i&amp;diff=22444</id>
		<title>Thư viện Hà Nội</title>
		<link rel="alternate" type="text/html" href="https://bktt.vn/index.php?title=Th%C6%B0_vi%E1%BB%87n_H%C3%A0_N%E1%BB%99i&amp;diff=22444"/>
		<updated>2023-01-11T09:32:56Z</updated>

		<summary type="html">&lt;p&gt;Deepmind2: Tạo trang mới với nội dung “&amp;lt;indicator name=&amp;quot;mới&amp;quot;&amp;gt;File:UnderCon icon.svg|40px|link={{TALKPAGENAME}}#Bình duyệt|alt=Mục từ này cần được bình duyệt|Mục từ này…”&lt;/p&gt;
&lt;hr /&gt;
&lt;div&gt;&amp;lt;indicator name=&amp;quot;mới&amp;quot;&amp;gt;[[File:UnderCon icon.svg|40px|link={{TALKPAGENAME}}#Bình duyệt|alt=Mục từ này cần được bình duyệt|Mục từ này cần được bình duyệt]]&amp;lt;/indicator&amp;gt;&lt;br /&gt;
'''Thư viện Hà Nội''' thư viện công cộng của Thủ đô Hà Nội; phục vụ bạn đọc đang học tập, làm việc và sinh sống ở Hà Nội; chịu sự chỉ đạo, quản lý về tổ chức, biên chế và hoạt động của Sở Văn hóa và Thể thao thành phố Hà Nội, chịu sự hướng dẫn về chuyên môn, nghiệp vụ của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch; trụ sở tại 47 Bà Triệu, quận Hoàn Kiếm và 2B, đường Quang Trung, quận Hà Đông, Hà Nội.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
TVHN thành lập ngày 15 tháng 10 năm 1956 với tên gọi ''Phòng đọc sách nhân dân'' tại nhà Thủy Tạ, hồ Hoàn Kiếm, Hà Nội. Từ tháng 01 năm 1959, Thư viện chuyển trụ sở về số 47 Bà Triệu và mang tên ''Thư viện Nhân dân Hà Nội'', nay là ''Thư viện Hà Nội''.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
TVHN có chức năng thu thập, bảo quản, tổ chức khai thác và sử dụng vốn tài liệu trong nước và nước ngoài theo quy định của pháp luật; xây dựng, hình thành thói quen đọc trong nhân dân; tham gia xây dựng và tổ chức luân chuyển tài liệu xuống cơ sở. TVHN thực hiện nhiệm vụ theo quy định của pháp luật về thư viện và các nhiệm vụ: tham mưu Giám đốc Sở Văn hóa và Thể thao thành phố Hà Nội xây dựng, trình phê duyệt quy hoạch mạng lưới thư viện, kế hoạch dài hạn, đăng ký hoạt động thư viện trên địa bàn thành phố Hà Nội theo quy định của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, cấp và thu hồi giấy chứng nhận đăng ký hoạt động đối với thư viện tư nhân có phục vụ cộng đồng theo quy định của pháp luật; xây dựng kế hoạch hoạt động của Thư viện trình Giám đốc Sở Văn hóa và Thể thao thành phố Hà Nội phê duyệt và tổ chức thực hiện; tổ chức hoạt động chuyên môn, nghiệp vụ của thư viện, ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông vào hoạt động thư viện, xây dựng và phát triển nguồn lực thông tin số, xây dựng thư viện điện tử; hướng dẫn, tư vấn và tham gia xây dựng, tổ chức bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ cho thư viện cấp huyện, thị xã, cấp xã, phường, thị trấn, thư viện và tủ sách cơ sở; tổ chức luân chuyển tài liệu, tổ chức thư viện lưu động phục vụ nhân dân trong địa bàn Hà Nội; hợp tác trong nước và quốc tế về thư viện, xây dựng và tiếp nhận các dự án tài trợ và dự án đào tạo, bồi dưỡng do các tổ chức nước ngoài tài trợ hoặc tổ chức theo quy định của pháp luật.&lt;br /&gt;
 &lt;br /&gt;
Toàn cảnh tòa nhà Thư viện Hà Nội,&lt;br /&gt;
tại số 47, Bà Triệu, quận Hoàn Kiếm, Hà Nội (Ảnh NTPT)&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Về cơ cấu tổ chức, Thư viện có Giám đốc, Phó Giám đốc và bẩy phòng chức năng: Hành chính - Tổng hợp; Bổ sung và Xử lý kỹ thuật; Phục vụ bạn đọc; Phục vụ thiếu nhi; Địa chí và Thông tin tra cứu; Nghiệp vụ và Phong trào cơ sở; Tin học.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
TVHN là kho tàng thư tịch đồ sộ, các loại sách được sắp xếp khoa học, có hệ thống mục lục hoàn chỉnh, thuận lợi cho việc tìm kiếm, hỗ trợ việc nghiên cứu, học tập, làm việc và giải trí của người dùng tin mọi lứa tuổi.&lt;br /&gt;
Về tài liệu in, tính đến tháng 6.2020, TVHN có 624.388 bản sách, trong đó có 37.409 bản sách ngoại văn, 20.327 bản tài liệu địa chí bằng tiếng Việt và Hán Nôm gồm bản dập bia, hương ước, ảnh, bản đồ,…; 395 nhan đề báo, tạp chí; 2.967 sách chữ nổi (tương đương 118.303 trang); 171 sách nói cho người khiếm thị.&lt;br /&gt;
 &lt;br /&gt;
Phòng đọc thư viện Hà Nội (Ảnh NTPT)&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Với phần mềm quản trị thư viện tích hợp hiện đại, TVHN xây dựng mục lục tra cứu trực tuyến (OPAC) phục vụ tra cứu tài liệu mọi lúc, mọi nơi. TVHN định kỳ xây dựng và đăng tải trên Website các sản phẩm: Thư mục sách mới; Thư mục sách mới thiếu nhi, Thư mục sách mới ngoại văn, Thư mục chuyên đề (Thư mục về các danh nhân; về địa chí, hương ước, đặc sản, văn hóa, giáo dục, du lịch,… của Hà Nội),... Điểm sách theo chuyên đề, Điểm báo tuần,… Các sản phẩm này góp phần quảng bá thông tin, tri thức, hỗ trợ bạn đọc thuận tiện trong tra cứu, khai thác tài liệu, tiếp cận thông tin.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Về tài liệu số, tính đến tháng 6.2020, TVHN đã xây dựng cơ sở dữ liệu (CSDL) số toàn văn gồm 3.855 nhan đề tài liệu trong các bộ sưu tập số: Địa chí Hà Nội (1.742 nhan đề tài liệu tương đương 211.006 trang số hóa); ''Toàn văn bài báo, tạp chí về văn hóa, thể thao Hà Nội (1.017 nhan đề); Toàn văn các bài báo, tạp chí khác; Địa chí Hậu giang; Sách nói (171 sách)''. Ngoài ra, TVHN có 3.522 đĩa CD/DVD.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Với mục tiêu hình thành và nuôi dưỡng thói quen đọc sách, giáo dục thiếu niên, nhi đồng, xây dựng văn hóa đọc, học tập và tự học tập suốt đời cho các em thiếu niên, nhi đồng, TVHN đã tổ chức nhiều hoạt động phong phú, thu hút những bạn đọc nhỏ tuổi. Tháng 6.2013, Thư viện đã tách Phòng Phục vụ thiếu nhi thành một phòng độc lập. Phòng này đã tổ chức “Góc Mẹ và Bé” dành cho lứa tuổi mẫu giáo nhằm tạo không gian riêng cho mẹ đọc sách cùng con. TVHN cũng đã xây dựng “Thư viện lưu động-Bánh xe tri thức” nhằm tạo phong trào đọc sách cho lứa tuổi thiếu niên, nhi đồng.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
TVHN thường xuyên tổ chức các cuộc tuyên truyền, giới thiệu sách, báo theo chuyên đề phục vụ các nhiệm vụ chính trị của Thủ đô và Đất nước thông qua các hình thức triển lãm, nói chuyện, tọa đàm, giao lưu văn hóa,… nhằm giáo dục truyền thống cách mạng, lòng tự hào dân tộc, tình yêu quê hương, đất nước, gia đình, của người dân, đặc biệt là thế hệ trẻ Thủ đô.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
TVHN còn thực hiện chức năng hướng dẫn nghiệp vụ và xây dựng mạng lưới thư viện cơ sở cho 29 thư viện quận-huyện; 58 thư viện cấp xã-phường; 1.095 thư viện, tủ sách tại các cụm dân cư, thôn, làng; luân chuyển sách xuống thư viện cơ sở. Căn cứ vào khảo sát nhu cầu thực tế của từng địa phương, TVHN lựa chọn kỹ về nội dung và hình thức sách để luân chuyển sách đúng mục đích, phù hợp với trình độ dân trí, phong tục tập quán, đặc điểm văn hóa, kinh tế, xã hội của từng địa phương, sách được xử lý khoa học, đáp ứng nhu cầu nghiên cứu, học tập, giải trí của người dân. TVHN còn chú trọng hỗ trợ phát triển các thư viện tư nhân có phục vụ cộng đồng.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
TVHN luôn hợp tác, chia sẻ, trao đổi thông tin, kinh nghiệm với các thư viện khác trong hệ thống thư viện công cộng, trong Liên hiệp Thư viện Đồng bằng Sông Hồng với tư cách là một thành viên của Liên hiệp.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
TVHN được tặng Huân chương Lao động hạng Nhất, hạng Nhì, hạng Ba; Huân chương Độc lập hạng Ba.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
=='''Tài liệu tham khảo'''==&lt;br /&gt;
# Hà Chi Hải, Tư liệu văn hóa dân gian ở Thư viện Hà Nội, Văn hóa nghệ thuật, 2005, số 10, tr.101-102.&lt;br /&gt;
# Chu Ngọc Lâm, Thư viện Hà Nội hướng tới Đại lễ kỷ niệm 1000 năm Thăng Long - Hà Nội, tạp chíThư viện Việt Nam, 2010, số 5 (25), tr.33-36.&lt;br /&gt;
# Hà Nguyên, Công tác phục vụ thiếu nhi tại Thư viện Hà Nội, tạp chí Thư viện Việt Nam, 2010, số 5 (25), tr.45-47.&lt;br /&gt;
# Nguyễn Ngọc Nguyên, Công tác địa chí tại Thư viện Hà Nội, tạp chí Thư viện Việt Nam, 2010, số 5 (25), tr.40-44.&lt;br /&gt;
# Sở Văn hóa và Thể thao Hà Nội, Quyết định số 590/QĐ-SVHTT ngày 30.5.2017 về việc quy định chức năng, nhiệm vụ và cơ cấu tổ chức của Thư viện Hà Nội.&lt;/div&gt;</summary>
		<author><name>Deepmind2</name></author>
	</entry>
	<entry>
		<id>https://bktt.vn/index.php?title=Th%C6%B0_m%E1%BB%A5c_qu%E1%BB%91c_gia&amp;diff=22443</id>
		<title>Thư mục quốc gia</title>
		<link rel="alternate" type="text/html" href="https://bktt.vn/index.php?title=Th%C6%B0_m%E1%BB%A5c_qu%E1%BB%91c_gia&amp;diff=22443"/>
		<updated>2023-01-11T09:29:35Z</updated>

		<summary type="html">&lt;p&gt;Deepmind2: Tạo trang mới với nội dung “&amp;lt;indicator name=&amp;quot;mới&amp;quot;&amp;gt;File:UnderCon icon.svg|40px|link={{TALKPAGENAME}}#Bình duyệt|alt=Mục từ này cần được bình duyệt|Mục từ này…”&lt;/p&gt;
&lt;hr /&gt;
&lt;div&gt;&amp;lt;indicator name=&amp;quot;mới&amp;quot;&amp;gt;[[File:UnderCon icon.svg|40px|link={{TALKPAGENAME}}#Bình duyệt|alt=Mục từ này cần được bình duyệt|Mục từ này cần được bình duyệt]]&amp;lt;/indicator&amp;gt;&lt;br /&gt;
'''Thư mục quốc gia''' một dạng thư mục tổng hợp đặc biệt; là một danh mục thống kê đầy đủ các xuất bản phẩm được ấn hành trong lãnh thổ một quốc gia trong một khoảng thời gian nhất định.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Thông thường, TMQG do cơ quan được quyền nhận lưu chiểu quốc gia chịu trách nhiệm biên soạn, thường là các thư viện quốc gia. Tuy nhiên, cũng có những ngoại lệ, ví dụ, ở Anh, TMQG do Hội đồng các thư viện, nhà xuất bản, nhà sách biên soạn và phát hành. Ở Mỹ, Hà Lan, TMQG được biên soạn với mục đích thương mại, do đó, cơ quan chịu trách nhiệm biên soạn không phải là thư viện quốc gia mà có thể do một cá nhân hay một tổ chức nào đó biên soạn.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
TMQG thường được phát hành dưới một số dạng như:  TMQG tháng, TMQG quý,  TMQG 6 tháng và  TMQG năm. Các dạng thư mục này thống kê các xuất bản phẩm xuất bản trong một tháng, một quý, 6 tháng hoặc một năm tương ứng của một quốc gia nhất định.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Ở Việt Nam, TMQG do Thư viện Quốc gia Việt Nam chịu trách nhiệm biên soạn và phát hành. Bản  TMQG đầu tiên của Việt Nam ra đời năm 1923, do Thư viện Trung ương Đông Dương, tiền thân của Thư viện Quốc gia Việt Nam, biên soạn và phát hành. Từ năm 1955, TMQG được tiếp tục biên soạn và phát hành với các tên gọi ''Danh mục sách lưu chiểu, văn hóa phẩm, Mục lục sách, Mục lục xuất bản phẩm lưu chiểu'' và được phát hành sáu tháng một lần. Từ năm 1974 đến nay, thư mục này chính thức mang tên TMQG Việt Nam, xuất bản định kỳ theo tháng và năm.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Cấu trúc của TMQG Việt Nam gồm: &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
''Phần 1: Lời giới thiệu''. Trong phần này ghi rõ, TMQG được biên soạn dựa theo nguồn lưu chiểu do Thư viện Quốc gia Việt Nam thu nhận theo quy định tại Điều 27 Luật Xuất bản năm 2004.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
''Phần 2: Danh mục các ấn phẩm''. Phần này gồm ba phần là: Sách; Tác phẩm âm nhạc, tranh ảnh, bản đồ và Ấn phẩm định kỳ. Trong mỗi phần, các tài liệu được đánh số thứ tự liên tục từ 1 cho đến hết. Tuy nhiên, để tiện cho việc tra cứu, phần Sách được chia thành các nhóm sách theo các môn loại khoa học, được xác định theo bảng phân loại (trước đây, Thư viện Quốc gia Việt Nam sử dụng Bảng phân loại dùng cho các thư viện khoa học tổng hợp, Bảng phân loại thư viện thư mục (BBK), và hiện nay là bảng phân loại Dewey Decimal Classification xuất bản lần thứ hai mươi ba (Bảng DDC 23). Bảng DDC 23 gồm các dãy chia lớn là: (0) Tổng loại, (1) Triết học, Tâm lý học; (2) Tôn giáo; (3) Các khoa học xã hội; (4) Ngôn ngữ học; (5). Các khoa học tự nhiên; (6). Các khoa học kỹ thuật và công nghệ; (7) Nghệ thuật, Văn hóa, Thể dục thể thao; (8). Văn học; (9) Các khoa học địa lý. Trong đó, tùy thuộc vào số lượng tài liệu có nội dung thuộc dãy chia cơ bản nêu trên mà có thể chia nhỏ thêm. Các tài liệu thuộc mỗi nhóm đó được sắp xếp theo vần chữ cái tên tác giả hoặc tên tài liệu. Mỗi tài liệu đều được mô tả thống nhất theo quy tắc mô tả quốc tế.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Phần 3: Các bảng tra phụ trợ gồm bốn bảng tra: &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
''1. Bảng tra tên tác giả'': danh mục tên các tác giả có tài liệu trong Danh mục ấn phẩm được sắp xếp theo vần chữ cái, mỗi tác giả lại có các số thứ tự của tài liệu mà họ chịu trách nhiệm tạo ra trong danh mục. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
''2. Bảng tra tên người dịch'': danh mục tên các dịch giả có tài liệu mà họ dịch trong bảng chính, được sắp xếp theo vần chữ cái, mỗi tên đều ghi rõ số thứ tự tài liệu mà tác giả đó dịch có trong Danh mục ấn phẩm.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
''3. Bảng tra tên tài liệu'': danh mục tên các tài liệu có trong Thư mục được sắp xếp theo vần chữ cái, mỗi tên tài liệu đều ghi rõ số thứ tự của nó trong Danh mục ấn phẩm.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
''4. Bảng tra tên nhà xuất bản'': danh mục các nhà xuất bản có tài liệu trong Danh mục ấn phẩm được sắp xếp theo vần chữ cái, mỗi nhà xuất bản được liệt kê các số thứ tự tương ứng với tài liệu nhà xuất bản đó ấn hành có trong Danh mục ấn phẩm.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
TMQG vừa là công cụ tra cứu quan trọng, phục vụ cho công tác nghiên cứu khoa học, vừa là công cụ lưu giữ các di sản văn hóa thành văn của dân tộc.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
=='''Tài liệu tham khảo'''==&lt;br /&gt;
# Trịnh Kim Chi, Giáo trình Thư mục học đại cương, Đại học Văn hóa, Hà Nội, 1993.&lt;br /&gt;
# Nguyễn Thị Thư, Thư mục học đại cương, Đại học Công nghiệp thành phố Hồ Chí Minh, thành phố Hồ Chí Minh, 2010.&lt;br /&gt;
# Thư viện Quốc gia Việt Nam, Thư mục quốc gia Việt Nam, năm 2015, 2016, 2017, 2018,  Hà Nội.&lt;/div&gt;</summary>
		<author><name>Deepmind2</name></author>
	</entry>
	<entry>
		<id>https://bktt.vn/index.php?title=Th%C6%B0_m%E1%BB%A5c&amp;diff=22441</id>
		<title>Thư mục</title>
		<link rel="alternate" type="text/html" href="https://bktt.vn/index.php?title=Th%C6%B0_m%E1%BB%A5c&amp;diff=22441"/>
		<updated>2023-01-11T09:23:15Z</updated>

		<summary type="html">&lt;p&gt;Deepmind2: Tạo trang mới với nội dung “&amp;lt;indicator name=&amp;quot;mới&amp;quot;&amp;gt;File:UnderCon icon.svg|40px|link={{TALKPAGENAME}}#Bình duyệt|alt=Mục từ này cần được bình duyệt|Mục từ này…”&lt;/p&gt;
&lt;hr /&gt;
&lt;div&gt;&amp;lt;indicator name=&amp;quot;mới&amp;quot;&amp;gt;[[File:UnderCon icon.svg|40px|link={{TALKPAGENAME}}#Bình duyệt|alt=Mục từ này cần được bình duyệt|Mục từ này cần được bình duyệt]]&amp;lt;/indicator&amp;gt;&lt;br /&gt;
'''Thư mục''' ''(A. Bibliography)'' danh mục các tài liệu được sắp xếp theo một trật tự nhất định phục vụ cho mục đích tra cứu,lưu trữ, nghiên cứu.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Thuật ngữ &amp;quot;thư mục&amp;quot; xuất hiện từ thời Hy Lạp cổ đại, bắt nguồn từ hai từ &amp;quot;biblion&amp;quot; (sách) và &amp;quot;grapho&amp;quot; (ghi chép). Thời Hy lạp cổ đại, thuật ngữ &amp;quot;bibliographo&amp;quot; dùng để chỉ các nhà chép sách. Đến thế kỷ XV, khi ngành in ra đời, sách vở nhân bản nhiều nhanh chóng, các danh mục tài liệu được lập và gọi là &amp;quot;catalogue&amp;quot; (mục lục, danh mục). Thế kỷ XVI, danh mục các tài liệu được gọi bằng tên &amp;quot;bibliotheca&amp;quot; (biblioteque), đến thế kỷ XVII thay bằng thuật ngữ &amp;quot;bibliography&amp;quot;. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Cần phân biết rõ thuật ngữ “thư mục” (“bibiography”) với thuật ngữ “thư mục” (“directorry”) trong tin học. “Directory” có nghĩa là một dạng tập tin đặc biệt, có công dụng như một ngăn chứa, được dùng trong việc quản lý và sắp xếp các tệp tin.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
TM có lịch sử rất lâu đời, ra đời cùng Thư viện. Những bản TM đầu tiên của nhân loại xuất hiện từ thiên niên kỷ thứ ba trước Công nguyên, trên các chất liệu đặc biệt như đất sét, da dê, tre trúc,... Ban đầu, TM là các bản kê các tài liệu có trong một vốn tài liệu của một thư viện cổ. Dần dần TM trở thành một công cụ kiểm soát số lượng và nội dung của vốn tài liệu của một thư viện, một địa phương,một quốc gia, đặc biệt trở thành công cụ đắclực phục vụ cho công tác nghiên cứu khoa học.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Cùng với sự phát triển của thư viện, xuất hiện cả một ngành nghiên cứu về TM, gọi là “Thư mục học”.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
TM có thể phân loại theo nhiều tiêu chí khác nhau, nhưng thông thường nhất là phân loại theo nội dung phản ánh của tài liệu có trong TM. Theo tiêu chí này, gồm: &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
+ ''TM tổng hợp'' tập hợp các tài liệu thuộc tất cả các chuyên ngành khác nhau trong một khoảng thời gian nhất định, như: Tổng danh mục tài liệu của Thư viện tỉnh Đắk Lắk năm 1954-1975, Thư mục Đông Dương (gồm tất cả các tài liệu xuất bản thời kỳ Đông Dương thuộc Pháp), v.v..&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
+ ''TM đa ngành'' tập hợp các tài liệu về một nhóm ngành nhất định (TM các tài liệu khoa học tự nhiên, TM các tài liệu khoa học kỹ thuật, v.v.).&lt;br /&gt;
+ TM chuyên đề tập hợp các tài liệu về một chủ đề nhất định (TM cây ăn quả, TM hóa học, v.v.).&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
+ ''TM địa chí'' tập hợp các tài liệu liên quan đến một địa danh nhất định, bao gồm các tài liệu viết về địa danh đó, các tài liệu được xuất bản trên địa bàn một địa phương, các tài liệu do người địa phương viết. (TM địa chí Hà Nội, TM địa chí xứ Nghệ, v.v.).&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
+ ''TM nhân vật'' tập hợp các tài liệu về một nhân vật nhất định, bao gồm các tài liệu do chính nhân vật đó viết, dịch hay cộng tác (biên soạn, chủ biên,…), các tài liệu do các tác giả khác viết về nhân vật đó hay các tác phẩm của nhân vật đó (TMHồ Chí Minh, TM Nguyễn Du, v.v.).&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
+ ''TM  quốc gia'' (xt.: “Thư mục quốc gia”) là dạng TM tổng hợp tập hợp tất cả các xuất bản phẩm xuất bản trên địa bàn một quốc gia trong một thời gian nhất định (TM quốc gia Việt Nam tháng 1 năm 2020; TM quốc gia Việt Nam năm 2019, v.v.).&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
TM thường gồm ba phần chính:&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
- ''Mở đầu'' hay ''Lời giới thiệu'' cung cấp thông tin liên quan đến những đặc điểm cơ bản của bản TM, như: mục đích, đối tượng sử dụng của bản TM, giới hạn về phạm vi không gian và thời gian sưu tầm tài liệu có trong TM, cấu trúc của bản TM và phương pháp tra cứu, sử dụng bản TM.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
- ''Bản chính ''là danh mục các tài liệu được sắp xếp theo một trình tự nhất định để phục vụ cho việc tra cứu dễ dàng. Có một số cách khác nhau để sắp xếp bảng chính của TM. Các tiêu chí dùng để sắp xếp thông thường nhất là: xếp theo dấu hiệu hình thức (theo vần chữ cái tên tác giả, hoặc tên tài liệu); xếp theo dấu hiệu nội dung (theo môn loại hoặc theo chủ đề của tài liệu); xếp theo thời gian xuất bản hoặc nơi xuất bản. Những bản TM lớn thường kết hợp hai hoặc ba, bốn tiêu chí sắp xếp nêu trên. (TM quốc gia Việt Nam kết hợp hai tiêu chí, đầu tiên xếp theo môn loại (theo tiêu chí nội dung), trong mỗi môn loại lại sắp xếp theo vần chữ cái tên tác giả hoặc tên tài liệu (theo dấu hiệu hình thức tài liệu).&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Mỗi tài liệu có trong TM đều được đánh số thứ tự. Có thể đánh số thứ tự liên tục từ một đến hết (1, 2, 3,... n) thường dùng cho các TM chỉ sắp xếp theo một tiêu chí, hoặc TM được sắp xếp theo hai tiêu chí trở lên. Tuy nhiên, cũng có những ngoại lệ.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
- ''Các bảng tra'' là các bảng phụ trợ giúp người dùng tin tra cứu, tìm kiếm các tài liệu trong bảng chính một cách dễ dàng. Tùy theo mức độ phức tạp (số lượng của tài liệu có trong TM) của bảng chính để xây dựng số lượng các bảng tra phụ trợ, thông thường có từ một đến vài bảng phụ hỗ trợ các cách tra cứu khác nhau. Các bảng phụ trợ đó là: Bảng tra theo vần chữ cái tên tác giả (hoặc bảng tra theo vần chữ cái tên tác giả hoặc tên tài liệu), Bảng tra theo chủ đề, Bảng tra theo nơi xuất bản, nhà xuất bản, thời gian xuất bản).&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Mỗi một đề mục trong bảng tra thường gồm tiêu chí chính và chỉ số định vị tài liệu đó trong bảng chính. Ví dụ: Nguyễn Văn An 18 (tức là: tác giả Nguyễn Văn An có tài liệu xếp số 18 trong bảng chính); Nguyễn Văn An A15, B17, D22 (Tác giả Nguyễn Văn An có các tài liệu được đánh số A15, B17 và D22); Lúa 15, 28, 46, 86, 92 (các tài liệu viết về cây lúa được đánh chỉ số 15, 28, 46, 86, 95 trong bảng chính của TM).&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Tùy mục đích cụ thể mà người dùng tin có thể sử dụng các bảng tra tương ứng để định vị tài liệu, sau đó căn cứ vào các mã định vị ở bảng tra mà tìm tài liệu đó trong bảng chính (Tìm theo tác giả, theo tên tài liệu, theo chủ đề, theo nhà xuất bản, nơi xuất bản, năm xuất bản,...).&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
TM là công cụ tra cứu quan trọng phục vụ công tác khai thác tài liệu, đồng thời là công cụ lưu giữ các di sản văn hóa thành văn của nhân loại.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
=='''Tài liệu tham khảo'''==&lt;br /&gt;
# Trịnh Kim Chi, Giáo trình Thư mục học đại cương, Đại học Văn hóa, Hà Nội, 1993.&lt;br /&gt;
# Nguyễn Thị Thư, Thư mục học đại cương, Đại học Công nghiệp thành phố Hồ Chí Minh, thành phố Hồ Chí Minh, 2010.&lt;br /&gt;
# Thư mục quốc gia Việt Nam năm 2018, Hà Nội, 2019.&lt;/div&gt;</summary>
		<author><name>Deepmind2</name></author>
	</entry>
	<entry>
		<id>https://bktt.vn/index.php?title=Th%C3%B4ng_tin_v%C3%A0_truy%E1%BB%81n_th%C3%B4ng&amp;diff=22440</id>
		<title>Thông tin và truyền thông</title>
		<link rel="alternate" type="text/html" href="https://bktt.vn/index.php?title=Th%C3%B4ng_tin_v%C3%A0_truy%E1%BB%81n_th%C3%B4ng&amp;diff=22440"/>
		<updated>2023-01-11T09:17:11Z</updated>

		<summary type="html">&lt;p&gt;Deepmind2: Tạo trang mới với nội dung “&amp;lt;indicator name=&amp;quot;mới&amp;quot;&amp;gt;File:UnderCon icon.svg|40px|link={{TALKPAGENAME}}#Bình duyệt|alt=Mục từ này cần được bình duyệt|Mục từ này…”&lt;/p&gt;
&lt;hr /&gt;
&lt;div&gt;&amp;lt;indicator name=&amp;quot;mới&amp;quot;&amp;gt;[[File:UnderCon icon.svg|40px|link={{TALKPAGENAME}}#Bình duyệt|alt=Mục từ này cần được bình duyệt|Mục từ này cần được bình duyệt]]&amp;lt;/indicator&amp;gt;&lt;br /&gt;
'''Thông tin và truyền thông'''(tên giao dịch quốc tế: Journal on Information and Communications, viết tắt là: JoIC.)  cơ quan ngôn luận của Bộ Thông tin và Truyền thông, là tạp chí khoa học kỹ thuật và quản lý chuyên ngành đầu tiên và uy tín nhất về Công nghệ thông tin và truyền thông. Tiền thân của Tạp chí Thông tin và Truyền thông (TT&amp;amp;TT) là Tập san Kỹ thuật Bưu điện Truyền thanh, ra mắt bạn đọc tháng 6.1962; Chủ bút đầu tiên là kỹ sư Phạm Văn Bẩy. Năm 1987 tập san được nâng cấp và đổi tên thành Tạp chí Kỹ thuật Bưu điện truyền thanh. Tháng 4.1998 tạp chí tiếp tục đổi tên thành Tạp chí Bưu chính Viễn thông. Năm 2007, sau khi Bộ Thông tin và Truyền thông được thành lập, để phù hợp với chức năng, nhiệm vụ mới của cơ quan chủ quản, tạpchí được đổi tên thành tạp chí Công nghệ thông tin và Truyền thông. Tháng 02-2017, Tạp chí được đổi tên thành Tạp chí TCTN, đồng thời tiếp nhận nhiệm vụ của tạp chí Toàn cảnh Sự kiện - Dư luận thuộc Cục Báo chí và tạp chí Tri thức Thời đại thuộc Cục Xuất bản, in và phát hành .&lt;br /&gt;
Lãnh đạo Tạp chí qua các thời kỳ: Chủ nhiệm: Trần Văn Bình (6.1962 - 10.1976); các tổng biên tập:  Phạm Niên (11.1976 - 4.1984),  Đặng Văn Thân (từ 5.1984 - 10.1985 và từ 3.1990 - 10.1993),  Lê Đức Niệm (11.1985 - 02.1990), Đỗ Trung Tá (11.1993 - 2.2003), Mai Liêm Trực (3.2003 - 10.2005), Chu Văn Vệ (11.2005 - 2.2010), Vũ Chí Kiên (Phó TBT phụ trách, Quyền TBT, TBT từ 3.2010 đến 2.2020). Từ tháng 3.2020  ông Nguyễn Văn Bá là Tổng biên tập.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Tạp chí thực hiện chức năng thông tin, tuyên truyền, phổ biến chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước về lĩnh vực thông tin và truyền thông; là diễn đàn nghiên cứu, trao đổi về thông tin lý luận, nghiệp vụ và đăng tải thông tin khoa học kỹ thuật, công bố kết quả nghiên cứu khoa học và quản lý trong các lĩnh vực: báo chí, xuất bản, in và phát hành, bưu chính, viễn thông, công nghệ thông tin, điện tử.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Thời gian đầu, tạp chí TT&amp;amp;TT chủ yếu phục vụ nội bộ nhưng về sau TT&amp;amp;TT phát hành rộng rãi, được bạn đọc đặt mua, mỗi kỳ 3.000, rồi 5.000 số. Từ năm 1017 tạp chí TT&amp;amp;TT xuất bản nhiều kỳ kèm theo phụ đề Toàn cảnh sự kiện-dư luận và Bưu chính viễn thông và CNTT; ngoài ra Tạp chí còn có Bản tin An toàn thông tin.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Từ năm 2020 sản phẩm của Tạp chí TT&amp;amp;TT bao gồm:&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
- Bản in tạp chí TT&amp;amp;TT, phát hành mỗi tháng 01 kỳ, 132 trang (không kể bìa), in mầu. Tạp chí có các chuyên mục chính: Tiêu điểm, Diễn đàn, Chuyển đổi số, Chính phủ số, Kinh tế số, Báo chí-Truyền thông, Công nghệ-Cuộc sống, Xu hướng-Dự báo. Ngoài ra còn có các số đặc biệt nhân ngày lễ hoặc sự kiện quan trong.&lt;br /&gt;
- Tạp chí điện tử TT&amp;amp;TT  (http://ictvietnam.vn) cập nhật liên tục các thông tin về các lĩnh vực khác nhau của ngành bưu chính viễn thông, báo chí và xuất bản cùng nhiều thông tin phong phú khác.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
- Chuyên san các công trình nghiên cứu, phát triển và ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thôngra đời tháng 9.1999, là tạp chí nghiên cứu khoa học về công nghệ thông tin và truyền thông. Tạp chí là một diễn đàn dành cho các nhà nghiên cứu và các chuyên gia phổ biến các ý tưởng mới và sáng tạo trong các lĩnh vực của công nghệ thông tin, truyền thông và điện tử,  bao gồm: khoa học máy tính, kỹ thuật máy tính, hệ thống thông tin,  công nghệ phần mềm, an toàn thông tin, điện tử, truyền thông, mạng truyền thông, tự động hóa. Chuyên san có phản biện, mở trực tuyến, phát hành 4 số/năm, trong đó 2 số tiếng Việt và 2 số tiếng Anh (Journal of Research, Development and Application on Information and Communication Technology). Bài đăng trên chuyên san được chấm điểm từ 0,5 đến 1.0.  Bạn đọc có thể truy cập online trên trang điện tử ictmag.vn. bằng tiếng Việt và tiếng Anh. Các bài báo khoa học sau khi phản biện, nếu được chấp nhận sẽ được đăng tải ngay trên trang điện tử ictmag.vn trước khi  đăng trên chuyên san in. Chuyên san được Hội đồng chức danh Giáo sư nhà nước và các tổ chức khoa học có uy tín trong nước công nhận.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Tạp chí TT&amp;amp;TT đã được Nhà nước trao tặng 2 Huân chương Lao động hang Ba (1982, 1997), Huân chương Lao động hạng Nhì (2002), Huân chương Lao động hạng Nhất (2007).&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
=='''Tài liệu tham khảo'''==&lt;br /&gt;
# Tạp chí Thông tin và Truyền thông, số 545 (735), tháng 6.2017&lt;br /&gt;
# Tạp chí điện tử Thông tin  và Truyền thông, http://ictvietnam.vn. Truy cập ngày 21.10.2020&lt;br /&gt;
# Cổng thông tin điện tử Bộ Thông tin – Truyền thông (mic.gov.vn). Truy cập ngày 20.10.2020&lt;br /&gt;
# Website Chuyên san các công trình nghiên cứu, phát triển và ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông (ictmag.vn). Truy cập ngày 24.10.2020&lt;br /&gt;
# Chuyên san các công trình nghiên cứu, phát triển và ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông, số 1, tháng 6, tập 2020&lt;/div&gt;</summary>
		<author><name>Deepmind2</name></author>
	</entry>
	<entry>
		<id>https://bktt.vn/index.php?title=Th%C3%B4ng_tin_h%E1%BB%8Dc&amp;diff=22439</id>
		<title>Thông tin học</title>
		<link rel="alternate" type="text/html" href="https://bktt.vn/index.php?title=Th%C3%B4ng_tin_h%E1%BB%8Dc&amp;diff=22439"/>
		<updated>2023-01-11T09:15:00Z</updated>

		<summary type="html">&lt;p&gt;Deepmind2: Tạo trang mới với nội dung “&amp;lt;indicator name=&amp;quot;mới&amp;quot;&amp;gt;File:UnderCon icon.svg|40px|link={{TALKPAGENAME}}#Bình duyệt|alt=Mục từ này cần được bình duyệt|Mục từ này…”&lt;/p&gt;
&lt;hr /&gt;
&lt;div&gt;&amp;lt;indicator name=&amp;quot;mới&amp;quot;&amp;gt;[[File:UnderCon icon.svg|40px|link={{TALKPAGENAME}}#Bình duyệt|alt=Mục từ này cần được bình duyệt|Mục từ này cần được bình duyệt]]&amp;lt;/indicator&amp;gt;&lt;br /&gt;
'''Thông tin học''' (A. Information Science),bộ môn khoa học nghiên cứu cấu trúc, tính chất, tác động và quy luật hoạt động của thông tin khoa học; lý luận, lịch sử, phương pháp và việc tổ chức, quản lý hoạt động thông tin khoa học; nhằm tìm các phương pháp và phương tiện thể hiện tối ưu cho việc thu thập, xử lý, phân tích, tổng hợp, lưu giữ, tìm kiếm, phổ biến và sử dụng thông tin khoa học trong các lĩnh vực hoạt động khác nhau.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Cơ sở lý luận và phương pháp luận khoa học chủ yếu của Thông tin học  (TTH) là sinh lý học thần kinh, tâm lý học, khoa học máy tính, công trình hệ thống, khoa học thông tin, khoa học điều khiển,v.v.. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
TTH nghiên cứu những vấn đề chủ yếu sau: 1) lý luận về nguyên lý thông tin của thế giới khách quan, nghiên cứu những quy luật làm thế nào để nắm vững cơ chế sản xuất, thu nhận thông tin của sinh vật, con người và máy móc; 2) xây dựng lý luận nhận biết thông tin trên cơ sở toán học ảo. Trong xã hội loài người, thông tin được thể hiện qua các hình thức ngôn ngữ, âm thanh, đồ họa, văn tự, v.v. mà hệ thống máy tính vẫn chưa hoàn toàn giải quyết triệt để vấn đề nhận biết thông tin; 3) lý luận về trí tuệ nhân tạo. Do sự xuất hiện của máy tính, hệ thống chuyên gia và máy móc, nên việc xây dựng lý luận về trí tuệ nhân tạo càng trở nên cấp bách; 4) nghiên cứu về kết cấu và tầng thứ của thông tin, như việc thống kê, phân loại sản nghiệp thông tin xã hội; 5) nghiên cứu về hệ thống thông tin như quá trình chỉnh thể về thu thập, xử lý, phân tích tổng hợp, lưu giữ, tìm kiếm, phổ biến thông tin; 6) những vấn đề về sử dụng thông tin như quản lý thông tin và hiệu quả kinh tế của thông tin.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Là chuyên ngành khoa học mới, đến giữa thế kỷ XX mới được giới khoa học thừa nhận, nhưng tiền đề hình thành và phát triển của TTH đã có từ xa xưa. Các học giả Michel de Montaigne thế kỷ XVI, René Descartes, Baruch Spinoza,… thế kỷ XVII, XVIII đã quan tâm nghiên cứu. Đặc biệt, nhà bác học Claude Elwood Shannon đã nghiên cứu xây dựng lý thuyết về TTH vào năm 1948. Thế nhưng, từ thập niên 40 đến thập niên 60 thế kỷ XX, TTH vẫn còn chưa có một khái niệm thật sự vững chắc. Những năm 40 thế kỷ XX, tại Vương quốc Anh, thuật ngữ “nhà TTH” (''information scientist'') chỉ để dùng định danh cho các cán bộ thực hiện việc tìm tin giúp cho các nhà khoa học. Năm 1948, Hội Hoàng gia London chủ trì tổ chức Hội nghị Thông tin quốc tế đầu tiên và gần 10 năm sau, Quỹ Khoa học quốc tế Hoa Kỳ tổ chức Hội nghị khoa học quốc tế về thông tin thì TTH đã khẳng định sự tồn tại của mình như một pháp nhân khoa học. Năm 1956, nhà khoa học H. Hanson đã sử dụng thuật ngữ ''“Information Science”'' làm tên gọi chính thức của ngành khoa học thông tin. Từ những nghiên cứu được khẳng định này, nhiều nước đã thành lập các viện nghiên cứu về TTH, nhiều trường chuyên đào tạo cán bộ cho lĩnh vực TTH, nhiều hiệp hội khoa học về thông tin và TTH trên thế giới cũng hình thành và phát triển. Trong quá trình phát triển và tương tác với các lĩnh vực khoa học khác có liên quan, cho đến nay, bộ khung các khái niệm - phạm trù đặc trưng cho lĩnh vực TTH đã từng bước hoàn thiện nhằm phản ánh và phát triển những hiểu biết của con người về thông tin khoa học. Những nhánh lớn của bộ khung này có thể bao gồm: 1) các phần chung; 2) những vấn đề lý thuyết của TTH (đối tượng, phương pháp, cơ cấu và đặc điểm của TTH, mối quan hệ của TTH với các khoa học khác; 3) nguồn tin và nguồn lực thông tin; 4) xử lý, phân tích và biến đổi thông tin; 5) dịch văn bản tự động; 6) lưu giữ và tìm tin; 7) phục vụ thông tin và đảm bảo thông tin; 8) phương tiện kỹ thuật và đảm bảo công nghệ trong hoạt động thông tin; 9) tổ chức và lịch sử hoạt động thông tin. Từ khái niệm bao trùm “thông tin” như một phạm trù của khoa học tổng quát, là khái niệm nền tảng của Cybernetics - ngành khoa học về quá trình điều khiển và liên lạc trong các hệ thống được cụ thể hóa thành các dạng thông tin cụ thể được coi như đối tượng nghiên cứu của TTH như: thông tin tư liệu, thông tin dữ kiện, thông tin văn bản, thông tin ngữ nghĩa, thông tin logic.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Đặc trưng cơ bản của hoạt động thông tin khoa học là các quá trình: sản sinh, thu thập, hệ thống hóa, phân loại, xử lý, phân tích, tổng hợp, lưu giữ, tìm kiếm, phổ biến, khai thác và sử dụng thông tin. Các thuật ngữ (khái niệm) chuyên môn như: nguồn tin, yêu cầu tin, độ phù hợp của tin, mẫu tìm tin, lệnh tìm tin, chiến lược tìm tin, ngôn ngữ tìm tin, từ khóa, từ chuẩn tìm tin, hệ thống tìm tin, định chỉ số (''indexing''), mã hóa, xếp hạng, mảng tìm, kho tra cứu tin, cơ sở dữ liệu, hệ thống thông tin tổ hợp, tệp tin, file văn bản, file ảnh,… đã có vị trí vững chắc trong TTH.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Việc nghiên cứu các hiện tượng, tính chất và quy luật của thông tin khoa học còn nhiều khó khăn. Trong tương lai, khi đã tích lũy một số vốn tri thức đầy đủ hơn về lĩnh vực này, TTH sẽ lĩnh trách nhiệm nghiên cứu và sử dụng các phương pháp khoa học đúng đắn đã có thể mô tả nhất quán nhằm giải quyết triệt để toàn bộ vấn đề thông tin.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Trong quá trình phát triển ngành TTH, thường gặp bốn lĩnh vực liên quan mật thiết với nhau: 1) Thông tin khoa học (''Science Information''): trao đổi thông tin trong khoa học và công nghệ. 2) Công nghệ thông tin ứng dụng (''Information Technology''): sử dụng công nghệ, đặc biệt là tin học và viễn thông trong việc xử lý và trao đổi thông tin. 3) Hệ thống thông tin (''Information System''): áp dụng các phương pháp khoa học vào các vấn đề thực tiễn của thông tin. 4) TTH (''Information Science''): nghiên cứu khoa học về các quá trình trao đổi thông tin trong xã hội.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Xét trên bình diện thực tiễn và phương pháp luận khoa học, đôi khi cả bốn vấn đề trên đều được hiểu là TTH.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Trên cơ sở đó, TTH có mối quan hệ rộng rãi với nhiều bộ môn khoa học thuộc các khu vực tự nhiên, kỹ thuật, chính trị, xã hội và nhân văn. Mối quan hệ nhiều mặt này của TTH được giải thích bằng nội dung và tính chất bao trùm của khái niệm thông tin và lịch sử tồn tại lâu đời của hoạt động thông tin với tư cách là chuyên ngành khoa học. Xét một cách cụ thể, TTH có quan hệ mật thiết với các chuyên ngành khoa học sau:&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
''TTH với lý thuyết thông tin''. Đây là lý thuyết liên quan đến các định luật toán học chi phối việc truyền, tiếp nhận và xử lý thông tin (đề cập đến các vấn đề về số lượng thông tin, biểu diễn thông tin và xem xét khả năng của các hệ thống truyền thông có nhiệm vụ truyền, nhận và xử lý thông tin).&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
''TTH với lý thuyết mã hóa''. Đây là khoa học nghiên cứu về hệ thống các dấu hiệu cùng với những tính chất, quy luật cơ bản của các hệ thống này và các hình thức mã hóa (chuyển tải thông tin vào hình thức biểu diễn nó như ngôn ngữ, chữ viết) để biểu diễn các thông tin ngữ nghĩa trong hệ thống thông tin của mình. Lý thuyết này có đóng góp quan trọng trong hệ thống thông tin.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
''TTH với điều khiển học''. Đây là khoa học tổng quát về quá trình điều khiển. Xuất hiện từ nhu cầu tự động hóa quá trình sản xuất. Nhất thiết phải có các yếu tố sau trong quá trình điều khiển: Tiếp nhận được các thông tin chính xác về những điều kiện và tình hình ảnh hưởng tới hoạt động của hệ điều khiển; Xử lý những thông tin tiếp nhận được, từ đó đề ra chương trình hoạt động tốt nhất; Truyền đạt yêu cầu thực hiện (ra lệnh thực hiện) chương trình; Kiểm tra sự thực hiện chương trình bằng cách tổ chức thông tin phản hồi về kết quả hoạt động trong từng giai đoạn, trên cơ sở đó điều chỉnh các sai lệch có thể xảy ra.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Điều khiển học chính là khoa học nghiên cứu, thu thập, bảo quản thông tin trong máy móc, cơ thể sinh vật (thông qua các phương tiện tự động hóa cho quá trình này). TTH cũng vận dụng các phương pháp tự động hóa để xây dựng hệ thống của mình.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
''TTH với ngôn ngữ học''. Chức năng của ngôn ngữ là chuyển tải thông tin, do đó, ngôn ngữ là công cụ truyền tin. TTH nghiên cứu về ngôn ngữ học dưới góc độ là công cụ hỗ trợ cho quá trình thông tin, đó là quá trình giao tiếp giữa con người với con người, giữa con người với máy móc (điều khiển học, máy tính,…).&lt;br /&gt;
TTH với tin học. Tin học là khoa học xử lý thông tin một cách hơp lý và tự động bằng việc sử dụng các thiết bị kỹ thuật hiện đại mà chủ yếu là máy tính điện tử và các chương trình xử lý thông tin. Quan hệ giữa TTH và tin học chính là phương tiện, phương pháp hỗ trợ cho khoa học thông tin.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Những năm cuối thế kỷ XX, ngày càng xuất hiện và phát triển mạnh mẽ xu hướng thống nhất TTH với một số chuyên ngành liên quan khác thành khoa học tổng hợp về thông tin như: logic toán học, thống kê toán học, lý thuyết thông tin, lý thuyết xác suất, kỹ thuật máy tính, dấu hiệu học, điều khiển học, ngôn ngữ học, tâm lý học, thư viện, thư mục, lưu trữ học, tư liệu học. Trên thực tế, TTH không đóng vai trò là một môn khoa học khái quát ở cấp độ cao hơn, bởi hệ thống các môn khoa học không xây dựng theo ngôi thứ các đối tượng mà chúng nghiên cứu.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
TTH có những quy luật cơ bản, những quy luật khách quan, đặc trưng cho đối tượng nghiên cứu của mình làm cơ sở xây dựng các cơ chế điều khiển các quá trình thông tin trong khoa học. Trước hết, có thể kể đến quy luật gia tăng tài liệu thông tin nói chung và thông tin khoa học nói riêng. Đây là quy luật đặc trưng, khách quan do xã hội càng phát triển, thông tin và tri thức càng tăng, càng trở nên quan trọng, đóng vai trò là động lực thúc đẩy. Cùng với quy luật trên, còn có các quy luật khách quan như: quy luật phân tán tài liệu của S. C. Bradford, quy luật phân bố và ổn định hệ thống cấu trúc văn bản của Zipf, quy luật lỗi thời tin tức theo thời gian, luật trọng trường thông tin, “thanh cuốn” thông tin với giá trị gia tăng, luật phân bố trích dẫn các ấn phẩm,…&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Là bộ môn khoa học tổng hợp, TTH là một sự đáp ứng cụ thể của khoa học đối với yêu cầu của xã hội. Xét một cách tổng thể, nhiệm vụ của TTH không gì khác là nghiên cứu phát hiện các quy luật vận động của thông tin, xây dựng các phương pháp thiết kế và sử dụng các công cụ cần thiết để nâng cao năng lực quản trị và kiểm soát thông tin, hạn chế và khắc phục cuộc khủng hoảng thông tin đang diễn ra hiện nay, biến thông tin trở thành tài nguyên quan trọng phục vụ đắc lực cho các hoạt động hữu ích của con người, nguồn động lực thúc đẩy xã hội không ngừng phát triển vì tương lai tươi sáng của nhân loại.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
=='''Tài liệu tham khảo'''==&lt;br /&gt;
# Hoàng Phê (chủ biên), Từ điển tiếng Việt, Nxb. Đà Nẵng, 1997.&lt;br /&gt;
# Almanach Những nền văn minh thế giới, Nxb. Văn hóa thông tin, Hà Nội, 1999.&lt;br /&gt;
# Bách khoa tri thức phổ thông, Nxb. Văn hóa Thông tin, Hà Nội, 2000.&lt;br /&gt;
# Bộ Quốc phòng, Trung tâm Từ điển Bách khoa quân sự Việt Nam, Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2004.&lt;br /&gt;
# Nguyễn Văn Đạm, Từ điển tiếng Việt tường giải và linh cảm, Nxb. Văn hóa Thông tin, Hà Nội, 2004.&lt;br /&gt;
# Hội đồng Bách khoa chỉ đạo biên soạn Từ điển Bách khoa Việt Nam, Từ điển Bách khoa Việt Nam, tập 4,Nxb. Từ điển Bách khoa, Hà Nội, 2005.&lt;br /&gt;
# Nguyễn Hữu Hùng, Thông tin: Từ lý luận đến thực tiễn, Nxb. Văn hóa Thông tin, Hà Nội, 2005.&lt;br /&gt;
# Bách khoa tri thức phổ thông, Tái bản lần thứ mười một (có chỉnh sửa và bổ sung), Nxb. Lao động, Hà Nội, 2012.&lt;/div&gt;</summary>
		<author><name>Deepmind2</name></author>
	</entry>
	<entry>
		<id>https://bktt.vn/index.php?title=Th%E1%BB%9Di_b%C3%A1o_ng%C3%A2n_h%C3%A0ng&amp;diff=22437</id>
		<title>Thời báo ngân hàng</title>
		<link rel="alternate" type="text/html" href="https://bktt.vn/index.php?title=Th%E1%BB%9Di_b%C3%A1o_ng%C3%A2n_h%C3%A0ng&amp;diff=22437"/>
		<updated>2023-01-11T09:10:25Z</updated>

		<summary type="html">&lt;p&gt;Deepmind2: Tạo trang mới với nội dung “&amp;lt;indicator name=&amp;quot;mới&amp;quot;&amp;gt;File:UnderCon icon.svg|40px|link={{TALKPAGENAME}}#Bình duyệt|alt=Mục từ này cần được bình duyệt|Mục từ này…”&lt;/p&gt;
&lt;hr /&gt;
&lt;div&gt;&amp;lt;indicator name=&amp;quot;mới&amp;quot;&amp;gt;[[File:UnderCon icon.svg|40px|link={{TALKPAGENAME}}#Bình duyệt|alt=Mục từ này cần được bình duyệt|Mục từ này cần được bình duyệt]]&amp;lt;/indicator&amp;gt;&lt;br /&gt;
'''Thời báo ngân hàng''' ''(Vietnam Banking Times)'' cơ quan ngôn luận của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, ra đời ngày 15 tháng 8 năm 1990, với tên gọi là Bản tin Hoạt động Ngân hàng. Năm 1994, Bản tin Hoạt động Ngân hàng được nâng cấp và chuyển thành ''Thời báo Ngân hàng (TBNH)''. TBNH đã có bước phát triển vượt bậc cả về quy mô và chất lượng hoạt động. Từ một bản tin khổ A4 được xuất bản 02 kỳ/tháng, đến nay TBNH được xuất bản với thời lượng 03 kỳ/tuần. Tòa soạn TBNH được đặt tại số 504, Xã Đàn, quận Đống Đa, Hà Nội.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
TBNH có chức năng tuyên truyền, phổ biến đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước và hoạt động của ngành Ngân hàng theo quy định của Ngân hàng Nhà nước và của pháp luật. Chính vì vậy, TBNH quy tụ được nhiều bài phân tích, bình luận của các chuyên gia kinh tế, các nhà khoa học về các vấn đề nổi cộm trong đời sống kinh tế - xã hội của đất nước; Là diễn đàn để giới chuyên gia, các nhà khoa học, cũng như người dân và doanh nghiệp đóng góp ý kiến xây dựng chính sách, nhất là chính sách tiền tệ. TBNH là cầu nối phản ánh tâm tư, nguyện vọng của người dân, doanh nghiệp đến với các cơ quan quản lý, qua đó hỗ trợ tích cực cho các cơ quan quản lý trong việc điều hành và ban hành chính sách, để chính sách sát với cuộc sống và nhanh chóng đi vào cuộc sống.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Không chỉ phát triển về quy mô, thương hiệu, TBNH ngày càng khẳng định vị thế là một tờ báo chuyên sâu về kinh tế, đặc biệt là về lĩnh vực tài chính - ngân hàng. TBNH là kênh thông tin chính thức của ngành Ngân hàng, chuyển tải các thông điệp về điều hành chính sách tiền tệ của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và hoạt động của các ngân hàng thương mại, các tổ chức tín dụng đến với người dân và doanh nghiệp và toàn xã hội.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Với các chuyên mục bao quát khá đầy đủ các lĩnh vực của đời sống kinh tế - xã hội trong nước và quốc tế như: Tin tức - Sự kiện; Thị trường tiền tệ; Đầu tư – Tài chính; Doanh nghiệp; Văn hóa - Xã hội; Bạn đọc; Thị trường - Hội nhập; Thương hiệu… ấn phẩm báo in của TBNH đã cập nhật kịp thời mọi thông tin về đời sống kinh tế - xã hội trong nước và quốc tế với góc nhìn của các chuyên gia, các ngâ hàng thương mại và người dân đến với độc giả.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
TBNH có các ấn phẩm khác như : “Tin Ngân hàng bằng tiếng Anh”, xuất bản từ ngày 17 tháng 8 năm 1993, sau đó được đổi tên thành Vietnam Banking Review. Tờ Vietnam Banking Review ra đời với mục đích phục vụ bạn đọc nước ngoài quan tâm đến các thông tin và hoạt động tài chính, ngân hàng của Việt Nam. Tuy nhiên, “Tin Ngân hàng bằng tiếng Anh” đã dừng xuất bản vào quý II.2003.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Ngày 18 tháng 5 năm 2012, TBNH chính thức ra mắt trang thông tin điện tử thoibaonganhang.vn, và được nâng cấp thay thế bằng Báo điện tử thoibaonganhang.vn năm 2016. Ấn phẩm báo điện tử thoibaonganhang.vn với các chuyên mục: Sự kiện (Kinh tế - Chính trị); Tài chính - Tiền tệ; Chứng khoán; Bất động sản; Doanh nghiệp- Doanh nhân; Thông tin thị trường; Pháp luật, Văn hóa, vv ngày càng đáp ứng nhu cầu thông tin nhanh của người dân, doanh nghiệp. Tháng 11 năm 2019, TBNH tiếp tục nâng cấp giao diện báo điện tử và ra mắt chuyên trang Dịch vụ Ngân hàng hiện địa trên báo điện tử nhằm giúp người dân, doanh nghiệp hiểu và tiếp cận với các sản phẩm - dịch vụ ngân hàng trong kỷ nguyên số. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Từ khi ra đời cho đến nay, TBNH là kênh thông tin tài chính, ngân hàng phục vụ người dân và doanh nghiệp, đặc biệt là hệ thống các tổ chức tín dụng quan tâm và đón đọc hàng ngày.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
=='''Tài liệu tham khảo'''==&lt;br /&gt;
# Kiều Vân, Thời báo Ngân Hàng, 13.8.2020, “Báo chí - truyền thông là trụ cột quan trọng của ngành Ngân hàng&amp;quot;&lt;br /&gt;
# Kiều Vân, Thời báo Ngân hàng, 13.8.2015, “Thông tin chính xác, kịp thời về điều hành chính sách tiền tệ&amp;quot;&lt;br /&gt;
# Kỷ yếu &amp;quot;Dấu ấn tuổi 15&amp;quot;, 2005, Thời báo Ngân hàng xuất bản theo Giấy phép xuất bản số 179/QĐ-CXB ngày 20.7. của Cục Xuất bản, Bộ Văn hóa - Thông tin&lt;br /&gt;
# Lê Minh Hưng,Thư chúc mừng của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước nhân dịp kỷ niệm 30 năm ngày Thời báo Ngân hàng xuất bản số báo đầu tiên”,Thời báo Ngân hàng, 2020,“https://thoibaonganhang.vn/thu-chuc-mung-cua-thong-doc-ngan-hang-nha-nuoc-nhan-dip-ky-niem-30-nam-ngay-thoi-bao-ngan-hang-xuat-ban-so-bao-dau-tien-105156.html&lt;/div&gt;</summary>
		<author><name>Deepmind2</name></author>
	</entry>
	<entry>
		<id>https://bktt.vn/index.php?title=Thanh_ni%C3%AAn&amp;diff=22435</id>
		<title>Thanh niên</title>
		<link rel="alternate" type="text/html" href="https://bktt.vn/index.php?title=Thanh_ni%C3%AAn&amp;diff=22435"/>
		<updated>2023-01-11T08:57:49Z</updated>

		<summary type="html">&lt;p&gt;Deepmind2: Tạo trang mới với nội dung “&amp;lt;indicator name=&amp;quot;mới&amp;quot;&amp;gt;File:UnderCon icon.svg|40px|link={{TALKPAGENAME}}#Bình duyệt|alt=Mục từ này cần được bình duyệt|Mục từ này…”&lt;/p&gt;
&lt;hr /&gt;
&lt;div&gt;&amp;lt;indicator name=&amp;quot;mới&amp;quot;&amp;gt;[[File:UnderCon icon.svg|40px|link={{TALKPAGENAME}}#Bình duyệt|alt=Mục từ này cần được bình duyệt|Mục từ này cần được bình duyệt]]&amp;lt;/indicator&amp;gt;&lt;br /&gt;
'''Thanh niên''' là tờ báo cách mạng do lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc sáng lập, số đầu ra ngày 21 tháng 6 năm 1925, mở đầu cho lịch sử báo chí cách mạng Việt Nam.&lt;br /&gt;
Tháng 11 năm 1924, Nguyễn Ái Quốc từ Liên Xô đến Quảng Châu, một trung tâm cách mạng ở châu Á, theo sự phân công của Bộ Phương Đông, Quốc tế Cộng sản. Việc đến Quảng Châu cũng là nguyện vọng của Nguyễn Ái Quốc với mục đích chuẩn bị “trở về nước, đi vào quần chúng, thức tỉnh họ, tổ chức họ, huấn luyện họ, đưa họ ra đấu tranh giành tự do độc lập”. Với sự giúp đỡ của Lãnh sự quán Liên Xô và Đảng Cộng sản Trung Quốc, Nguyễn Ái Quốc đã lập ra tổ chức Việt Nam Thanh niên Cách mạng Đồng chí Hội, lựa chọn những thanh niên yêu nước ưu tú để tổ chức các lớp đào tạo về lý luận và phương pháp công tác cách mạng, chuẩn bị tư tưởng, tổ chức, cán bộ cho sự ra đời của một đảng Mácxít của Việt Nam. Đồng thời với công tác tổ chức, đào tạo cán bộ, Nguyễn Ái Quốc chủ trương xuất bản một tờ báo Thanh niên (TN) - cơ quan ngôn luận của Việt Nam Thanh niên Cách mạng Đồng chí Hội, nhằm truyền bá Chủ nghĩa Mác - Lê nin, lý luận cách mạng, tuyên truyền, hướng dẫn, tổ chức phong trào cách mạng trong nước. Trụ sở báo đặt tại số nhà 13 (nay là số 248 - 250), đường Văn Minh, Quảng Châu, tỉnh Quảng Đông, Trung Quốc. Tham gia làm báo từ những ngày đầu tiên có các nhà cách mạng: Lê Hồng Sơn, Hồ Tùng Mậu, Lê Duy Điếm, Trương Văn Lĩnh... Trong một báo cáo gửi Quốc tế Cộng sản, Nguyễn Ái Quốc đã thông báo: “Ở đây, chúng tôi đã xuất bản tờ báo hằng tuần Thanh niên”.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Báo TN ra số đầu ngày 21 tháng 6 năm 1925 và số 202 - số cuối cùng ngày 14 tháng 02 năm 1930. Măng sét báo có hai chữ Thanh niên bằng tiếng Việt Nam và tiếng Trung Quốc. Chỉ số của mỗi số báo được ghi vào trong hình sao năm cánh ở bên trái và ngày ra báo ghi ở góc dưới bên phải măng sét. Các bài báo đều viết bằng chữ quốc ngữ, riêng đầu đề một số chuyên mục được viết bằng chữ Trung Quốc. Do phẩn lớn các bài báo không ghi tên tác giả, các bài có tên tác giả cũng là bút danh, vì thế khó có thể xác định bài viết nào là của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc. Thời gian đầu, TN xuất bản hằng tuần vào ngày chủ nhật, in trên khổ giấy không đồng nhất, chủ yếu là 18 cm x 24 cm, mỗi số chỉ vài trăm bản. Số trang của báo không cố định, phần lớn chỉ có hai trang, còn lại là bốn trang và đôi khi lên năm trang. Mỗi trang báo chia làm hai cột. Về sau, do điều kiện khó khăn, TN không còn giữ được định kỳ ổn định, đôi khi ba đến năm  tuần mới ra được một số báo. Từ Trung Quốc, báo TN được chuyển về Việt Nam theo những đường dây bí mật. Báo còn được bí mật chuyển tới các tổ chức cách mạng người Việt Nam ở Trung Quốc, Thái Lan, Pháp nhưng không nhiều và không đều đặn.&lt;br /&gt;
 &lt;br /&gt;
Trang đầu báo Thanh niên số ra ngày 03-10-1926 (Ảnh tư liệu)&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Trên mặt báo TN thường có các mục: Xã luận, Bình luận, Phụ nữ đàn, Vấn đáp, Thơ ca, Phê bình, Trả lời bạn đọc, v.v.. Nội dung của báo tập trung truyên truyền về Chủ nghĩa Mác - Lê nin, kinh nghiệm cách mạng thế giới, phân tích tình hình trong nước và quốc tế, tố cáo chế độ thống trị của thực dân Pháp, khơi dậy truyền thống yêu nước, động viên nhân dân đứng lên đấu tranh giành tự do, độc lập. Nhận xét về báo TN và vai trò của Nguyễn Ái Quốc, Giám đốc Sở Mật thám Đông Dương lúc bấy giờ Louis Marty đã viết trong một báo cáo gửi Bộ Thuộc địa Pháp: “Những tờ Thanh niên đầu tiên nhấn mạnh về sự đoàn kết nội bộ, nhờ đó mà đoàn thể có sức mạnh và những cá nhân trong đoàn thể làm việc có kết quả hơn. Đồng thời, báo cũng cổ vũ tinh thần độc lập dân tộc và lòng yêu nước mà người Việt Nam lúc bấy giờ đang háo hức chờ dịp để thi thố. Sau đó, tờ báo giúp bạn đọc nhận định về tình hình thế giới, đặc biệt là những biến chuyển vừa xẩy ra trong lịch sử các cường quốc... Tờ báo hướng dẫn từ từ cho mọi người hiểu rằng hiện nay trên thế giới đã có nước Nga theo chế độ Xô-viết, dân ở nước Xô-viết ấy sống tự do hạnh phúc. Nguyễn Ái Quốc, người chủ biên báo Thanh niên, tỏ ra kiên nhẫn, suốt trong 60 số báo đầu để cho bạn đọc chuẩn bị tinh thần và tình cảm rồi sau cùng mới bày  tỏ công khai chủ trương của mình: chỉ có Đảng cộng sản mới có thể đem lại hạnh phúc cho dân tộc Việt Nam”.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Nguyễn Ái Quốc là người trực tiếp chỉ đạo tám mươi tám số báo đầu, trong khoảng thời gian từ tháng 6 năm 1925 đến tháng 4 năm 1927. Khi Công xã Quảng Châu bùng nổ vào tháng 4 năm 1927, Chính phủ Tưởng Giới Thạch ra tay đàn áp khủng bố những người cách mạng, Nguyễn Ái Quốc buộc phải rời Quảng Châu đi Liên Xô. Những học trò của Người cũng chuyển đến Hồng Công và tiếp tục xuất bản báo TN tại đây cho đến tháng 2 năm 1930. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Với việc sáng lập báo TN, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc trở thành người khai sinh nền báo chí cách mạng Việt Nam. Theo quyết định số 52, ngày 05 tháng 02 năm 1985 của Ban Bí thư Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, ngày 21 tháng 6 năm 1925 - ngày xuất bản số 1 của báo TN được lấy làm ''Ngày Báo chí cách mạng Việt Nam''.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
=='''Tài liệu tham khảo'''==&lt;br /&gt;
# Hồ Chí Minh: Thư gửi các bạn cùng hoạt động ở Pháp, Toàn tập, Nxb CTQG, HN, 2011, tập 1, tr. 208-210.&lt;br /&gt;
# Hồ Chí Minh: Báo cáo gửi Quốc tế Cộng sản (Báo cáo của Đông Dương), Toàn tập, Sđd, t. 2, tr. 238-239.&lt;br /&gt;
# Nguyễn Thành: Sự nghiệp báo chí của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Nxb Văn hóa - Thông tin, HN, 1995.&lt;br /&gt;
# Tạ Ngọc Tấn: Nhận diện hoạt động báo chí của Hồ Chí Minh, tạp chí Báo chí và Tuyên truyền, số 3 (tháng 5+6)/2001 và số 4 (tháng 7+8)/2001.&lt;/div&gt;</summary>
		<author><name>Deepmind2</name></author>
	</entry>
	<entry>
		<id>https://bktt.vn/index.php?title=T%E1%BA%ADp_%C4%91o%C3%A0n_b%C6%B0u_ch%C3%ADnh_vi%E1%BB%85n_th%C3%B4ng_Vi%E1%BB%87t_Nam&amp;diff=22426</id>
		<title>Tập đoàn bưu chính viễn thông Việt Nam</title>
		<link rel="alternate" type="text/html" href="https://bktt.vn/index.php?title=T%E1%BA%ADp_%C4%91o%C3%A0n_b%C6%B0u_ch%C3%ADnh_vi%E1%BB%85n_th%C3%B4ng_Vi%E1%BB%87t_Nam&amp;diff=22426"/>
		<updated>2023-01-11T06:03:35Z</updated>

		<summary type="html">&lt;p&gt;Deepmind2: Tạo trang mới với nội dung “&amp;lt;indicator name=&amp;quot;mới&amp;quot;&amp;gt;File:UnderCon icon.svg|40px|link={{TALKPAGENAME}}#Bình duyệt|alt=Mục từ này cần được bình duyệt|Mục từ này…”&lt;/p&gt;
&lt;hr /&gt;
&lt;div&gt;&amp;lt;indicator name=&amp;quot;mới&amp;quot;&amp;gt;[[File:UnderCon icon.svg|40px|link={{TALKPAGENAME}}#Bình duyệt|alt=Mục từ này cần được bình duyệt|Mục từ này cần được bình duyệt]]&amp;lt;/indicator&amp;gt;&lt;br /&gt;
'''Tập đoàn bưu chính viễn thông Việt Nam''' (tên giao dịch quốc tế: Vietnam Posts and Telecommmunications Group, viết tắt: VNPT) công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên do Nhà nước sở hữu 100% vốn điều lệ; có tư cách pháp nhân; có con dấu, biểu tượng, nhãn hiệu, thương hiệu; được mở tài khoản tại Kho bạc Nhà nước, các ngân hàng thương mại trong nước và nước ngoài theo quy định của pháp luật; tổ chức và hoạt động theo quy định của Luật Doanh nghiệp; các quy định pháp luật có liên quan và Điều lệ Tổ chức và Hoạt động do Thủ tướng Chính phủ phê duyệt; có trụ sở chính tại số 57 Huỳnh Thúc Kháng, Láng Hạ, Đống Đa, Hà Nội.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Ngày 9 tháng 1 năm 2006, VNPT được thành lập theo Quyết định của Thủ tướng Chính phủ trên cơ sở tổ chức lại Tổng công ty Bưu chính Viễn thông Việt Nam, Công ty viễn thông liên tỉnh, Công ty viễn thông quốc tế và một bộ phận của Công ty Tài chính Bưu điện. Theo đó, VNPT là công ty nhà nước, có tư cách pháp nhân, con dấu, biểu tượng, Điều lệ tổ chức và hoạt động (theo Quyết định của Thủ tướng Chính phủ số 180/QĐ-TTg ngày 28 tháng 1 năm 2011); được mở tài khoản tại Kho bạc Nhà nước, ngân hàng theo quy định của pháp luật; thực hiện chế độ hạch toán và hoạt động theo Luật Doanh nghiệp; chịu trách nhiệm kế thừa các quyền, nghĩa vụ pháp lý và lợi ích hợp pháp của Tổng công ty Bưu chính Viễn thông Việt Nam. Theo Quyết định này, các đơn vị thành viên của VNPT gồm: (1) Tổng công ty Bưu chính Việt Nam (VNPost); (2) các Tổng công ty Viễn thông I, II, III hoạt động theo mô hình công ty mẹ-công ty con, do Tập đoàn nắm giữ 100% vốn điều lệ; (3) các công ty do Tập đoàn nắm giữ 100% vốn điều lệ; (4) các công ty do Tập đoàn nắm giữ trên 50% vốn điều lệ; (5) các công ty do Tập đoàn nắm giữ dưới 50% vốn điều lệ; (6) Các đơn vị sự nghiệp của VNPT.&lt;br /&gt;
Ngày 24 tháng 6 năm 2010, VNPT chuyển đổi hoạt động sang mô hình Công ty TNHH một thành viên do Nhà nước làm chủ sở hữu.&lt;br /&gt;
 &lt;br /&gt;
Tòa nhà VNPT, số 57, phố Huỳnh Thúc Kháng,&lt;br /&gt;
phường Láng Hạ, quận Đống Đa, Hà Nội (Ảnh LVT)&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
VNPT, công ty mẹ, là doanh nghiệp cấp I trong Tập đoàn Bưu chính Viễn thông quốc gia Việt Nam (gọi tắt là Tập đoàn VNPT, là một nhóm công ty hoạt động theo hình thức công ty mẹ-công ty con, không có tư cách pháp nhân, được gắn bó chặt chẽ và lâu dài với nhau về lợi ích kinh tế, công nghệ, thị trường và các dịch vụ kinh doanh khác). VNPT và các doanh nghiệp trong Tập đoàn VNPT có tư cách pháp nhân; có vốn và tài sản riêng; có quyền chiếm hữu, định đoạt tài sản của mình theo quy định của pháp luật và theo thỏa thuận chung giữa các doanh nghiệp trong Tập đoàn VNPT.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
VNPT chịu sự quản lý nhà nước của Chính phủ, các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương theo quy định của pháp luật.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Ngành, nghề kinh doanh chính của VNPT gồm: 1) Sản phẩm, dịch vụ viễn thông, công nghệ thông tin, truyền thông đa phương tiện; 2) Tư vấn, khảo sát, thiết kế, lắp đặt, khai thác, bảo dưỡng, sửa chữa, cho thuê công trình, thiết bị viễn thông, CNTT; 3) Nghiên cứu, phát triển, chế tạo, sản xuất, kinh doanh, xuất khẩu, nhập khẩu thiết bị, sản phẩm viễn thông, CNTT, truyền thông đa phương tiện.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Ngành nghề kinh doanh có liên quan của VNPT gồm: 1) Đầu tư tài chính trong lĩnh vực viễn thông, CNTT và truyền thông đa phương tiện; 2) Quảng cáo, nghiên cứu thị trường, tổ chức hội nghị, hội thảo, triển lãm liên quan đến ngành, nghề kinh doanh chính; bồi dưỡng, cung cấp nguồn nhân lực trong lĩnh vực viễn thông, CNTT và truyền thông đa phương tiện; 3) Kinh doanh dịch vụ cho thuê văn phòng, cơ sở nhà đất hiện có của VNPT.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
VNPT có thể bổ sung các ngành, nghề kinh doanh khác sau khi được chủ sở hữu nhà nước chấp thuận.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Cơ cấu tổ chức quản lý, điều hành của VNPT gồm: 1) Hội đồng thành viên là đại diện chủ sở hữu nhà nước trực tiếp của VNPT, có bảy thành viên, gồm: Chủ tịch, là thành viên chuyên trách, do Thủ tướng Chính phủ bổ nhiệm, không kiêm chức vụ Tổng Giám đốc VNPT và các chức danh quản lý khác của VNPT; có thể có một thành viên kiêm Tổng Giám đốc VNPT và các thành viên chuyên trách khác. Nhiệm kỳ thành viên của Hội đồng thành viên không quá năm năm. Thành viên của Hội đồng thành viên có thể được bổ nhiệm lại nhưng không quá hai nhiệm kỳ. 2) Tổng Giám đốc là người đại diện theo pháp luật, điều hành hoạt động hàng ngày của VNPT, do Hội đồng thành viên quyết định bổ nhiệm, bổ nhiệm lại, miễn nhiệm, khen thưởng, kỷ luật sau khi có ý kiến chấp thuận bằng văn bản của Bộ Thông tin và Truyền thông. Tổng Giám đốc được bổ nhiệm với nhiệm kỳ không quá năm năm và có thể được bổ nhiệm lại. 3) Kiểm soát viên. 4) Các Phó Tổng Giám đốc, Kế toán trưởng, do Hội đồng thành viên VNPT bổ nhiệm, miễn nhiệm, ký hợp đồng, khen thưởng, kỷ luật, quyết định mức lương và các lợi ích khác theo đề nghị của Tổng Giám đốc VNPT với nhiệm kỳ không quá năm năm và có thể được bổ nhiệm lại hoặc ký tiếp hợp đồng. 5) Bộ máy giúp việc gồm: Bộ máy giúp việc Hội đồng thành viên; Văn phòng và các Ban chức năng của Tổng giám đốc.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Ngày 10 tháng 6 năm 2014 Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt Đề án tái cơ cấu VNPT. Cơ cấu của VNPT sau khi sắp xếp, tổ chức lại gồm: 1) Công ty mẹ-VNPT là công ty TNHH một thành viên do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ; có chức năng, nhiệm vụ chính là: Tổ chức, chỉ đạo hoạt động sản xuất kinh doanh toàn Tập đoàn; Nghiên cứu, xây dựng chiến lược, quy hoạch phát triển thị trường, mạng lưới, dịch vụ; Nghiên cứu, phát triển, ứng dụng công nghệ, sản phẩm, dịch vụ mới; Thực hiện công tác tổ chức, cán bộ, đào tạo nguồn nhân lực và đổi mới quản trị doanh nghiệp; Thực hiện công tác tài chính, kế toán, kế hoạch, đầu tư toàn Tập đoàn và pháp chế, hợp tác quốc tế, thanh tra, kiểm tra, thi đua, khen thưởng. 2) Các đơn vị hạch toán phụ thuộc gồm: Công ty Hạ tầng mạng (VNPT-Net); 63 Viễn thông tỉnh, thành phố (VNPT-tỉnh, thành phố); Trung tâm Nghiên cứu Phát triển (VNP-RD); Trường Trung học Bưu chính Viễn thông và Công nghệ thông tin 2. 3) Các công ty con gồm: Công ty TNHH một thành viên Dịch vụ Viễn thông (VNPT-Vinaphone); Công ty TNHH một thành viên Truyền thông (VNPT-Media); Công ty cổ phần Công nghệ công nghiệp Bưu chính Viễn thông (VNPT-Technology). 4) Các công ty do VNPT nắm giữ dưới 50% vốn điều lệ.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Bước vào thời kỳ hội nhập và phát triển, kế thừa và tiếp tục phát triển kết quả của Tổng công ty Bưu chính Viễn thông Việt Nam, VNPT luôn chủ động, sáng tạo, đổi mới về mô hình tổ chức, hoạt động, mạnh dạn tiếp cận và làm chủ công nghệ mới, chủ động vươn ra thị trường thế giới, đóng góp to lớn vào công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Có thể kể đến một số sự kiện lớn sau: năm 2008, VNPT hoàn thành việc chia tách bưu chính, viễn thông; ngày 1 tháng 1 năm 2008, VNPost chính thức đi vào hoạt động và có những đóng góp lớn lao (xt.: VNPost); VNPT phóng thành công vệ tinh đầu tiên của Việt Nam VINASAT-1 vào ngày 19 tháng 4 năm 2008 và VINASAT-2 vào ngày 16 tháng 5 năm 2012; ngày 5 tháng 4 năm 2009, VNPT hoàn thiện mạng truyền số liệu chuyên dùng phục vụ các cơ quan Đảng, chính quyền trên toàn quốc; ngày 28 tháng 9 năm 2009, VNPT chính thức khai trương dịch vụ truyền hình qua giao thức Internet IPTV với thương hiệu MyTV; ngày 12 tháng 10 năm 2009, Vinaphone chính thức khai trương mạng 3G và trở thành mạng đầu tiên tại Việt Nam cung cấp dịch vụ 3G; ngày 15 tháng 12 năm 2009, MobiPhone chính thức khai trương cung cấp dịch vụ 3G, trở thành mạng di động thứ hai cung cấp dịch vụ 3G; ngày 25 tháng 5 năm 2010, VNPT chính thức cung cấp dịch vụ Fiber VNN (Internet cáp quang); VinaPhone được đánh giá là nhà mạng có tốc độ 3G/4G nhanh nhất Việt Nam trong quý 3 tháng 4 năm 2019 với điểm tốc độ đạt 31.30 điểm do Ookla (trụ sở tại Hoa Kỳ), là một trong những tổ chức đo lường và phân tích tốc độ Internet uy tín nhất thế giới, công bố. Đây là năm thứ hai liên tiếp VinaPhone được nhận danh hiệu này. Ngày 19 tháng 12 năm 2020, VNPT chính thức công bố vùng phủ sóng VinaPhone 5G tại Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh;…&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
VNPT, tập đoàn kinh tế hàng đầu của đất nước, là doanh nghiệp chủ lực cung cấp các dịch vụ viễn thông, CNTT và bưu chính, có trình độ công nghệ, quản lý hiện đại và chuyên môn hóa cao, kết hợp nghiên cứu-đào tạo và sản xuất kinh doanh; là nhà cung cấp dịch vụ đầu tiên đặt nền móng cho sự phát triển ngành Bưu chính, Viễn thông Việt Nam; có vai trò chủ chốt trong việc đưa Việt Nam trở thành một trong mười quốc gia có tốc độ phát triển bưu chính viễn thông nhanh nhất toàn cầu. VNPT được trao tặng các danh hiệu: Anh hùng Lao động thời kỳ 1999-2000 (năm 2009); hai Huân chương Lao động hạng Nhất (thành tích toàn diện giai đoạn 2004-2008; thành tích thực hiện Dự án phóng Vệ tinh viễn thông Việt Nam); Huân chương Bảo vệ Tổ quốc hạng Ba; 03 Bằng khen của Thủ tướng Chính phủ; được trao giải thưởng quốc tế “Băng rộng thay đổi cuộc sống” (năm 2011) và nhiều danh hiệu cao quý khác.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
=='''Tài liệu tham khảo'''==&lt;br /&gt;
# Thủ tướng Chính phủ, Quyết định của Thủ tướng Chính phủ số 58/2005/QĐ-TTg ngày 23.3.2005 về việc phê duyệt đề án thí điểm hình thành Tập đoàn BCVT Việt Nam.&lt;br /&gt;
# Thủ tướng Chính phủ, Quyết định số 06/2006/QĐ-TTg ngày 09.1.2006 về việc thành lập Công ty mẹ-Tập đoàn Bưu chính Viễn thông Việt Nam.&lt;br /&gt;
# Thủ tướng Chính phủ, Quyết định số 995/QĐ-TTg ngày 24.6.2010 về việc chuyển Công ty mẹ-Tập đoàn Bưu chính Viễn thông Việt Nam thành công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên do Nhà nước làm chủ sở hữu.&lt;br /&gt;
# Thủ tướng Chính phủ, Quyết định số 180/QĐ-TTg ngày 28/1/2011 phê duyệt Điều lệ Tổ chức và Hoạt động của Tập đoàn Bưu chính viễn thông Việt Nam.&lt;br /&gt;
# Bộ Thông tin và Truyền thông, Ngành Thông tin và Truyền thông Việt Nam: Hình ảnh và sự kiện (sơ thảo), Nxb. Thông tin và Truyền thông, Hà Nội, 2016.&lt;br /&gt;
# Chính phủ, Nghị định số 25/2016/NĐ-CP ngày 06.4.2016 về Điều lệ Tổ chức và Hoạt động của Tập đoàn Bưu chính Viễn thông Việt Nam.&lt;/div&gt;</summary>
		<author><name>Deepmind2</name></author>
	</entry>
	<entry>
		<id>https://bktt.vn/index.php?title=T%E1%BA%A1p_ch%C3%AD_t%C3%B2a_%C3%A1n_nh%C3%A2n_d%C3%A2n&amp;diff=22425</id>
		<title>Tạp chí tòa án nhân dân</title>
		<link rel="alternate" type="text/html" href="https://bktt.vn/index.php?title=T%E1%BA%A1p_ch%C3%AD_t%C3%B2a_%C3%A1n_nh%C3%A2n_d%C3%A2n&amp;diff=22425"/>
		<updated>2023-01-11T05:55:49Z</updated>

		<summary type="html">&lt;p&gt;Deepmind2: Tạo trang mới với nội dung “&amp;lt;indicator name=&amp;quot;mới&amp;quot;&amp;gt;File:UnderCon icon.svg|40px|link={{TALKPAGENAME}}#Bình duyệt|alt=Mục từ này cần được bình duyệt|Mục từ này…”&lt;/p&gt;
&lt;hr /&gt;
&lt;div&gt;&amp;lt;indicator name=&amp;quot;mới&amp;quot;&amp;gt;[[File:UnderCon icon.svg|40px|link={{TALKPAGENAME}}#Bình duyệt|alt=Mục từ này cần được bình duyệt|Mục từ này cần được bình duyệt]]&amp;lt;/indicator&amp;gt;&lt;br /&gt;
'''Tạp chí tòa án nhân dân''' cơ quan của Tòa án nhân dân tối cao. Tiền thân của Tạp chí Tòa án nhân dân (TCTAND) là Nội san Tư pháp, xuất bản số đầu ngày 14.01.1954 tại Việt Bắc, do Bộ Tư pháp quản lý, phát hành 2 hoặc 3 tháng một kỳ, lưu hành nội bộ (trong những người phụ trách các tòa án). Thời gian sau Nội san Tư pháp được chuyển thành Tập san Tư pháp. Từ năm 1959, Tập san Tư pháp do Tòa án nhân dân tối cao quản lý. Năm 1972, Tập san Tư pháp được đổi tên thành Tập san Tòa án nhân dân, lưu hành trong các cơ quan nhà nước. Từ đầu năm 1990, ''TCTAND'' được thành lập trên cơ sở Tập san Tư pháp. Từ 9 năm 2017,''TCTAND'' điện tử thuộc ''TCTAND'' ra đời.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
TCTAND bản in ra hai kỳ mỗi tháng. Từ năm 2004 số bản phát hành tăng mạnh. Thời điểm năm 2020, ''TCTAND'' in có số lượng phát hành gần 20 vạn bản/năm.&lt;br /&gt;
TCTAND là cơ quan thông tin pháp lý, phản ánh các hoạt động của Tòa án nhân dân tối cao và các tòa án khác; là diễn đàn khoa học pháp lý, trao đổi lý luận, kinh nghiệm thực tiễn trong lĩnh vực xét xử, bình luận án lệ; nghiên cứu và thông tin về thực tiễn xây dựng các Tòa án nhân dân tại Việt Nam.&lt;br /&gt;
Trong quá trình hoạt động của mình, từ khi là Nội san đến nay, ''TCTAND'' có vai trò quan trọng trong việc thông tin định hướng, hướng dẫn nghiệp vụ cho công tác xét xử tại tất cả các tòa án. Chính vì vậy cơ quan thông tin này  luôn được Tòa án nhân dân tối cao coi là kênh định hướng, chỉ đạo nghiệp vụ hữu hiệu. Từ khi chuyển thành Tạp chí (năm 1990), ''TCTAND'' được phát triển với mục tiêu trở thành diễn đàn khoa học pháp lý, khoa học xét xử hàng đầu trong hệ thống tạp chí khối pháp luật, là cơ quan hướng dẫn nghiệp vụ xét xử của Tòa án nhân dân tối cao. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Trong quá trình cải cách tư pháp và hoạt động tư pháp tại Việt Nam, ''TCTAND'' đã có nhiều nỗ lực, mở nhiều chuyên mục tập trung vào vấn đề các xung đột pháp lý, các vướng mắc trong thực tiễn áp dụng pháp luật tại các lĩnh vực hình sự, phi hình sự; thủ tục tố tụng. Tạp chí đăng tải các đề đạt, hoặc các kết luận chính thức để các thẩm phán và những người hoạt động trong tòa án tham khảo, thống nhất vận dụng trong công việc xét xử. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Các chuyên mục của ''TCTAND'' được đánh giá cao là các chuyên mục về nghiên cứu xây dựng pháp luật; Diễn đàn pháp luật; Bình luận án và thông tin Án lệ; Góp ý về sửa đổi và bổ sung các Bộ Luật….&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
''TCTAND'' còn có nhiều đóng góp trong hoạt động nghiên cứu khoa học, áp dụng pháp luật có hiệu quả, thiết thực trong các giai đoạn phát triển của hệ thống Tòa án nhân dân thông qua xuất bản các cuốn sách và các loại chuyên đề khác nhau.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
''TCTAND'' có Hội đồng biên tập gồm các chuyên gia và những người hoạt động xét xử nhiều kinh nghiệm thực tiễn; Ban biên tập và các phòng, đơn vị chức năng. Tạp chí có đội ngũ cộng tác viên đông đảo gồm các chuyên gia hàng đầu về lĩnh vực xét xử, các nhà nghiên cứu luật pháp, những người hoạt động thực tiễn trong lĩnh vực pháp luật. Nhiều cá nhân lãnh đạo ngành Tòa án trực tiếp tham gia vào hoạt động của Tạp chí. Chánh án Tòa án nhân dân tối cao Phạm Văn Bạch từng viết nhiều bài nghiên cứu giá trị cao cho Tập san Tòa án nhân dân. Phó Chánh án tòa án nhân dân tối cao Trịnh Hồng Dương là Tổng biên tập đầu tiên khi Tập san chuyển thành Tạp chí (1990).&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
=='''Tài liệu tham khảo'''==&lt;br /&gt;
# Nguyễn Hòa Bình:Phát huy truyền thống 65 năm, Tạp chí Tòa án nhân dân góp phần xây dựng hệ thống Tòa án nhân dân ngày càng vững mạnh và phát triển,Tạp chí Tòa án nhân dân số 01.2019.&lt;br /&gt;
# Quyết định số 203/QĐ-TANDTC ngày 27.9.2017 của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao. https://tapchitoaan.vn/bai-viet/nhan-vat-su-kien/dau-an-nhung-nguoi-lam-nen-tap-chi-toa-an-nhan-dan&lt;/div&gt;</summary>
		<author><name>Deepmind2</name></author>
	</entry>
	<entry>
		<id>https://bktt.vn/index.php?title=T%E1%BA%A1p_ch%C3%AD_m%E1%BA%B7t_tr%E1%BA%ADn&amp;diff=22424</id>
		<title>Tạp chí mặt trận</title>
		<link rel="alternate" type="text/html" href="https://bktt.vn/index.php?title=T%E1%BA%A1p_ch%C3%AD_m%E1%BA%B7t_tr%E1%BA%ADn&amp;diff=22424"/>
		<updated>2023-01-11T04:46:21Z</updated>

		<summary type="html">&lt;p&gt;Deepmind2: Tạo trang mới với nội dung “&amp;lt;indicator name=&amp;quot;mới&amp;quot;&amp;gt;File:UnderCon icon.svg|40px|link={{TALKPAGENAME}}#Bình duyệt|alt=Mục từ này cần được bình duyệt|Mục từ này…”&lt;/p&gt;
&lt;hr /&gt;
&lt;div&gt;&amp;lt;indicator name=&amp;quot;mới&amp;quot;&amp;gt;[[File:UnderCon icon.svg|40px|link={{TALKPAGENAME}}#Bình duyệt|alt=Mục từ này cần được bình duyệt|Mục từ này cần được bình duyệt]]&amp;lt;/indicator&amp;gt;&lt;br /&gt;
'''Tạp chí mặt trận''' tạp chí, cơ quan của Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, định kỳ hằng tháng, số đầu ra ngày 10 tháng 8 năm 2001, trụ sở tại số 58, phố Tràng Thi, quận Hoàn Kiếm, Hà Nội. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Tôn chỉ, mục đích của tạp chí Mặt trận (MT) là tuyên truyền, phổ biến các quan điểm, đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam về đại đoàn kết toàn dân tộc và tăng cường vai trò, sức mạnh của Mặt trận dân tộc thống nhất Việt Nam trong giai đoạn cách mạng hiện nay, góp phần nâng cao trình độ lý luận và năng lực chỉ đạo thực tiễn của cơ quan Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp nhằm thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Nhằm cụ thể hóa các chức năng, nhiệm vụ, nghiên cứu lý luận và tổng kết thực tiễn, thông tin kịp thời các kinh nghiệm, các vấn đề đặt ra, kiến nghị những mô hình, giải pháp nhằm làm tốt công tác mặt trận, tạp chí MT xây dựng các chuyên mục tương đối ổn định như: Nghiên cứu - Lý luận; Sự kiện - Lý luận; Phòng, chống tham nhũng, lãng phí; Diễn đàn đại đoàn kết toàn dân tộc (công tác tôn giáo, dân tộc, người Việt Nam ở nước ngoài, trí thức, doanh nhân…); Mặt trận với các phong trào, cuộc vận động; Kinh nghiệm - Thực tiễn; Những vấn đề quốc tế và đối ngoại nhân dân; Nhân vật - Sự kiện, Khoa học Mặt trận; Diễn đàn hợp tác; Kinh nghiệm thực tiễn; Nghiên cứu địa phương; v.v.. Tùy theo bối cảnh những giai đoạn khác nhau, một số chuyên mục trong hệ thống có thể thay đổi nhằm định hướng thông tin phục vụ tốt nhất cho các nhiệm vụ của Tạp chí. MT thu hút nhiều học giả, nhà nghiên cứu, nhiều người nổi tiếng hoạt động trong các lĩnh vực, đại diện cho nhiều tầng lớp nhân dân và việt kiều ở nước ngoài tham gia viết bài, trả lời phòng vấn, bày tỏ ý kiến, quan điểm, bày tỏ nguyện vọng của người dân.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Cùng với sản phẩm chính là tạp chí MT in, tháng 8 năm 2011, cơ quan tạp chí xuất bản thêm mỗi tháng một số chuyên đề Mặt trận &amp;amp; Cuộc sống. Ngày 22 tháng 5 năm 2017, tạp chí MT được Bộ Thông tin - Truyền thông cấp Giấy phép xuất bản Tạp chí điện tử Mặt trận và ngày 19 tháng 6 năm 2017, tạpchimattran.vn chính thức khai trương, mở ra một kênh mới, hiện đại, giúp đưa thông tin của tạp chí đến với nhân dân nhanh hơn, sinh động và phong phú hơn.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Ngoài việc xuất bản tạp chí in và tạp chí trên môi trường mạng, MT còn biên soạn xuất bản một số sách phục vụ công tác thông tin, tuyên truyền của mặt trận Tổ quốc Việt Nam như: “101 câu hỏi về công tác Mặt trận”(2009), “Mặt trận Tổ quốc Việt Nam với 3 cuộc vận động” (2011), v.v..&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Từ số đầu tiên năm 2001 đến năm 2004, TS. Trần Hậu là Tổng biên tập tạp chí. Tổng biên tập tạp chí các giai đoạn tiếp theo là: TS. Nguyễn Quang Du từ 2005 - 2010, TS. Hoàng Hải từ 2011-2015, TS. Vũ Văn Tiến từ 2016 đến nay.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Trong quá trình hoạt động, tạp chí MT đã được được tặng thưởng nhiều bằng khen, giấy khen của Chính phủ, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các cơ quan, ban, ngành khác; nhiều tác giả của tạp chí đã được nhận các giải cao của Giải báo chí “Vì sự nghiệp đại đoàn kết toàn dân tộc” của Uỷ ban Trung ương Mặt trận toàn quốc Việt Nam.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
=='''Tài liệu tham khảo'''==&lt;br /&gt;
# “Tạp chí Mặt trận 10 năm phát triển”, Nxb Văn hóa Thông tin, HN, 2011.&lt;br /&gt;
# “101 câu  hỏi - đáp về Mặt trận và công tác Mặt trận”, Nxb Lao động, HN, 2009.&lt;br /&gt;
# “Thư Chúc mừng của Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam Phạm Thế Duyệt nhân kỷ niệm 5 năm Tạp chí Mặt trận xuất bản số đầu” (Tạp chí Mặt trận số 33, 2006).&lt;br /&gt;
# “Chặng đường 5 năm” (Tạp chí Mặt trận số 33, 2006).&lt;br /&gt;
# “Dấu ấn Tạp chí Mặt trận 1 năm sau đổi mới” (Tạp chí Mặt trận số 173+174, 2018).&lt;/div&gt;</summary>
		<author><name>Deepmind2</name></author>
	</entry>
	<entry>
		<id>https://bktt.vn/index.php?title=T%E1%BA%A1p_ch%C3%AD_h%E1%BB%AFu_ngh%E1%BB%8B&amp;diff=22423</id>
		<title>Tạp chí hữu nghị</title>
		<link rel="alternate" type="text/html" href="https://bktt.vn/index.php?title=T%E1%BA%A1p_ch%C3%AD_h%E1%BB%AFu_ngh%E1%BB%8B&amp;diff=22423"/>
		<updated>2023-01-11T04:43:26Z</updated>

		<summary type="html">&lt;p&gt;Deepmind2: Tạo trang mới với nội dung “&amp;lt;indicator name=&amp;quot;mới&amp;quot;&amp;gt;File:UnderCon icon.svg|40px|link={{TALKPAGENAME}}#Bình duyệt|alt=Mục từ này cần được bình duyệt|Mục từ này…”&lt;/p&gt;
&lt;hr /&gt;
&lt;div&gt;&amp;lt;indicator name=&amp;quot;mới&amp;quot;&amp;gt;[[File:UnderCon icon.svg|40px|link={{TALKPAGENAME}}#Bình duyệt|alt=Mục từ này cần được bình duyệt|Mục từ này cần được bình duyệt]]&amp;lt;/indicator&amp;gt;&lt;br /&gt;
'''Tạp chí hữu nghị''' là cơ quan ngôn luận của Liên hiệp các tổ chức Hữu nghị Việt Nam, thực hiện nhiệm vụ nghiên cứu về công tác đối ngoại nhân dân và hòa bình, đoàn kết, hữu nghị giữa nhân dân Việt Nam với nhân dân các nước.&lt;br /&gt;
Tạp chí HN được thành lập ngày 25 tháng 4 năm 2003, theo QĐ số 92/QĐ-LH của Liên hiệp các tổ chức Hữu nghị Việt Nam (căn cứ Giấy phép số 117/GP-BVHTT ngày 15.4.2003 của Bộ Văn hóa - Thông tin). Tạp chí HN  xuất bản định kỳ hằng tháng, khổ in 21,5 cm x 28,5 cm, bảy mươi hai trang ; trụ sở tòa soạn đặt tại số 105A, đường Quán Thánh, quận Ba Đình, thành phố Hà Nội. Năm 2017, Tạp chí HN bắt đầu xuất bản phiên bản tiếng Anh. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Tôn chỉ mục đích của tạp chí HN là nghiên cứu, tổng hợp cơ sở lý luận và thực tiễn hoạt động đối ngoại nhân dân Việt Nam; tổng hợp, phân tích, đánh giá các sự kiện tình hình thế giới và khu vực, phong trào đấu tranh vì hoà bình trong từng thời kỳ nhằm hỗ trợ, triển khai thực hiện công tác đối ngoại nhân dân; thông tin về các hoạt động hoà bình, đoàn kết, hữu nghị. Giới thiệu về đất nước, con người, văn hoá Việt Nam ra thế giới và giới thiệu về đất nước, con người, văn hoá của các nước bạn bè trên thế giới với nhân dân Việt Nam.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Năm 2018, tạp chí HN xuất bản phiên bản trên mạng Internet theo Giấy phép số 216/GP-TTĐT ngày 21 tháng 11 năm 2018 của Cục Phát thanh, Truyền hình và Thông tin điện tử (Bộ Thông tin và Truyền thông) về việc cho phép thiết lập trang thông tin điện tử tổng hợp trên mạng tại địa chỉ tên miền www.tapchihuunghi.vn. Tạp chí HN điện tử có năm chuyên mục chính: Thời sự; Hòa bình - Hữu nghị; Hợp tác &amp;amp; Phát triển; Doanh nghiệp - Doanh nhân và Du lịch. Nội dung của tạp chí HN điện tử  cập nhật về hoạt động hòa bình, đoàn kết, hữu nghị, ngoại giao nhân dân trong nước và quốc tế, tổng hợp từ các nguồn thông tin chính thức của các cơ quan, báo chí, truyền thông của Đảng, Nhà nước và các đoàn thể nhân dân trong nước. Đối tượng phục vụ của tạp chí HN điện tử không chỉ là người đọc trong nước, mà còn mở rộng ra bạn đọc là những người bạn, những người yêu mến và quan tâm đến Việt Nam trên khắp thế giới.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Trong quá trình hoạt động, tạp chí HN đã được tặng nhiều bằng khen của Liện hiệp Các tổ chức Hữu nghị Việt Nam, Ban Tuyên giáo Trung ương, Đại sứ quán Nhật Bản; được nhận các giải thưởng cao của  Giải thưởng toàn quốc về Thông tin đối ngoại do Ban Tuyên giáo Trung ương, Ban Chỉ đạo Công tác thông tin đối ngoại Trung ương phối hợp với Đài Truyền hình Việt Nam tổ chức.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Do nằm trong phạm vi điều chỉnh của Quy hoạch phát triển vàquản lýbáo chítoàn quốc đến năm 2025, tạp chíHN buộc phải ngừng hoạt động. Đến tháng 2.2020, Bộ Thông tin và Truyền thông đã có quyết định số 257/QĐ-BTTTT thu hồi Giấy phép hoạt động báo chí in của Tạp chí Hữu nghị. Đến tháng 7.2020, Theo yêu cầu của Liên hiệp các tổ chức hữu nghị Việt Nam, Cục Phát thanh, Truyền hình và Thông tin điện tử tiếp tục có quyết định số 133/QĐ-PTTH&amp;amp;TTĐT thu hồi Giấy phép thiết lập trang thông tin điện tử tổng hợp trên mạng số 216/GP-TTĐT ngày 21.11.2018 đã cấp cho tạp ch íHN tại địa chỉ tên miền www.tapchihuunghi.vn.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
=='''Tài liệu tham khảo'''==&lt;br /&gt;
# Đối ngoại Việt Nam thời kỳ đổi mới, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2005&lt;br /&gt;
# Cục Báo chí, Bộ Thông tin và Truyền thông: Danh bạ các cơ quan báo chí in, Nxb Thông tin và Truyền thông, HN, 2010&lt;br /&gt;
# Khoa học xã hội Nam Bộ: nhìn về lịch sử, nhìn vào hiện tại, nhìn ra khu vực, Nxb Từ điển bách khoa, Hà Nội, 2009.&lt;/div&gt;</summary>
		<author><name>Deepmind2</name></author>
	</entry>
	<entry>
		<id>https://bktt.vn/index.php?title=T%E1%BA%A1p_ch%C3%AD_gi%C3%A1o_d%E1%BB%A5c&amp;diff=22422</id>
		<title>Tạp chí giáo dục</title>
		<link rel="alternate" type="text/html" href="https://bktt.vn/index.php?title=T%E1%BA%A1p_ch%C3%AD_gi%C3%A1o_d%E1%BB%A5c&amp;diff=22422"/>
		<updated>2023-01-11T04:37:53Z</updated>

		<summary type="html">&lt;p&gt;Deepmind2: Tạo trang mới với nội dung “&amp;lt;indicator name=&amp;quot;mới&amp;quot;&amp;gt;File:UnderCon icon.svg|40px|link={{TALKPAGENAME}}#Bình duyệt|alt=Mục từ này cần được bình duyệt|Mục từ này…”&lt;/p&gt;
&lt;hr /&gt;
&lt;div&gt;&amp;lt;indicator name=&amp;quot;mới&amp;quot;&amp;gt;[[File:UnderCon icon.svg|40px|link={{TALKPAGENAME}}#Bình duyệt|alt=Mục từ này cần được bình duyệt|Mục từ này cần được bình duyệt]]&amp;lt;/indicator&amp;gt;&lt;br /&gt;
'''Tạp chí giáo dục''' bản tiếng Anh Vietnam Journal of Education, đơn vị báo chí trực thuộc Bộ Giáo dục, có mã số chuẩn quốc tế: Bản tiếng Việt: ISSN 2354 0753. Bản tiếng Anh: ISSN 2588 1477&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Tạp chí Giáo dục (TCGD) được thành lập ngày 09 tháng 3 năm 2001 theo quyết định của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo trên cơ sở sáp nhập hai tạp chí: Tạp chí Nghiên cứu Giáo dục và Tạp chí Đại học và Giáo dục chuyên nghiệp. Nhiệm vụ của TCGD khi thành lập được xác định là: Nghiên cứu lý luận, khoa học giáo dục, thông tin về kinh nghiệm, mô hình giáo dục tiên tiến trong, ngoài nước; nghiên cứu, hướng dẫn việc quán triệt quan điểm, đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về công tác giáo dục đào tạo.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
TCGD bản in khổ 19x27 cm, 64 trang, định kỳ hai số/tháng. Từ 6.2016, TCGD được cấp phép thiết lập trang thông tin điện tử trên mạng. Năm 2021 nhằm tăng tính tương tác, tăng các nội dung khoa học, thời sự, phục vụ các hoạt động nghiên cứu về khoa học giáo dục và xuất bản khoa học, TCGD đã xây dựng và phát triển trang thông tin điện tử mới, hiện đại (http://tapchigiaoduc.edu.vn).&lt;br /&gt;
Đồng thời, nhằm tích cực và chủ động hội nhập quốc tế trong xuất bản khoa học, ban biên tập cũng đã xây dựng hệ thống tạp chí điện tử xuất bản mở, bằng tiếng Anh (http://vje.vn). Kể từ Quý IV năm 2018, VJE đã xuất bản các bài báo với cấu trúc và quy trình xuất bản phù hợp với các tiêu chuẩn xuất bản khoa học quốc tế.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
TCGD là đơn vị sự nghiệp báo chí của Bộ Giáo dục, hoạt động theo Luật Báo chí. Tôn chỉ, mục đích của tạp chí từ khi thành lập là: Tuyên truyền đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về giáo dục; công bố kết quả nghiên cứu giáo dục, phản ánh những thành tựu lý luận và thực tiễn giáo dục Việt Nam về các lĩnh vực khoa học giáo dục như Quản lý giáo dục, Lý luận giáo dục - dạy học, Tâm lý học ... của các cơ quan, đơn vị, cá nhân trong và ngoài ngành trên cả nước; thông tin về các thành tựu và kinh nghiệm giáo dục của các nước phát triển và khu vực; Phản ánh kinh nghiệm giáo dục, dạy học, quản lý giáo dục; trao đổi ý kiến tranh luận khoa học về các vấn đề lý luận và thực tiễn giáo dục. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Trang thông tin điện tử của TCGD có tôn chỉ, mục đích là: Thông tin theo đúng nội dung của TCGD bản in; tổng hợp tin liên quan đến lĩnh vực khoa học giáo dục, trên cơ sở dẫn lại thông tin chính thức của các cơ quan báo chí trong nước hoặc các trang thông tin điện tử của các cơ quan Đảng, Nhà nước theo quy định của pháp luật.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
TCGD (bản tiếng Việt, tiếng Anh) là tạp chí khoa học. Các bài viết đăng trên những mục nghiên cứu của tạp chí được tính điểm khoa học (1,0).&lt;br /&gt;
Bộ máy tổ chức của TCGD: Tổng biên tập; Hội đồng Biên tập; Ban Biên tập; Ban Thư ký tòa soạn; Ban Trị sự. Hội đồng biên tập của tạp chí thường xuyên có sự tham gia của nhiều nhà khoa học, nhà quản lý, chuyên gia trong và ngoài nước về lĩnh vực giáo dục. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
TCGD kể từ khi thành lập đã đăng nhiều bài báo của các tác giả có uy tín trong và ngoài nước. Tạp chí được Hội đồng Giáo sư Nhà nước đánh giá là tạp chí khoa học có chất lượng.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
=='''Tài liệu tham khảo '''==&lt;br /&gt;
# Quyết định số 1203/QĐ-BGĐT-TCCB ngày 09.3.2001 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo.&lt;br /&gt;
# Giấy phép hoạt động báo chí số 100 (28.3.2001) của Bộ Văn hóa Thông tin và Giấy phép hoạt động báo chí in số 294 ngày 17.5.2016 của Bộ Thông tin truyền thông.&lt;br /&gt;
# Giấy phép thiết lập mạng thông tin điện tử số 72/GP-TTDT ngày 30.6.2016 của Cục Phát thanh Truyền hình và Thông tin điện tử.&lt;br /&gt;
# https://congluan.vn/tap-chi-giao-duc-ky-niem-20-nam-ngay-thanh-lap-va-ra-mat-trang-thong-tin-dien-tu-moi-post122483.html&lt;/div&gt;</summary>
		<author><name>Deepmind2</name></author>
	</entry>
	<entry>
		<id>https://bktt.vn/index.php?title=T%E1%BA%A1p_ch%C3%AD_%C4%91%E1%BB%8F&amp;diff=22421</id>
		<title>Tạp chí đỏ</title>
		<link rel="alternate" type="text/html" href="https://bktt.vn/index.php?title=T%E1%BA%A1p_ch%C3%AD_%C4%91%E1%BB%8F&amp;diff=22421"/>
		<updated>2023-01-11T04:35:13Z</updated>

		<summary type="html">&lt;p&gt;Deepmind2: Tạo trang mới với nội dung “&amp;lt;indicator name=&amp;quot;mới&amp;quot;&amp;gt;File:UnderCon icon.svg|40px|link={{TALKPAGENAME}}#Bình duyệt|alt=Mục từ này cần được bình duyệt|Mục từ này…”&lt;/p&gt;
&lt;hr /&gt;
&lt;div&gt;&amp;lt;indicator name=&amp;quot;mới&amp;quot;&amp;gt;[[File:UnderCon icon.svg|40px|link={{TALKPAGENAME}}#Bình duyệt|alt=Mục từ này cần được bình duyệt|Mục từ này cần được bình duyệt]]&amp;lt;/indicator&amp;gt;&lt;br /&gt;
'''Tạp chí đỏ''' cơ quan lý luận đầu tiên của Đảng Cộng sản Việt Nam, xuất bản theo quyết nghị của Hội nghị thành lập Đảng được ghi trong Báo cáo tóm tắt Hội nghị, ngày 07.02.1930: “Ban Trung ương có thể xuất bản một tờ tạp chí lý luận và ba tờ báo tuyên truyền” (Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, tập 2, 1930, Nxb CTQG, HN, 2002, tr. 12) . Số 1 của Tạp chí Đỏ ra ngày 05.8.1930, song không còn tài liệu là căn cứ để xác định Tạp chí ra được bao nhiêu số và dừng xuất bản khi nào. Hiện nay, Cục Lưu trữ Trung ương Đảng còn lưu giữ được 4 số Tạp chí, bao gồm các số: 1, 2, 3 và 9. Sổ Nhận của Văn phòng Quốc tế Cộng sản ngày 31.12.1930 vào sổ số 1.345 nhận được Tạp chí Đỏ số 2 do những người cộng sản Đông Dương xuất bản tại Trung Quốc. Định kỳ của Tạp chí Đỏ không ổn định. Một số số của Tạp chí cũng không ghi ngày tháng.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
''Tạp chí Đỏ'' được đánh máy trên giấy nến, in rô-nê-ô, khổ 13 x 19 cm. Do yêu cầu giữ bí mật nên trang bìa tạp chí ghi là ''Xuân hoa thu nguyệt'', trong tạp chí không ghi địa chỉ, tên người chịu trách nhiệm xuất bản. Tuy nhiên, có thể nói rằng, chính Nguyễn Ái Quốc là người đã tổ chức nội dung và xuất bản tạp chí vì những lý do sau: ''Thứ nhất'', sự tương đồng về văn phong các bài viết trong Tạp chí với các tài liệu của Hội nghị thành lập Đảng như ''Năm điểm lớn, Chánh cương vắn tắt của Đảng, Sách lược vắn tắt của Đảng; thứ hai'', cách viết các chữ f (thay vì ph), z (d, gi), k (c); ''thứ ba'', căn cứ vào thời gian hoạt động của Nguyễn Ái Quốc tại Trung Quốc. Sau Hội nghị thành lập Đảng, cuối tháng 4 năm 1930, Người đi Đông Bắc Thái Lan, rồi qua Malaixia, Singapo, đến cuối tháng 5 mới trở lại Hồng Kông. Từ tháng 6.1930 đến trước khi bị chính quyền Hồng Kông bắt, ngày 06 tháng 6 năm 1931, Nguyễn Ái Quốc làm việc ở Trung Quốc, cũng là thời gian xuất bản các số của Tạp chí Đỏ.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Số 1 của Tạp chí Đỏ in Lời nói đầu:&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
“1. Tạp-chí này sau sẽ tiếp tục in mãi. Hoặc nhiều hoặc ít, hoặc 1 tuần, hoặc 10 ngày nửa tháng, không nhất định.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
2. Tài liệu trong TC: hoặc là kách làm việc, hoặc là kinh nghiệm km kác nước, hoặc là tin tức thế zới, hoặc là fê bình kông việc kủa mình, v.v. sẵn zì in nấy.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
3. Trách nhiệm kác kơ quan đối với TC: (a) đem tài liệu huấn luyện và nghiên kứu cho đảng-viên, (b) lấy tài liệu trong này mà làm báo, (c) bài nào truyền bá cho đa-số qù. chúng thì kiếm kách in thêm ra, (d) xem chỗ nào kó tâm-đắc, chỗ nào khó hiểu, chỗ nào nên sửa đổi, chỗ nào khg hợp với hoàn kảnh riêng kủa địa fương mình, v.v. thì fải fê bình, fải hỏi.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Nói tóm lại là kác đ.c. fải hết sức truyền bá và zùm cho TC được hoàn-toàn và fát triển” .&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Toàn bộ mười hai trang còn lại của ''Tạp chí Đỏ'' số 1 đăng bài ''“Bí mật công tác”'' với văn phong ngắn gọn, đơn giản, dễ hiểu. Phần đầu bài viết theo lối đặt câu hỏi và trả lời về các vấn đề như: tại sao phải giữ bí mật, vì sao cơ quan bí mật bị bắt, các sai lầm thường gặp trong hoạt động bí mật là gì. Phần sau của bài viết là nội dung mười hai điều khuôn phép của công việc bí mật, mười cách bí mật cần lưu ý. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Tạp chí Đỏ số 2 không ghi ngày tháng, gồm mười hai trang, đăng tải nội dung về cuộc bãi công của công nhân xe điện Thượng Hải, trong đó nêu nguyên nhân, những khó khăn, phức tạp của cuộc bãi công và cách đối phó. Bài báo cũng phê phán những ý kiến sai lầm, nêu lên ý nghĩa thắng lợi về chính trị và rút ra bảy kinh nghiệm về tổ chức bãi công.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Tạp chí Đỏ số 3 ra ngày 25 tháng 8 năm 1930 đăng tải hai bài chính. Bài thứ nhất về cách mạng tư sản dân quyền, trong đó giải thích một cách dễ hiểu nhất về nguyên nhân, ý nghĩa, sự khác biệt với các cuộc cách mạng khác và giải thích tại sao các nước thuộc địa và nửa thuộc địa phải làm cách mạng tư sản dân quyền. Bài thứ hai nói về cách thức tổ chức hoạt động sách báo, rải truyền đơn phục vụ nhiệm vụ cách mạng. Ngoài ra, Tạp chí còn đăng 3 tin ngắn về đại hội công - nông ở Philippine, ở châu Phi và các cuộc bãi công của công nhân các nhà máy sợi ở Pháp và Thượng Hải. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Tạp chí Đỏ số 9 không đề ngày tháng, có sáu trang, đăng một bài duy nhất về Công xưởng ủy viên hội, trong giải thích tính chất, ý nghĩa, vai trò và cách tổ chức, hoạt động, phát triển tổ chức đó trong đấu tranh cách mạng. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Có thể nói, mặc dù trong điều kiện khó khăn, nguy hiểm và còn sơ khai nhưng Tạp chí Đỏ đã thực sự mang tính chất một tạp chí lý luận của Đảng với việc đã tập trung thông tin những nội dung nhằm hướng dẫn nhận thức, giới thiệu các kinh nghiệm đấu tranh, bồi dưỡng phương pháp tổ chức hoạt động cách mạng cho đảng viên và các tổ chức của Đảng. Ngày 05.8, ngày Tạp chí Đỏ xuất bản số 1 được Tạp chí Cộng sản - Cơ quan lý luận chính trị của Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, chọn là ngày truyền thống của Tạp chí.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
=='''Tài liệu tham khảo'''==&lt;br /&gt;
# Bộ Biên tập Tạp chí Cộng sản: Tạp chí Cộng sản những chặng đường phát triển, Nxb CTQG, HN, 1995.&lt;br /&gt;
# Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, tập 2, 1930, Nxb CTQG, HN, 2002.&lt;br /&gt;
# PGS.TS. Đào Duy Quát, GS.TS. Đỗ Quang Hưng, PGS.TS. Vũ Duy Thông (Chủ biên): Tổng quan lịch sử báo chí cách mạng Việt Nam (1925-2010), Nxb CTQG, HN, 2010.&lt;/div&gt;</summary>
		<author><name>Deepmind2</name></author>
	</entry>
	<entry>
		<id>https://bktt.vn/index.php?title=T%C3%A0i_nguy%C3%AAn_v%C3%A0_m%C3%B4i_tr%C6%B0%E1%BB%9Dng&amp;diff=22420</id>
		<title>Tài nguyên và môi trường</title>
		<link rel="alternate" type="text/html" href="https://bktt.vn/index.php?title=T%C3%A0i_nguy%C3%AAn_v%C3%A0_m%C3%B4i_tr%C6%B0%E1%BB%9Dng&amp;diff=22420"/>
		<updated>2023-01-11T04:29:10Z</updated>

		<summary type="html">&lt;p&gt;Deepmind2: Tạo trang mới với nội dung “&amp;lt;indicator name=&amp;quot;mới&amp;quot;&amp;gt;File:UnderCon icon.svg|40px|link={{TALKPAGENAME}}#Bình duyệt|alt=Mục từ này cần được bình duyệt|Mục từ này…”&lt;/p&gt;
&lt;hr /&gt;
&lt;div&gt;&amp;lt;indicator name=&amp;quot;mới&amp;quot;&amp;gt;[[File:UnderCon icon.svg|40px|link={{TALKPAGENAME}}#Bình duyệt|alt=Mục từ này cần được bình duyệt|Mục từ này cần được bình duyệt]]&amp;lt;/indicator&amp;gt;&lt;br /&gt;
'''Tài nguyên và môi trường''' tạp chí, cơ quan thông tin lý luận, khoa học và nghiệp vụ của Bộ Tài nguyên và môi trường; trụ sở tòa soạn tại Tầng 5, lô E2, KĐT Cầu Giấy, đường Dương Đình Nghệ, quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội; Văn phòng Thường trú tại phía Nam: Phòng A604, tầng 6, Tòa nhà liên cơ quan Bộ TN&amp;amp;MT, số 200, Lý Chính Thắng, phường 9, quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh.&lt;br /&gt;
Bộ Tài nguyên và Môi trường được thành lập theo Nghị quyết số 02/2002/QH11, kỳ họp thứ nhất của Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá XI, trên cơ sở hợp nhất Tổng cục Địa chính, Tổng cục Khí tượng Thủy văn và các tổ chức thực hiện chức năng quản lý nhà nước về tài nguyên nước, tài nguyên khoáng sản, môi trường. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Nghị định số 91/2002/NĐ-CP ngày 11.11.2002 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Tài nguyên và Môi trường, quy định trong cơ cấu tổ chức của Bộ có Tạp chí Tài nguyên và Môi trường  (TCTN&amp;amp;MT). Các Nghị định sau đó của Chính phủ quy định chức năng, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Tài nguyên và Môi trường thay thế Nghị định số 91/2002/NĐ-CP tiếp tục quy định TCTN&amp;amp;MT nằm trong cơ cấu tổ chức của Bộ Tài nguyên và Môi trường.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Bản in của TCTN&amp;amp;MT ra mỗi tháng hai kỳ. Tạp chí in có những nội dung chính: Vấn đề - sự kiện (Phản ánh các sự kiện và những vấn đề nổi bật trong đời sống chính trị xã hội và tài nguyên môi trường); Nghiên cứu - Trao đổi (Các vấn đề khoa học, nghiệp vụ trong lĩnh vực Tài nguyên và Môi trường); Thực tiễn - Kinh nghiệm (Hoạt động trong lĩnh vực Tài nguyên môi trường từ khía cạnh pháp lý, tổ chức, kỹ thuật..); Văn hóa - Văn nghệ (Từ góc nhìn Tài nguyên và Môi trường).&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
TCTN&amp;amp;MT điện tử có chuyên mục, tuyến nội dung phong phú hơn. Vấn đề, sự kiện trong đời sống chính trị xã hội nói chung và các sự kiện trong ngành được đề cập liên tục, thường xuyên, khối lượng tin tức lớn hơn nhiều so với tạp chí in. Phần nội dung “Tài nguyên - Thiên nhiên” phản ánh toàn diện các tin tức và vấn đề thuộc từng loại hình tài nguyên, từng loại hình hoạt động quản lý tài nguyên. Phần nội dung “Môi trường - Cuộc sống” không chỉ đề cập đến các vấn đề có tính khoa học, mà cả các vấn đề liên quan cuộc sống, dân sinh từ góc độ môi trường.TCTN&amp;amp;MTđiện tử có chuyên mục riêng về Chính sách - Pháp luật (Liên quan tài nguyên, môi trường) và chuyên mục “Nhìn ra thế giới”, “Phát triển bền vững”…&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
TCTN&amp;amp;MT là đơn vị chủ trì các hoạt động xã hội vì môi trường có hiệu ứng rộng rãi. Điển hình là dự án “Chùa xanh” (Vận động trồng 1000 cây tại mỗi chùa chiền, đền miếu, di tích lịch sử - văn hóa trên khắp cả nước).&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
=='''Tài liệu tham khảo'''== &lt;br /&gt;
# Nghị quyết số 02/2002/QH11, kỳ họp thứ nhất của Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá XI và Nghị định số 91/2002/NĐ-CP ngày 11.11.2002, Nghị định số 25/2008/NĐ-CP, Nghị định số 21/2013/NĐ-CP,  Chính phủ đã ban hành Nghị định số 36/2017/NĐ-CP  của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Tài nguyên và Môi trường.&lt;br /&gt;
# Các số bản in của Tạp chí Tài nguyên và Môi trường.&lt;br /&gt;
# Tạp chí Tài nguyên và Môi trường điện tử &lt;br /&gt;
# “Chùa Xanh” – Dự án tâm hồn của những người con đất Việt https://doanhnhanvn.vn/chua-xanh-du-an-tam-hon-cua-nhung-nguoi-con-dat-viet--30407.html&lt;/div&gt;</summary>
		<author><name>Deepmind2</name></author>
	</entry>
	<entry>
		<id>https://bktt.vn/index.php?title=T%C3%A0i_ch%C3%ADnh&amp;diff=22419</id>
		<title>Tài chính</title>
		<link rel="alternate" type="text/html" href="https://bktt.vn/index.php?title=T%C3%A0i_ch%C3%ADnh&amp;diff=22419"/>
		<updated>2023-01-11T04:06:19Z</updated>

		<summary type="html">&lt;p&gt;Deepmind2: Tạo trang mới với nội dung “&amp;lt;indicator name=&amp;quot;mới&amp;quot;&amp;gt;File:UnderCon icon.svg|40px|link={{TALKPAGENAME}}#Bình duyệt|alt=Mục từ này cần được bình duyệt|Mục từ này…”&lt;/p&gt;
&lt;hr /&gt;
&lt;div&gt;&amp;lt;indicator name=&amp;quot;mới&amp;quot;&amp;gt;[[File:UnderCon icon.svg|40px|link={{TALKPAGENAME}}#Bình duyệt|alt=Mục từ này cần được bình duyệt|Mục từ này cần được bình duyệt]]&amp;lt;/indicator&amp;gt;&lt;br /&gt;
'''Tài chính''' (E. Review of Finance)tạp chí, cơ quan thông tin lý luận và nghiệp vụ của ngành tài chính và chịu sự lãnh đạo, chỉ đạo trực tiếp của Bộ Tài chính; có nhiệm vụ thông tin, tuyên truyền, trao đổi các vấn đề về pháp luật, chính sách, chế độ và nhiệm vụ trong lĩnh vực về kinh tế, tài chính, xuất bản số đầu ngày 07 tháng 11 năm 1963. ''Tạp chí Tài chính (TCTC)'' là cơ quan báo chí có truyền thống lâu đời nhất của ngành tài chính Việt Nam với 4 giai đoạn phát triển: &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
''Thời kỳ 1963 - 1982:'' Thời kỳ hình thành và phát triển, với tên gọi ban đầu là ''Tập san Tài chính - Kế toán'', trực thuộc Bộ Tài chính. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Một trang bìa tạp chí Tài chính (Ảnh NTTG)&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
''Thời kỳ 1983 - 1995:'' Tháng 12 năm 1983 đổi tên thành Tạp chí Tài chính.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
''Thời kỳ 1996 - 2002:'' Tropng thời gian này TCTC diễn ra nhiều sự chuyển đổi cơ quan chủ quản: Tháng 01 năm 1996, trực thuộc Viện Khoa học Tài chính; từ tháng 01 năm 2002 đến 12 tháng 8 năm 2002, trực thuộc Học viện Tài chính.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
''Thời kỳ từ 2002 đến nay:'' Ngày 13 tháng 8 năm 2002, theo Quyết định số 94/2002/QĐ-BTC của Bộ trưởng Bộ Tài chính, TCTC được chuyểnthành đơn vị trực thuộc Bộ Tài chính; theo Quyết định số 166/2002/QĐ-BTC ngày 31 tháng 12 năm 2002, Quy chế tổ chức và hoạt động của TCTC được ban hành.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Sản phẩm chính của Tạp chí gồm: ''TCTC bản in Tiếng Việt'', xuất bản mỗi tháng 2 kỳ, nội dung gồm các chuyên mục chính: Chủ đề; Nghiên cứu - Trao đổi; Kinh tế - tài chính quốc tế, Diễn đàn khoa học; Trang số liệu kinh tế - tài chính... ''TCTC bản tiếng Anh - Review of Finance'', xuất bản mỗi tháng 2 kỳ, nội dung chủ yếu là công bố các nghiên cứu khoa học về kinh tế - tài chính trong nước và quốc tế. TCTC điện tử http://www.tapchitaichinh.vn, được Bộ Thông tin và Truyền thông cấp giấy phép hoạt động số 195/GP-BTTTT ngày 08 tháng 05 năm 2017. TCTC điện tử được xuất bản trong giai đoạn ngành Tài chính đang đặc biệt chú trọng đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin nhằm nâng cao năng lực quản lý, điều hành của các cơ quan tài chính; đẩy mạnh việc triển khai các dịch vụ công trực tuyến (hải quan, thuế, kho bạc, chứng khoán…) để phục vụ người dân và doanh nghiệp; xây dựng nền tảng phục vụ Chính phủ điện tử.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
''Đặc san Thông tin công tác Đảng'' của Đảng bộ Bộ Tài chính, xuất bản 02 tháng/kỳ; in 4 màu; nội dung gồm các chuyên mục: Hoạt động của Đảng bộ Bộ Tài chính; Ngành Tài chính học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh; Nâng cao sức chiến đấu của tổ chức Đảng; Gương sáng - Việc hay ngành Tài chính; Hỏi đáp, hướng dẫn công tác Đảng...&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
''Đặc san Đối ngoại kinh tế - tài chính Việt Nam'' do TCTC và Vụ Hợp tác quốc tế (Bộ Tài chính) phối hợp xuất bản định kỳ hằng năm, phục vụ tích cực và hiệu quả công tác thông tin đối ngoại của Bộ Tài chính. Đặc san có nội dung phong phú, hình thức trình bày trang trọng, in song ngữ Việt - Anh, được phát hành tới các đại sứ quán, các doanh nghiệp và hiệp hội, doanh nghiệp đầu tư nước.&lt;br /&gt;
Trước yêu cầu ngày cao trong công tác tuyên truyền của Ngành Tài chính và những đòi hỏi ngày càng lớn của công chúng báo chí trong thời kỳ mới, TCTC đã và đang không ngừng đổi mới, sáng tạo, xây dựng chiến lược phát triển mới, không ngừng đổi mới về nội dung và hình thức các ấn phẩm, nâng cao chất lượng các bài viết nghiên cứu, trao đổi lý luận về nghiệp vụ tài chính đảm bảo tính nghiêm túc của một tạp chí chuyên ngành.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Các ấn phẩm của TCTC phát hành rộng rãi trên toàn quốc, đặc biệt là tới hệ thống tài chính từ Trung ương tới địa phương, các đơn vị ngành Tài chính, Thuế, Hải quan, Kho bạc Nhà nước...; các đơn vị và doanh nghiệp trong lĩnh vực chứng khoán, bảo hiểm, ngân hàng...; các trường, trung tâm đào tạo kinh tế - tài chính… trong toàn quốc.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
TCTC được Đảng, Nhà nước tặng thưởng nhiều danh hiệu cao quý: Huân chương Lao động hạng Ba (1983), hạng Nhì (1998), hạng Nhất (2003), Huân chương Độc lập hạng Ba (năm 2013).&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
=='''Tài liệu tham khảo'''==&lt;br /&gt;
# Tạp chí điện tử Tài chính, 2015, Giới thiệu Tòa soạn&lt;br /&gt;
# Bộ Tài chính, 2002, Quyết định của Bộ Trưởng Bộ tài chính Về việc ban hành Quy chế tổ chức và hoạt động của Tạp chí Tài chính&lt;br /&gt;
# Bộ Tài chính, 2010, Quyết định về việc ban hành Quy chế tổ chức và hoạt động của Tạp chí Tài chính&lt;/div&gt;</summary>
		<author><name>Deepmind2</name></author>
	</entry>
	<entry>
		<id>https://bktt.vn/index.php?title=S%E1%BB%9F_l%C6%B0u_tr%E1%BB%AF_v%C3%A0_th%C6%B0_vi%E1%BB%87n_%C4%90%C3%B4ng_D%C6%B0%C6%A1ng&amp;diff=22418</id>
		<title>Sở lưu trữ và thư viện Đông Dương</title>
		<link rel="alternate" type="text/html" href="https://bktt.vn/index.php?title=S%E1%BB%9F_l%C6%B0u_tr%E1%BB%AF_v%C3%A0_th%C6%B0_vi%E1%BB%87n_%C4%90%C3%B4ng_D%C6%B0%C6%A1ng&amp;diff=22418"/>
		<updated>2023-01-11T03:58:30Z</updated>

		<summary type="html">&lt;p&gt;Deepmind2: Tạo trang mới với nội dung “&amp;lt;indicator name=&amp;quot;mới&amp;quot;&amp;gt;File:UnderCon icon.svg|40px|link={{TALKPAGENAME}}#Bình duyệt|alt=Mục từ này cần được bình duyệt|Mục từ này…”&lt;/p&gt;
&lt;hr /&gt;
&lt;div&gt;&amp;lt;indicator name=&amp;quot;mới&amp;quot;&amp;gt;[[File:UnderCon icon.svg|40px|link={{TALKPAGENAME}}#Bình duyệt|alt=Mục từ này cần được bình duyệt|Mục từ này cần được bình duyệt]]&amp;lt;/indicator&amp;gt;&lt;br /&gt;
'''Sở lưu trữ và thư viện Đông Dương''' tổ chức chuyên ngành Lưu trữ và Thư viện đầu tiên theo mô hình của Pháp được thành lập tại Đông Dương theo Nghị định ngày 29 tháng 11 năm 1917 của Toàn quyền Albert Sarraut và được đặt dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Toàn quyền Đông Dương. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Sở Lưu trữ và Thư viện Đông Dương (Direction des Archives et des Bibliothèques de l’Indochine) gồm Kho Lưu trữ Trung ương và Thư viện công Trung ương ở Hà Nội, do Paul Boudet, Lưu trữ viên Cổ tự (Archiviste-Paléographe), tốt nghiệp Trường Pháp điển (Ecole Nationale des Chartes) tại Parislàm Giám đốc, có trụ sở tại phố Borgnis Desbordes (nay là phố Tràng Thi) trên khuôn viên của Phòng Thương mại và Nông nghiệp (Chambres de Commerce et d’Agriculture) trước đó vốn là Dinh Kinh lược Bắc Kỳ. Sở Lưu trữ và Thư viện Đông Dương (LTTVĐD) có các tổ chức chân rết tại các địa phương trên toàn Đông Dương, gồm Kho của Phủ Thống đốc Nam Kỳ ở Sài Gòn, Kho của Phủ Khâm sứ Trung Kỳ ở Huế, Kho của Phủ Thống sứ Cao Miên ở Nông-pênh và Kho của Phủ Thống sứ Lào ở Viêng-chăn (trên thực tế, Kho của Phủ Thống sứ Lào không được thành lập).&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Năm 1922, chịu tác động của cuộc cải cách hành chính do chính quyền thuộc địa tiến hành ở Đông Dương đối với các công sở thụ hưởng ngân sách chung, Sở LTTVĐD đã bị sáp nhập vào Sở Học chính Đông Dương (Direction de l’Instruction Publique de l’Indochine) theo Nghị định ngày 16 tháng 2 năm 1922 của Toàn quyền Đông Dương. Giữa năm 1929, Sở được quay trở lại trực thuộc Toàn quyền Đông Dương theo Nghị định ngày 6 tháng 7 năm 1929.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Sau ngày Nhật đảo chính Pháp ở Hà Nội (9.3.1945), Sở LTTVĐD chịu sự kiểm soát từ xa của Trung tá Kamiya - Trưởng Phái bộ của Bộ Tham mưu không quân thuộc quân đội Nhật hoàng (Chef de la Mission à l’Etat-Major de liaison de l’Armée Japonaise); Tsukamoto - Phó Toàn quyền Đông Dương (Secrétaire général du Gouvernement général de l’Indochine) và Syogabu - Đốc lý Hà Nội (Maire de Hanoi).&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Chuyển vào Sài Gòn năm 1947, Sở LTTVĐD đổi tên thành Sở Lưu trữ và Thư viện liên bang của Cao ủy Pháp tại Đông Dương (Direction fédérale des Archives et des Bibliothèques du Haut - Commissariat de France en Indochine) theo Nghị định số 206/2358 ngày 25 tháng 7 năm 1947 của Cao ủy Pháp Emile Bollaert. Sở được đặt dưới quyền của Cố vấn Học chính Đông Dương (Conseiller de l’Instruction publique), trụ sở đặt tại 34 phố La Grandière (nay là đường Điện Biên Phủ, TP. Hồ Chí Minh), năm 1952 chuyển đến 32 phố Taberd (nay là đường Nguyễn Du, TP. Hồ Chí Minh). Thời gian sau ngày 19.12.1946, khi quân đội Pháp quay trở lại chiếm đóng Hà Nội, trụ sở cũ của Sở LTTVĐD do Phái đoàn Lưu trữ và Thư viện Bắc Việt Nam nắm giữ. Tổ chức này được đặt dưới quyền của Sở Lưu trữ và Thư viện liên bang của Cao ủy Pháp tại Đông Dương và tồn tại cho đến ngày quân đội Pháp hoàn toàn rút khỏi miền Bắc Việt Nam (10.10.1954). &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Chức năng, nhiệm vụ chủ yếu của Sở LTTVĐD được quy định tại hai Nghị định ngày 29.11.1917 và 26.12.1918 của Toàn quyền Đông Dương:&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
- Tổ chức thu thập tài liệu theo các nguồn nộp lưu được quy định tại Nghị định ngày 26 tháng 12 năm 1918 của Toàn quyền Đông Dương. Thời hạn nộp tài liệu vào Kho Lưu trữ Trung ương được quy định sau hai mươi năm hình thành đối với Phủ Toàn quyền Đông Dương và Phủ Thống sứ Bắc Kỳ. Thời hạn này cũng được áp dụng đối với các công sở thuộc Trung và Nam Kỳ nhưng tài liệu của các công sở này không nộp vào Kho Lưu trữ Trung ương mà nộp vào các Kho của Lưu trữ Phủ Thống đốc Nam Kỳ và Toà Khâm sứ Trung Kỳ. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Nghị định ngày 26-12-1918 không quy định các tỉnh phải thành lập kho lưu trữ riêng nhưng quy định cho các viên Tỉnh trưởng phải tự bảo quản lấy tài liệu của tỉnh mình trong thời hạn mười năm, sau mười năm phải nộp tài liệu vào Kho Lưu trữ Trung ương (đối với các tỉnh thuộc Bắc Kỳ) hoặc một trong bốn kho thuộc hệ thống chân rết của Sở LTTVĐD (đối với các tỉnh thuộc Trung Kỳ, Nam Kỳ, Cam-pu-chia và Lào). &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
- Tổ chức sắp xếp tài liệu theo kế hoạch và theo một khung phân loại thống nhất được quy định tại Nghị định ngày 26.12.1918 của Toàn quyền Đông Dương. Đó là một khung phân loại được xây dựng trên cơ sở của hệ thống phân nhánh thập phân với một bảng tiêu đề chung được sắp xếp theo theo thứ tự bảng chữ cái tiếng Pháp (năm 1934, Khung này được hoàn thiện và mang tên Khung phân loại Paul Boudet). &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
- Tổ chức phục vụ các nhu cầu nghiên cứu tài liệu của cá nhân và các tổ chức khác tại các Kho Lưu trữ theo Nghị định ngày 29.11.1917. Các loại tài liệu có liên quan đến chính trị, an ninh, công văn mật... chỉ được đem ra phục vụ khai thác sau một thời hạn là ba mươi năm và những yêu cầu nghiên cứu các loại tài liệu này đều do Toàn quyền Đông Dương quyết định. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
- Tổ chức các kỳ thực tập bắt buộc dành cho Thư ký người bản xứ làm nhiệm vụ sắp xếp hồ sơ tại các Toà Công sứ các tỉnh và các công sở hành chính ở Đông Dương trong thời gian từ ba đến sáu tháng tại Kho Lưu trữ Trung ương ở Hà Nội, nhằm mục đích vừa để họ làm quen với phương pháp sắp xếp tài liệu hợp lý, vừa tạo điều kiện cho họ tham gia các kỳ thi vào ngạch Lưu trữ - Thư viện viên dành cho người bản xứ. Đây là những điều kiện chủ yếu đảm bảo về nghề nghiệp cho những người đã đạt được kết quả trong các khoá đào tạo, giúp họ trở thành viên chức trong tổ chức nhân sự người bản xứ thuộc Sở LTTVĐD.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
- Định kỳ thanh tra tình hình tài liệu của các địa phương…&lt;br /&gt;
Ngoài các hoạt động nghiệp vụ thường xuyên, Sở LTTVĐD còncó nhiều hoạt động khác mang tính xã hội rộng rãi như tổ chức các cuộc triển lãm về tài liệu lưu trữ có liên quan đến lịch sử chinh phục Đông Dương, lịch sử khai thác thuộc địa của thực dân Pháp, lịch sử Đông Dương...&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Về nhân sự:người Pháp nắm giữcác vị trí chủ đạo ởSở LTTVĐDtại Hà Nội như Giám đốc, Phó Giám đốc, phụ trách các bộ phận Lưu trữ và Thư viện. Paul Boudet, Lưu trữ viên Cổ tự, Quản thủ viên Trưởng hạng Nhất(Archiviste - paléographe, Conservateur en Chef de 1è classe)giữ vị trí Giám đốc từ năm 1917 đến khi nghỉ hưu vào năm 1948. Từ 30.8.1948, Simone De Saint Exupery - Lưu trữ viên Cổ tự, Quản thủ viên (Archiviste – paléographe, Conservateur) chịu trách nhiệm về Thư viện tại Lưu trữ Trung ương Hà Nội được bổ nhiệm làm quyền Giám đốc Sở trong thời gian Giám đốc Paul Boudet vắng mặt vì lý do sức khỏe. Năm 1949, De Ferry - Lưu trữ viên Cổ tự phó hạng Nhất (Archiviste – paléographe adjoint de 1è classe)của bộ phận Hành chính Trung ương thuộc Bộ Pháp quốc Hải ngoại (Ministère de la France d’Outre - Mer) được bổ nhiệm làm Giám đốc Sở thay Paul Boudet nghỉ hưu.  &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Endré Masson - Lưu trữ viên cổ tự, Quản thủ viên (Archiviste – paléographe, Conservateur) phụ trách Thư viện tại Thư viện Trung ương ở Hà Nội và Rémy Bourgeois - Lưu trữ viên Cổ tự, Quản thủ viên Trưởng hạng Nhất (Archiviste – paléographe, Conservateur de 1è classe), phụ trách Lưu trữ tại Lưu trữ Trung ương Hà Nội đã từng có thời gian giữ vị trí Phó Giám đốc Sở LTTVĐD. &lt;br /&gt;
Người Việt Nam đầu tiên và duy nhất giữ chức vụ Phó Giám đốc Sở LTTVĐD là Ngô Đình Nhu và cũng một trong số rất ít người Việt Nam thi đỗ vào Trường Pháp điển vào năm 1935, tốt nghiệp năm 1938 với luận án về lịch sử Việt Nam bảo vệ tại Pháp với nhan đề “Phong tục và tập quán của người Bắc Kỳ từ thế kỷ thứ 17 đến thế kỷ thứ 18 theo các du khách và các nhà truyền giáo”. Chức vụ Phó Giám đốc của Ngô Đình Nhu do Người Nhật đề cử vào năm 1945. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Nhân sự cao cấp về chuyên môn tại Sở LTTVĐD như Lưu trữ viên Cổ tự, Quản thủ viên Lưu trữ Trưởng, Phó các hạng từ hạng Ba đến hạng Nhất cũng toàn người Pháp bởi các vị trí này yêu cầu phải có bằng tốt nghiệp của một trong số các trường như Trường Pháp điển (Ecole Nationale des Chartes), Học viện Di sản quốc gia (Institut national du Patrimoine), Trường Louvre (Ecole du Louvre)… theo quy định của Pháp. Ngô Đình Nhu là người Việt Nam duy nhất được nhận vào làm việc tại Sở từ năm 1938 với chức danh ban đầu là Quản thủ viên phó hạng Ba (Conservateur adjoint de 3è classe).&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Số viên chức người Việt Nam ở Sở LTTVĐD tính ở thời điểm năm 1945 (sau khi Nhật đảo chính Pháp và nắm quyền tại Đông Dương và trong các công sở chuyên môn ở Hà Nội) gồm các ông Phạm Đình Giễm, Lưu trữ - Thư viện viên chính hạng Hai (Archiviste - Bibliothècaire pricipal de 2è classe); Trần Văn Kha, Lưu trữ &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
- Thư viện viên chính hạng Ba (Archiviste - Bibliothècaire pricipal de 3è classe) và Nguyễn Văn Sước, Lưu trữ - Thư viện viên chính hạng Hai (Archiviste &lt;br /&gt;
- Bibliothècaire pricipal de 2è classe). Ngoài ra còn có một Thư ký chính hạng Ba (Secrétaire pricipal de 3è classe), bảy Thư ký từ hạng Nhất đến hạng Năm và mười ba nhân viên các hạng. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Nhờ có các kỳ thực tập bắt buộc dành cho các Thư ký người bản xứ làm nhiệm vụ sắp xếp hồ sơ tại các Toà Công sứ các tỉnh và các công sở hành chính ở Đông Dương trong thời gian từ ba đến sáu tháng tại Kho Lưu trữ Trung ương ở Hà Nội, số tài liệu thuộc thành phần nộp lưu tại Kho đã được chỉnh lý, thống kê và làm công cụ tra cứu theo phương pháp tiên tiến của châu Âu, đã được đem ra phục vụ các nhu cầu nghiên cứu của một số công sở và các nhà nghiên cứu người Âu.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Sở LTTVĐD ra đời năm 1917 đánh dấu một sự chuyển biến mang tính bước ngoặt của Lưu trữ ở Việt Nam dưới thời thống trị của thực dân Pháp, mở đầu giai đoạn công tác lưu trữ có sự quản lý tập trung của chính quyền Trung ương. Kể từ khi được thành lập cho đến năm ngừng hoạt động 1954, Sở LTTVĐD đã xây dựng được ba kho tài liệu trên lãnh thổ Việt Nam, đó là các Kho Lưu trữ Trung ương ở Hà Nội, Kho Lưu trữ của Tòa Khâm sứ Trung Kỳ ở Huế và Kho Lưu trữ của Phủ Thống đốc Nam Kỳ ở Sài Gòn. Tài liệu của ba Kho Lưu trữ này hiện nay đang được bảo quản tại ba Trung tâm Lưu trữ quốc gia của Việt Nam: Trung tâm I (Hà Nội), Trung tâm II (TP. Hồ Chí Minh) và Trung tâm IV (TP. Đà Lạt). Đây là  những tài liệu hình thành trong quá trình hoạt động của chính quyền thực dân Pháp trên toàn Đông Dương và Việt Nam đã được tập trung bảo quản theo phương pháp tiên tiến của châu Âu. có loại hình đa dạng, nội dung phong phú, phản ánh tình hình chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội của Việt Nam nói riêng, Đông Dương nói chung trong cuối thế kỷ thứ XIX và nửa đầu thế kỷ thứ XX. Cho đến nay, những tài liệu của ba kho lưu trữ nói trên đã trở thành di sản văn hóa của Việt Nam, thu hút các nhà khoa học ở khắp nơi trên thế giới nghiên cứu về xã hội Việt Nam và Đông Dương thời cận đại.    &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
=='''Tài liệu tham khảo'''==&lt;br /&gt;
# Đào Thị Diến, Les Archives coloniales au Vietnam (1858-1954). Les fonds conservés au Dépôt Central de Hanoï. Fonds de la Résidence supérieure au Tonkin, Thèse de Doctorat sous la direction de Alain Forest, Université Paris 7 – Denis Diderot, 2004. &lt;br /&gt;
# Đào Thị Diến, Lưu trữ Việt Nam năm 1945, Tạp chí Xưa và Nay, số 116, tháng 5.2002, tr.28-29 và 39.&lt;br /&gt;
# Đào Thị Diến, Sở Lưu trữ và Thư viện Đông Dương – 100 năm ngày thành lập (1917-2017), Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử, số 11 (499), 2017, tr.73-79.&lt;br /&gt;
# Nguyễn Văn Thâm - Vương Đình Quyền - Đào Thị Diến - Nghiêm Kỳ Hồng, Lịch sử Lưu trữ Việt Nam, Nxb Đại học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh, 2010.&lt;br /&gt;
# Trung tâm Lưu trữ quốc gia I, Fonds de la Direction des Archives et des Bibliothèques de l’Indochine (DABI).&lt;/div&gt;</summary>
		<author><name>Deepmind2</name></author>
	</entry>
	<entry>
		<id>https://bktt.vn/index.php?title=Ph%E1%BB%A5_n%E1%BB%AF_Vi%E1%BB%87t_Nam&amp;diff=22417</id>
		<title>Phụ nữ Việt Nam</title>
		<link rel="alternate" type="text/html" href="https://bktt.vn/index.php?title=Ph%E1%BB%A5_n%E1%BB%AF_Vi%E1%BB%87t_Nam&amp;diff=22417"/>
		<updated>2023-01-11T03:45:28Z</updated>

		<summary type="html">&lt;p&gt;Deepmind2: Tạo trang mới với nội dung “&amp;lt;indicator name=&amp;quot;mới&amp;quot;&amp;gt;File:UnderCon icon.svg|40px|link={{TALKPAGENAME}}#Bình duyệt|alt=Mục từ này cần được bình duyệt|Mục từ này…”&lt;/p&gt;
&lt;hr /&gt;
&lt;div&gt;&amp;lt;indicator name=&amp;quot;mới&amp;quot;&amp;gt;[[File:UnderCon icon.svg|40px|link={{TALKPAGENAME}}#Bình duyệt|alt=Mục từ này cần được bình duyệt|Mục từ này cần được bình duyệt]]&amp;lt;/indicator&amp;gt;&lt;br /&gt;
'''Phụ nữ Việt Nam''' báo, cơ quan Trung ương Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam. Tờ báo in Phụ nữ Việt Nam (PNVN) đầu tiên (tiền thân là tờ báo viết tay Tiếng gọi Phụ nữ ra đời ngày 19 tháng 8 năm 1948 tại căn cứ địa Việt Bắc trong thời điểm khó khăn của cuộc kháng chiến chống Pháp. Ngày 8 tháng 3 hàng năm được ghi nhận là Ngày truyền thống của báo PNVN. Hiện tại, Báo PNVN phát hành 3 số một tuần; trụ sở tại số 47 phố Hàng Chuối, phường Phạm Đình Hổ, quận Hai Bà Trưng, Hà Nội. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Báo PNVN ra đời với mục đích tuyên truyền đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước, của Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam, là tiếng nói của phụ nữ Việt Nam. Báo cũng là diễn đàn dành cho giới nữ, là nơi các tập thể, cá nhân phụ nữ điển hình được biểu dương nhằm cổ vũ, động viên, giáo dục cán bộ, hội viên, phụ nữ thi đua lao động sản xuất, xây dựng gia đình no ấm, tiến bộ, bình đẳng, hạnh phúc, nuôi dạy con tốt, làm tròn chức năng người bà, người mẹ, người chị trong gia đình.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
                                                      Măng sét báo PNVN&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Từ sau khi số báo khổ nhỏ đầu tiên ra đời cho đến nay, báo PNVN đã trải qua nhiều thay đổi về khổ báo, số trang và số ấn phẩm . Mốc quan trọng trong sự phát triển của báo PNVN là năm 1952, Báo đã tách ra thành 2 ấn phẩm nội dung khác nhau, phát hành song song để phục vụ 2 đối tượng. Một tờ báo “Phụ nữ Việt Nam” dành cho chị em sống ở nông thôn, và một tờ Tạp chí “Phụ nữ Việt Nam” dành cho chị em cán bộ, công nhân viên chức, tiểu thương, tư sản, nội trợ sống ở thành phố. Sau một thời gian, hai ấn phẩm trên đã hợp nhất trở về một ấn phẩm Báo PNVN phát hành định kỳ hằng tháng, rồi hằng tuần.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Hiện nay, cơ quan báo PNVN có đến 10 ấn phẩm báo chí, truyền thông phục vụ bạn đọc từ vùng sâu, vùng xa ở trong nước đến các quốc gia khác. Bên cạnh tờ báo PNVN ra định kỳ 3 số một tuần và tờ “Phụ nữ Cuối tuần”, Báo còn có các ấn phẩm khác, đó là chuyên san “Hạnh phúc gia đình” được ra đời năm 1992; “Thế giới phụ nữ” ra đời năm 1995; “Chuyên đề Phụ nữ Dân tộc thiểu số và Miền núi” được bắt đầu từ năm 2009 dành cho các hội, chi hội phụ nữ của các xã, thôn, bản; tạp chí Phụ nữ Việt Nam đối ngoại, bằng tiếng Anh phát hành 3 tháng/kỳ phục vụ cho tác tổ chức, cá nhân quốc tế quan tâm tới Việt Nam và phụ nữ Việt Nam. Năm 2015, Báo đã cho ra đời Trang thông tin điện tử dành cho phụ nữ Việt Nam ở nước ngoài, với tên miền www.pnvnnuocngoai.vn; Báo Phụ nữ Việt Nam điện tử ,với tên miền http://www.phunuvietnam.vn; App “Bí mật Eva” trên điện thoại di động, và Tổng đài tư vấn Thanh Tâm. Sau hơn 50 năm kể từ ngày thành lập, Báo PNVN từ một toà soạn báo in thuần tuý sang toà soạn đa phương tiện, kịp thời đáp ứng nhu cầu của từng đối tượng phụ nữ chuyên biệt trong kỷ nguyên công nghệ số. Các ấn phẩm của Báo PNVN mang đậm tính nhân văn, đề cập đến những vấn đề của phụ nữ nhưng lại là vấn đề chung của gia đình Việt Nam và của toàn xã hội&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Mục “Chị Thanh Tâm” ra đời vào khoảng năm 1955 - 1956 đã được duy trì cho đến tận ngày nay, và luôn là nơi phản ánh tâm tư nguyện vọng, khích lệ phụ nữ tự tin, phấn đấu vươn lên trong cuộc sống. Báo PNVN tổ chức các sự kiện nhằm làm phong phú nội dung tin, bài để thu hút bạn đọc trẻ như cuộc thi “Hoa hậu, Hoa khôi Phụ nữ Việt Nam qua ảnh”; cuộc thi viết “Dọc đường công tác Hội”; Chương trình từ thiện “Mottainai- Trao yêu thương, nhận hạnh phúc”; Chương trình “Nuôi dưỡng nhân tài” nhằm kết nối, trao kiến thức và học bổng cho hàng trăm học sinh giỏi, có hoàn cảnh khó khăn và các chương trình khác. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
=='''ài liệu tham khảo'''==&lt;br /&gt;
# Báo Phụ nữ Việt Nam, 06.3.2018, “Phụ nữ Việt Nam luôn là tờ báo giàu bản sắc giới, đậm tính nhân văn”, https://phunuvietnam.vn/phu-nu-viet-nam-luon-la-to-bao-giau-ban-sac-gioi-dam-tinh-nhan-van-39525.htm&lt;br /&gt;
# Báo Phụ nữ Việt Nam, 5.3.2018, “Báo Phụ nữ Việt Nam: Địa chỉ tin cậy của phụ nữ, người bạn trong mỗi gia đình”; https://phunuvietnam.vn/bao-pnvn-dia-chi-tin-cay-cua-phu-nu-nguoi-ban-trong-moi-gia-dinh-39510.htm&lt;br /&gt;
# VTV Media, 20.10.2020, “Nhật ký người Việt”; https://vtv.vn/video/nhat-ky-nguoi-viet-     20-10-2020-466119.htm&lt;/div&gt;</summary>
		<author><name>Deepmind2</name></author>
	</entry>
	<entry>
		<id>https://bktt.vn/index.php?title=Ph%C3%B4ng_l%C6%B0u_tr%E1%BB%AF_%C4%90%E1%BA%A3ng_C%E1%BB%99ng_s%E1%BA%A3n_Vi%E1%BB%87t_Nam&amp;diff=22416</id>
		<title>Phông lưu trữ Đảng Cộng sản Việt Nam</title>
		<link rel="alternate" type="text/html" href="https://bktt.vn/index.php?title=Ph%C3%B4ng_l%C6%B0u_tr%E1%BB%AF_%C4%90%E1%BA%A3ng_C%E1%BB%99ng_s%E1%BA%A3n_Vi%E1%BB%87t_Nam&amp;diff=22416"/>
		<updated>2023-01-11T03:32:19Z</updated>

		<summary type="html">&lt;p&gt;Deepmind2: Tạo trang mới với nội dung “&amp;lt;indicator name=&amp;quot;mới&amp;quot;&amp;gt;File:UnderCon icon.svg|40px|link={{TALKPAGENAME}}#Bình duyệt|alt=Mục từ này cần được bình duyệt|Mục từ này…”&lt;/p&gt;
&lt;hr /&gt;
&lt;div&gt;&amp;lt;indicator name=&amp;quot;mới&amp;quot;&amp;gt;[[File:UnderCon icon.svg|40px|link={{TALKPAGENAME}}#Bình duyệt|alt=Mục từ này cần được bình duyệt|Mục từ này cần được bình duyệt]]&amp;lt;/indicator&amp;gt;&lt;br /&gt;
'''Phông lưu trữ Đảng Cộng sản Việt Nam''' bao gồm toàn bộ tài liệu lưu trữ được hình thành trong quá trình hoạt động của các tổ chức của Đảng Cộng sản Việt Nam (ĐCSVN), các tổ chức tiền thân của Đảng, các tổ chức chính trị xã hội; các nhân vật lịch sử, tiêu biểu của Đảng và của các tổ chức chính trị xã hội .&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Phông lưu trữ ĐCSVN được bảo quản trong các kho lưu trữ cấp ủy từ Trung ương đến địa phương theo Quyết định 20-QĐ/TW ngày 23.9.1987 của Ban Bí thư trung ương Đảng (BBTTW) khóa VI. Thành phần Phông lưu trữ bao gồm toàn bộ tài liệu lưu trữ của Đảng và 6 tổ chức chính trị xã hội hình thành trong quá trình hoạt động của các cấp ủy, cơ quan Đảng và Đoàn các cấp .&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
'''1. Tài liệu lưu trữ Đảng ở Trung ương gồm có''': các sưu tập lưu trữ; phông tài liệu cá nhân của các lãnh tụ và các lãnh đạo của Đảng và phông tài liệu của các tổ chức Đảng Cộng sản Việt Nam.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
'''1.1. Về các sưu tập lưu trữ: '''&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
''Sưu tập “Các tổ chức tiền thân của Đảng (1924-1930)”'': sưu tập tài liệu về Việt Nam cách mạng thanh niên (thời gian từ 1925 – 2.1930), tài liệu về Đông Dương cộng sản Đảng (10.1929 – 2.1930), tài liệu về An Nam cộng sản Đảng, tài liệu về Đông Dương cộng sản liên đoàn và tài liệu về Tân Việt cách mạng Đảng (từ 1925 – 2.1930).&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
''Sưu tập “Xứ ủy Bắc kỳ”, Xứ ủy Trung kỳ”'' và ''“Xứ ủy Nam kỳ”'': tài liệu trong các sưu tập có thời gian từ năm 1930 đến1945 phản ánh tình hình hoạt động của các Xứ uỷ ba miền Bắc Trung Nam sau ngày thành lập Đảng (03.02.1930). Hầu hết là những tài liệu rời, lẻ, thiếu hệ thống.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
''Sưu tập “Sách, báo chí, truyền đơn của Đảng”'' có thời gian từ năm 1925 đến năm 1945 của các tổ chức cách mạng, phản ánh về mọi mặt của cuộc đấu tranh cách mạng và đời sống của các giai cấp, tầng lớp trong xã hội;&lt;br /&gt;
	&lt;br /&gt;
''Sưu tập “Chính quyền cũ (1925 - 1945)”'': về khối lượng gồm 61 cặp tài liệu bao gồm tài liệu của Sở Mật thám Pháp ở Đông Dương, các Sở Mật thám ở Bắc kỳ, Trung kỳ, Nam kỳ, Lào, Miên, Pháp và các nước khác về hoạt động của các đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam, những tài liệu của Đảng mà chúng thu được, các thông tư, chỉ thị của Chính quyền thuộc địa về việc đối phó với phong trào cách mạng ở Việt Nam. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
''Sưu tập tài liệu “Hội nghị thành lập Đảng cộng sản Việt Nam, Đại hội I, Ban lãnh đạo Trung ương (1930-1945)”'': trong sưu tập, có một số tài liệu văn kiện phản ảnh sự ra đời và hoạt động của Đảng trong cao trào cách mạng đầu tiên của lịch sử Việt Nam hiện đại. Đó là cương lĩnh, chánh cương, đường lối chiến lược, sách lược và điều lệ vắn tắt của Đảng; tài liệu văn kiện phản ánh về tổ chức, phương hướng hoạt động của các đoàn thể chính trị và Mặt trận dân tộc thống nhất do Đảng lãnh đạo; &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
'''1.2. Phông tài liệu cá nhân của các lãnh tụ và các lãnh đạo của Đảng:''' Tài liệu về thân thế, sự nghiệp của Chủ tịch Hồ Chí Minh và tài liệu của các lãnh tụ tiền bối của Đảng: Lê Hồng Phong, Nguyễn Thị Minh Khai, Trần Phú, Hà Huy Tập...; Tài liệu của các lãnh đạo trong BCT, BBTTW ĐCSVN: Tôn Đức Thắng, Lê Duẩn, Trường Chinh, Lê Đức Thọ, Lê Thanh Nghị, Nguyễn Duy Trinh, Nguyễn Văn Trân, Xuân Thủy, Lê Văn Lương, Nguyễn Lam, Trần Quốc Hoàn, Nguyễn Thanh Bình, Hoàng Anh, Phạm Hùng, Tố Hữu... và Hồi ký của các lãnh đạo chủ chốt và cán bộ lão thành của Đảng tham gia vào các sự kiện lịch sử quan trọng của Đảng.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
'''1.3.Tài liệu của các tổ chức ĐCSVN ở TW'' gồm giai đoạn trước ngày 02 tháng 9 năm 1945 và giai đoạn từ sau 02 tháng 9 năm 1945. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
''1.3.1. Tài liệu hình thành trước cách mạng Tháng Tám 1945:'' Trong kho Lưu trữ TW Đảng, ngoài các sưu tập lưu trữ còn có nhiều tài liệu của TW Cục miền Nam và Xứ ủy Nam bộ có nội dung khá phong phú, phản ánh sự lãnh đạo, chỉ đạo của TW Đảng, TW Cục miền Nam trong việc lãnh đạo Cách mạng miền Nam; Tài liệu của các tổ chức và đoàn thể quần chúng do ĐCSVN trực tiếp lãnh đạo thuộc thời kỳ trước 1945: Công hội đỏ, Tổng Nông hội Đông Dương, Cộng sản thanh niên đoàn, Hội Cứu tế Đỏ Đông Dương, Hội Phản đế Đồng Minh, v.v...&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
''1.3.2. Tài liệu sau cách mạng Tháng Tám 1945'', từ khi có Chính quyền cách mạng do Đảng lãnh đạo bao gồm các nhóm chủ yếu nhưtài liệu của các Đảng bộ trực thuộc Ban Bí thư TW (hiện nay đã giải thể) gồm: tài liệu của Xứ uỷ Nam kỳ từ 1945-1950; tài liệu của TW Cục miền Nam từ 1951-1954; tài liệu của Xứ uỷ Nam bộ từ 1954-1960 và tài liệu của TW Cục miền Nam từ 1961-1975. Nội dung các nhóm tài liệu trên phản ánh quá trình tổng kết các chiến dịch và những cuộc nổi dậy của quần chúng, các hoạt động của cấp uỷ và tình hình đời sống của quân và dân ta, hoạt động của Xứ ủy Nam bộ và TW Cục miền Nam.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Phông Lưu trữ ĐCSVN còn bao gồm tài liệu của: Liên khu ủy Việt bắc (1946-1956); Khu ủy Khu tự trị Việt bắc (1956-1975); Khu ủy Khu tự trị Tây Bắc (1972-1975); Liên khu ủy III (1948-1953); Khu ủy Tả Ngạn (1952-1958); Liên khu ủy IV (1946-1958); Khu ủy Trị thiên - Huế (1966-1975); Liên khu ủy V (1949-1975); Khu ủy VI (1961-1975); Khu ủy VII (1947-1975); Khu ủy VIII (1947-1976); Khu ủy IX (1945-1975) và Ban Cán sự Đảng khu Lao - Hà - Yên (1956 - 1958).&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Từ khối tài liệu trên có thể khai thác nhiều thông tin về việc củng cố và xây dựng lực lượng quân sự, tiến hành các chiến dịch lớn: Chiến dịch Thu đông 1947, chiến dịch Biên giới 1950, các chiến dịch Hoàng Hoa Thám, Lê Hồng Phong, Trần Hưng Đạo, Điên Biên phủ (1951-1954), về quá trình Đảng ta lãnh đạo nhân dân củng cố và gìn giữ hòa bình, tình hình nông dân trong phát động quần chúng giảm tô, cải cách ruộng đất, sửa sai trong cải cách ruộng đất, về đẩy mạnh công tác xây dựng và phát triển Đảng.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Ngoài ra, sau ngày 02.9.1945 cần phải kể đến các khối tài liệu quan trọng sau:Khối tài liệu Đại hội Đảng toàn quốc và BCHTW Đảng; Tài liệu về hoạt động của Ban Chấp hành Trung ương Đảng từ khoá I đến khoá XII; Khối tài liệu các Ban tham mưu, giúp việc Trung ương và Tài liệu của các Đảng uỷ trực thuộc TW;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Phông lưu trữ Đại hội Đảng toàn quốc và phông lưu trữ BCHTW Đảng là các phông lưu trữ riêng biệt. Các phông tài liệu này đang được lưu giữ tại Kho lưu trữ lịch sử và Kho lưu trữ hiện hành VPTW Đảng. Thành phần tài liệu bao gồm: tài liệu chuẩn bị Đại hội do BCHTW đương nhiệm chuẩn bị; tài liệu do Đại hội, Đoàn Chủ tịch, Đoàn Thư ký Đại hội ban hành; tài liệu của các Tiểu ban văn kiện, nhân sự Đại hội chuẩn bị; tài liệu của các cấp ủy địa phương, ban, ngành, đoàn thể TW gửi Đại hội; các bài diễn văn chào mừng của khách quốc tế; các tham luận của các đại biểu Đại hội; đơn thư, kiến nghị của các cơ quan, đoàn thể, các tổ chức, quần chúng trong và ngoài nước. Về nội dung tài liệu phản ánh quá trình chuẩn bị các dự thảo văn kiện của BCHTW trình tại Đại hội, quá trình chuẩn bị nhân sự của BCHTW Đảng khoá tới, hoạt động của Đoàn Chủ tịch, Đoàn Thư ký Đại hội, các đoàn đại biểu trong nước dự Đại hội, hoạt động của các đoàn đại biểu của các đảng anh em và các tổ chức quốc tế dự Đại hội, v.v.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
''Tài liệu về hoạt động của Ban Chấp hành Trung ương Đảng từ khoá I đến khoá XII''. Đây là khối tài liệu có khối lượng lớn và rất quan trọng. Thành phần tài liệu gồm: hồ sơ Hội nghị của BCHTW, BCT, Thường vụ BCT, BBT, Hội nghị cán bộ do BBT triệu tập; tài liệu do TW ban hành (chỉ thị, nghị quyết, quyết định, thông báo, báo cáo); tài liệu phản ánh các vụ việc điển hình có sự chỉ đạo xử lý của TW,…Nội dung của tài liệu phản ánh:Các chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng và kết quả thực hiện qua các giai đoạn của lịch sử đấu tranh giành độc lập dân tộc, thống nhất đất nước và xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH trên tất cả các lĩnh vực chính trị, an ninh, quốc phòng, đối ngoại, kinh tế, xã hội, khoa học giáo dục, vận động quần chúng, v.v...;Các sự kiện trọng đại, những thành công to lớn của đất nước ta trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc dưới sự lãnh đạo của Đảng; Công tác xây dựng Đảng về chính trị, tư tưởng, lý luận trên cơ sở chủ nghĩa Mác-Lê-nin và tư tưởng HCM để đảm bảo cho Đảng ngày càng vững mạnh và thực hiện được sứ mạng cao cả của mình.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
''Khối tài liệu các Ban tham mưu, giúp việc Trung ương:'' Bao gồm tài liệu cơ quan Văn phòng TW, Ban Tổ chức TW, Ủy ban Kiểm tra TW, Ban Tuyên giáo TW, Ban Nội chính TW, Ban Dân vận, Dân tộc TW, Ban Kinh tế TW, Ban Đối ngoại TW, Báo Nhân dân, Tạp chí Cộng sản và Nhà xuất bản Chính trị quốc gia. Nội dung tài liệu phản ánh chức năng nhiệm vụ của các Ban trên các mặt hoạt động để tham mưu cho TW về những lĩnh vực được TW phân công, theo dõi, kiểm tra, quán triệt thực hiện các Nghị quyết, Chỉ thị của TW; nghiên cứu tổng hợp tình hình, hướng dẫn các ngành các cấp thực hiện nhiệm vụ công tác chuyên môn thuộc phạm vi theo dõi của Ban.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Do thực hiện chức năng tham mưu giúp việc BCHTW nên khối tài liệu hình thành trong lĩnh vực hoạt động của các cơ quan này có một giá trị đặc biệt quan trọng. Nó phản ánh đầy đủ mọi sắc thái từ cơ cấu tổ chức, chức năng, nhiệm vụ của hệ thống tổ chức Đảng trong việc thực hiện đường lối, chủ trương, nghị quyết của Đảng. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
''Tài liệu của các Đảng uỷ trực thuộc TW:'' Đảng ủy Quân sự TW, Đảng ủy Công an TW, Đảng uỷ Dân Chính Đảng TW, Đảng uỷ khối các cơ quan TW, Đảng ủy khối các cơ quan kinh tế TW, Đảng ủy khối các cơ quan đối ngoại TW, Đảng uỷ các cơ quan khoa giáo TW, Đảng uỷ khối các cơ quan Dân vận TW, Đảng uỷ khối các cơ quan tư tưởng TW. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
'''2. Tài liệu lưu trữ của Đảng ở địa phương'''&lt;br /&gt;
Phông lưu trữ cấp ủy địa phương gồm một số loại khác nhau hình thành trước và sau ngày 02.9.1945 (đối với các cấp ủy phía bắc) và tài liệu hình thành trước và sau 1975 (đối với các cấp ủy phía nam). Thành phần bao gồm: Những tài liệu phản ánh hoạt động của các tổ chức cơ sở Đảng trong kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ; nội dung phản ánh tinh thần đấu tranh anh dũng của đảng viên và nhân dân ta trong chiến đấu bảo vệ Tổ quốc và xây dựng đất nước; phản ánh các mặt hoạt động của Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh, thành phố; sự lãnh đạo của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh, thành phố trong việc thực hiện các chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước trên các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hoá xã hội, an ninh và quốc phòng, đối ngoại... tại địa phương.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
'''''2.1. Ở các Kho lưu trữ tỉnh, thành ủy''''' có các phông lưu trữ sau:phông cơ quan lãnh đạo đảng cấp tỉnh (gồm tài liệu đại hội đại biểuđảng bộ tỉnh và tài liệu tỉnh ủy); các phông cơ quan tham mưu, giúp việc tỉnh, thành ủy; các phông đảng ủy trực thuộc tỉnh, thành ủy; các phông tổ chức chính trị xã hội cấp tỉnh; phông trường chính trị tỉnh; phông báo đảng tỉnh; phông tỉnh ủy, thành ủy đã giải thể; các phông cơ quan tham mưu, giúp việc tỉnh, thành ủy; các đảng ủytrực thuộc tỉnh, thành ủy; trường Đảng tỉnh đã giải thể và phông liên hợp các ban cán sự đảng cấp tỉnh.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
'''''2.2. Ở các kho lưu trữ huyện, quận, thị, thành ủy trực thuộc tỉnh''''', thành ủycó các phông lưu trữ sau:phông cơ quan lãnh đạo đảng cấp huyện (bao gồm tài liệu đại hiệu đạibiểu đảng bộ huyện, tài liệu Ban Chấp hành Đảng bộ huyện); các phông cơ quan tham mưu, giúp việc huyện ủy; phông trường chính trị huyện; phông liên hợp các đảng ủy (khối cơ quan) trực thuộc huyện ủy; các phông đảng bộ, chi bộ cơ sở (xã, phường, thị trấn); các phông tổ chức chính trị xã hội cấp huyện; phông đảng bộ huyện đã giải thể và các phông liên hợp các tổ chức chính trị xã hội cấp cơ sở trực thuộc.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Tóm lại, tài liệu Phông lưu trữ ĐCSVN có nội dung phong phú phản ánh lịch sử hoạt động của Đảng ta từ khi ra đời, lãnh đạo dân tộc ta hoàn thành cuộc cách mạng giải phóng dân tộc và lãnh đạo công cuộc xây dựng, bảo vệ đất nước; phản ánh chức năng nhiệm vụ của các cơ quan tham mưu, giúp việc BCHTW, các Đảng ủy, Đảng Đoàn, Ban Cán sự Đảng các cơ quan nhà nước và đoàn thể TW.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Tài liệu lưu trữ Đảng là những tài liệu có giá trị nhiều mặt được hình thành trong quá trình hoạt động của Đảng ta, là di sản vô cùng quý giá của Đảng và của dân tộc. Đó là sự kết tinh trí tuệ của toàn Đảng, là nguồn sử liệu phong phú và quan trọng cho nghiên cứu lịch sử Đảng và lịch sử dân tộc. Những thông tin quá khứ trong tài liệu lưu trữ của Đảng có thể giúp cho việc tổng kết kinh nghiệm chỉ đạo thực tiễn phong phú của Đảng ta trong hơn 90 năm qua. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
=='''Tài liệu tham khảo'''==&lt;br /&gt;
# Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng về kháng chiến chống thực dân Pháp. T.1, 2. NXB Sự thật, H., 1981.&lt;br /&gt;
# Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ 4, 5, 6, 7. NXB Sự thật. Hà Nội – 1976 - 1991&lt;br /&gt;
# Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ 8. NXB Chính trị Quốc gia. Hà Nội - 1996.&lt;br /&gt;
# Hồ sơ Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ II họp từ ngày 11 đến ngày 19.02.1951. Kho lưu trữ Trung ương Đảng. Phông số 5, MLHS số 1.       &lt;br /&gt;
# Hồ sơ Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III họp từ ngày 5 đến12.9.1960. Kho lưu trữ Trung ương Đảng. Phông số 7, MLHS số 1.&lt;br /&gt;
# Luật Lưu trữ - Luật số 01/2011/QH13 được Quốc hội thông qua ngày 11.11.2011&lt;br /&gt;
# Quyết định số 270-QĐ/TW ngày 06.12.2014 của Ban Chấp hành trung ương quy định về Phông lưu trữ Đảng Cộng sản Việt Nam&lt;br /&gt;
# Văn bản hiện hành về công tác văn thư và công tác lưu trữ. NXB Lao động, H., 1996.&lt;/div&gt;</summary>
		<author><name>Deepmind2</name></author>
	</entry>
	<entry>
		<id>https://bktt.vn/index.php?title=Phan_Thanh&amp;diff=22415</id>
		<title>Phan Thanh</title>
		<link rel="alternate" type="text/html" href="https://bktt.vn/index.php?title=Phan_Thanh&amp;diff=22415"/>
		<updated>2023-01-11T03:23:28Z</updated>

		<summary type="html">&lt;p&gt;Deepmind2: &lt;/p&gt;
&lt;hr /&gt;
&lt;div&gt;&amp;lt;indicator name=&amp;quot;mới&amp;quot;&amp;gt;[[File:UnderCon icon.svg|40px|link={{TALKPAGENAME}}#Bình duyệt|alt=Mục từ này cần được bình duyệt|Mục từ này cần được bình duyệt]]&amp;lt;/indicator&amp;gt;&lt;br /&gt;
'''Phan Thanh''' (1908-1939)  nhà báo, nhà hoạt động chính trị, bút danh là Trạc Anh. Ông sinh ngày 01 tháng 6 năm 1908 trong một gia đình nông dân, có truyền thống yêu nước ở làng Bảo An, tổng Đa Hòa, phủ Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam, nay là thôn Bảo An, xã Điện Quang, huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam, mất ngày 01 tháng 5 năm 1939 tại Hà Nội. Cha ông là Phan Định (1868 - 1929), thường gọi là Biện Chín, một người yêu nước, ghét Tây, tính tình khảng khái, đã từng cụp ô làm gậy phang vào cổ tên chủ đồn điền người Pháp khi bị hắn hống hách dọa nạt. Mẹ ông là Lê Thị Tiếu (1871 - 1947), con cử nhân Lê Dăng Cung, một nhà nho nổi tiếng trong vùng.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Lên tám tuổi, Phan Thanh (PT) vào học trường tiểu học ở làng. Sau khi tốt nghiệp Sơ học yếu lược, PT được gia đình cho ra Hội An học tiếp. Ông học giỏi, tốt nghiệp xuất sắc và nhận bằng tiểu học Pháp - Việt, rồi thi đỗ vào trường Quốc học Huế. Những năm tháng học tại Trường Quốc học Huế, PT có điều kiện tiếp xúc với nhiều thanh niên có tinh thần yêu nước, được đọc những sách báo tiến bộ, qua đó giúp ông thấu hiểu sâu sắc hơn tình cảnh lầm than của nhân dân, nung nấu trong lòng câu hỏi phải làm gì để góp phần cứu nước, mang lại cuộc sống tốt đẹp cho người dân.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Năm 1926, PT tốt nghiệp Trường Quốc học Huế, nhận bằng Cao đẳng Trung học Pháp - Việt và được điều đi dạy tại Trường tiểu học châu Ngọc Lặc, miền núi Thanh Hóa. Mấy tháng sau khi PT nhận việc, một cuộc bãi khóa nổ ra tại trường. Do nghi ngờ có liên quan đến cuộc bãi khóa đó, PT đã bị Khâm sứ Trung kỳ quyết định cách chức giáo học và sa thải, ông phải trở về quê. Trong thời gian này, PT kết hôn với Lê Thị Xuyến, nữ sinh Trường Đồng Khánh đã tốt nghiệp Thành trung và được giữ lại trường làm giáo viên.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Năm 1928, sau khi cưới vợ xong, PT một mình ra Hà Nội kiếm sống và lập nghiệp. PT chọn nghề dạy học trường tư, lúc đầu là Trường Gia Long, sau chuyển sang Trường Thăng Long, nơi có nhiều nhà giáo nổi tiếng làm việc, như: Hoàng Minh Giám, Đặng Thai Mai, Võ Nguyên Giáp, Vũ Đình Hòe, Bùi Kỷ, Tôn Thất Bình, Phan Anh, Phạm Huy Thông, v.v..&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Ở Hà Nội, vừa dạy học kiếm sống, PT vừa tích cực tham gia các hoạt động xã hội. Ông tham gia thành lập ''Hội truyền bá Quốc ngữ'' và được cử làm Thư ký của Hội; gia nhập ''Đảng Xã hội Pháp'' (SFIO) được cử làm Phó Thư ký Chi nhánh Bắc Đông Dương, Thư ký Chi đảng Hà Nội của SFIO. Năm 1937, PT được Mặt trận Dân chủ, một tổ chức do Đảng Cộng sản Đông Dương chỉ đạo, giới thiệu tranh cử vào Viện Dân biểu Trung Kỳ, trúng cử với số phiếu cao và được cử vào Đại hội đồng Kinh tế - Tài chính Đông Dương. Cuối năm 1938 và đầu năm 1939, PT hai lần ứng cử vào Hội đồng thành phố Hà Nội đều trúng cử với số phiếu cao. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Ngày 01 thấng 5 năm 1939, PT đột ngột ra đi mãi mãi do bạo bệnh khi mới ba mươi mốt tuổi. Báo ''Tiếng Dân'' số ra ngày 06 tháng 5 năm 1939 đưa tin: “ông Phan Thanh, dân biểu Trung Kỳ (địa hạt Đại Lộc, Hòa Vang, Đà Nẵng) đã hai lần dự Đại hội đồng Kinh tế - Tài chinh Đông Dương, tạ thế tại nhà thương Hà Nội buổi sáng ngày 01.5 vì bệnh đau mụn ở sau lưng hưởng thọ 31 tuổi”. Báo ''Notre Voix'' đưa tin với hai dòng tít lớn: “Một lễ tang đồ sộ và cảm động. Hơn 10.000 người đã vĩnh biệt trọng thể đồng chí Phan Thanh”.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Ngay từ khi trên ghế nhà trường Quốc họ Huế, PT đã là người có cảm tình đặc biệt với tờ ''La Cloche Fêlée'' của Nguyễn An Ninh. Trong một bài viết của mình, PT nói rằng ông đã đọc ngấu nghiến những bài trên tờ báo đó. Về sau, ông trở thành cộng tác của tờ ''L’Annam'' của Phan Văn Trường, chính là tờ ''La Cloche Fêlée'' đổi tên và những bài báo đầu tiên của PT cũng đăng trên báo L’Annam. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Khi ra Hà Nội, PT có điều kiện gặp gỡ, làm việc cùng nhiều trí thức yêu nước, hòa nhập bầu không khí của một trung tâm hàng đầu của cuộc đấu tranh chính trị chống chế độ áp bức của đế quốc, phong kiến, nhất là những năm tháng sôi nổi thời kỳ Mặt trận Dân chủ Đông Dương. PT viết bài cho các báo: Le Travaille, Ressemblement, Le Peuple, An Avant, Demain, Notre Voix, La Vie Républicaine, Thời thế, Tin tức, Đời nay, v.v.. Phần lớn những tờ báo do Đảng Cộng sản Đông Dương chủ trương công khai hoặc chỉ đạo bí mật. Là đảng viên Đảng Xã hội Pháp, nhà hoạt động xã hội nổi tiếng, người giỏi tiếng Pháp, nhiều bài báo của PT gây được tiếng vang, được nhiều người tìm đọc. Không chỉ viết báo, PT còn tham gia các phong trào vận động tổ chức hội nghị báo giới, tổ chức phát triển một số tờ báo và bị chính quyền Pháp theo dõi sát sao. Sogny - Chánh mật thám Bắc Kỳ và Trung Kỳ đã viết trong một báo cáo: “Báo Notre Voix sống được là nhờ tinh thần hy sinh của một số chiến sỹ cách mạng và người cảm tình như mấy người sau đây đã giành một phần lương của mình, nộp vào quỹ báo khoảng 80 đồng/tháng: Võ Nguyên Giáp, Đặng Thai Mai, Phan Thanh...”. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
PT còn tham gia hoạt động báo chí ở miền Trung, nhất là thời gian ông tham gia Viện Dân biểu Trung Kỳ. Nhất cử, nhất động của PT liên quan đến báo chí đều bị mật thám Pháp theo dõi. Báo cáo của Chánh mật thám Sogny ngày 17 tháng 6 năm 1938 ghi rõ “Theo nguồn tin đáng tin cậy, gần đây Phan Thanh dân biểu Trung Kỳ, giáo sư trường Thăng Long đã đến Huế làm việc với các đồng chí của mình để tổ chức lại tờ báo Dân của Nguyễn Đan Quế. Cũng Sogny trong báo cáo N.391 ngày 07.9.1938 còn cho rằng, PT là thành viên “Ban Trị sự, biên tập, tư vấn của báo Dân”.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Cuộc đời hoạt động xã hội và làm báo của PT rất ngắn ngủi nhưng đã để lại dấu ấn rất đậm nét trong xã hội đương thời cũng như trong lịch sử báo chí yêu nước, cách mạng Việt Nam. Trong Báo cáo gửi Ban Chấp hành Quốc tế Cộng sản cuối tháng 7 năm 1939, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã nhắc đến đám tang của nhà hoạt động xã hội, nhà báo nổi tiếng PT và nhận xét: “Chưa bao giờ có một đám tang lớn như thế ở Hà Nội”.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
'''Tài liệu tham khảo'''&lt;br /&gt;
# Hồ Chí Minh: Báo cáo gửi Ban Chấp hành Quốc tế Cộng sản, cuối tháng 7 năm 1939, Hồ Chí Minh toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia Sự Thật, HN, 2011, tr. 169-189.&lt;br /&gt;
# Phan Vịnh:  Phan Thanh – Anh là ai?, Xuất bản lần thứ hai có sửa chữa, bổ sung, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, HN, 2019.&lt;br /&gt;
# Đỗ Quang Hưng chủ biên: Lịch sử báo chí Việt Nam 1865-1945, Nxb Khoa học xã hội, HN, 2018.&lt;/div&gt;</summary>
		<author><name>Deepmind2</name></author>
	</entry>
	<entry>
		<id>https://bktt.vn/index.php?title=Phan_Thanh&amp;diff=22414</id>
		<title>Phan Thanh</title>
		<link rel="alternate" type="text/html" href="https://bktt.vn/index.php?title=Phan_Thanh&amp;diff=22414"/>
		<updated>2023-01-11T03:22:56Z</updated>

		<summary type="html">&lt;p&gt;Deepmind2: Tạo trang mới với nội dung “&amp;lt;indicator name=&amp;quot;mới&amp;quot;&amp;gt;File:UnderCon icon.svg|40px|link={{TALKPAGENAME}}#Bình duyệt|alt=Mục từ này cần được bình duyệt|Mục từ này…”&lt;/p&gt;
&lt;hr /&gt;
&lt;div&gt;&amp;lt;indicator name=&amp;quot;mới&amp;quot;&amp;gt;[[File:UnderCon icon.svg|40px|link={{TALKPAGENAME}}#Bình duyệt|alt=Mục từ này cần được bình duyệt|Mục từ này cần được bình duyệt]]&amp;lt;/indicator&amp;gt;&lt;br /&gt;
'''Phan Thanh''' (1908-1939)  nhà báo, nhà hoạt động chính trị, bút danh là Trạc Anh. Ông sinh ngày 01.6.1908 trong một gia đình nông dân, có truyền thống yêu nước ở làng Bảo An, tổng Đa Hòa, phủ Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam, nay là thôn Bảo An, xã Điện Quang, huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam, mất ngày 01.5.1939 tại Hà Nội. Cha ông là Phan Định (1868 - 1929), thường gọi là Biện Chín, một người yêu nước, ghét Tây, tính tình khảng khái, đã từng cụp ô làm gậy phang vào cổ tên chủ đồn điền người Pháp khi bị hắn hống hách dọa nạt. Mẹ ông là Lê Thị Tiếu (1871 - 1947), con cử nhân Lê Dăng Cung, một nhà nho nổi tiếng trong vùng.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Lên tám tuổi, Phan Thanh (PT) vào học trường tiểu học ở làng. Sau khi tốt nghiệp Sơ học yếu lược, PT được gia đình cho ra Hội An học tiếp. Ông học giỏi, tốt nghiệp xuất sắc và nhận bằng tiểu học Pháp - Việt, rồi thi đỗ vào trường Quốc học Huế. Những năm tháng học tại Trường Quốc học Huế, PT có điều kiện tiếp xúc với nhiều thanh niên có tinh thần yêu nước, được đọc những sách báo tiến bộ, qua đó giúp ông thấu hiểu sâu sắc hơn tình cảnh lầm than của nhân dân, nung nấu trong lòng câu hỏi phải làm gì để góp phần cứu nước, mang lại cuộc sống tốt đẹp cho người dân.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Năm 1926, PT tốt nghiệp Trường Quốc học Huế, nhận bằng Cao đẳng Trung học Pháp - Việt và được điều đi dạy tại Trường tiểu học châu Ngọc Lặc, miền núi Thanh Hóa. Mấy tháng sau khi PT nhận việc, một cuộc bãi khóa nổ ra tại trường. Do nghi ngờ có liên quan đến cuộc bãi khóa đó, PT đã bị Khâm sứ Trung kỳ quyết định cách chức giáo học và sa thải, ông phải trở về quê. Trong thời gian này, PT kết hôn với Lê Thị Xuyến, nữ sinh Trường Đồng Khánh đã tốt nghiệp Thành trung và được giữ lại trường làm giáo viên.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Năm 1928, sau khi cưới vợ xong, PT một mình ra Hà Nội kiếm sống và lập nghiệp. PT chọn nghề dạy học trường tư, lúc đầu là Trường Gia Long, sau chuyển sang Trường Thăng Long, nơi có nhiều nhà giáo nổi tiếng làm việc, như: Hoàng Minh Giám, Đặng Thai Mai, Võ Nguyên Giáp, Vũ Đình Hòe, Bùi Kỷ, Tôn Thất Bình, Phan Anh, Phạm Huy Thông, v.v..&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Ở Hà Nội, vừa dạy học kiếm sống, PT vừa tích cực tham gia các hoạt động xã hội. Ông tham gia thành lập ''Hội truyền bá Quốc ngữ'' và được cử làm Thư ký của Hội; gia nhập ''Đảng Xã hội Pháp'' (SFIO) được cử làm Phó Thư ký Chi nhánh Bắc Đông Dương, Thư ký Chi đảng Hà Nội của SFIO. Năm 1937, PT được Mặt trận Dân chủ, một tổ chức do Đảng Cộng sản Đông Dương chỉ đạo, giới thiệu tranh cử vào Viện Dân biểu Trung Kỳ, trúng cử với số phiếu cao và được cử vào Đại hội đồng Kinh tế - Tài chính Đông Dương. Cuối năm 1938 và đầu năm 1939, PT hai lần ứng cử vào Hội đồng thành phố Hà Nội đều trúng cử với số phiếu cao. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Ngày 01 thấng 5 năm 1939, PT đột ngột ra đi mãi mãi do bạo bệnh khi mới ba mươi mốt tuổi. Báo ''Tiếng Dân'' số ra ngày 06 tháng 5 năm 1939 đưa tin: “ông Phan Thanh, dân biểu Trung Kỳ (địa hạt Đại Lộc, Hòa Vang, Đà Nẵng) đã hai lần dự Đại hội đồng Kinh tế - Tài chinh Đông Dương, tạ thế tại nhà thương Hà Nội buổi sáng ngày 01.5 vì bệnh đau mụn ở sau lưng hưởng thọ 31 tuổi”. Báo ''Notre Voix'' đưa tin với hai dòng tít lớn: “Một lễ tang đồ sộ và cảm động. Hơn 10.000 người đã vĩnh biệt trọng thể đồng chí Phan Thanh”.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Ngay từ khi trên ghế nhà trường Quốc họ Huế, PT đã là người có cảm tình đặc biệt với tờ ''La Cloche Fêlée'' của Nguyễn An Ninh. Trong một bài viết của mình, PT nói rằng ông đã đọc ngấu nghiến những bài trên tờ báo đó. Về sau, ông trở thành cộng tác của tờ ''L’Annam'' của Phan Văn Trường, chính là tờ ''La Cloche Fêlée'' đổi tên và những bài báo đầu tiên của PT cũng đăng trên báo L’Annam. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Khi ra Hà Nội, PT có điều kiện gặp gỡ, làm việc cùng nhiều trí thức yêu nước, hòa nhập bầu không khí của một trung tâm hàng đầu của cuộc đấu tranh chính trị chống chế độ áp bức của đế quốc, phong kiến, nhất là những năm tháng sôi nổi thời kỳ Mặt trận Dân chủ Đông Dương. PT viết bài cho các báo: Le Travaille, Ressemblement, Le Peuple, An Avant, Demain, Notre Voix, La Vie Républicaine, Thời thế, Tin tức, Đời nay, v.v.. Phần lớn những tờ báo do Đảng Cộng sản Đông Dương chủ trương công khai hoặc chỉ đạo bí mật. Là đảng viên Đảng Xã hội Pháp, nhà hoạt động xã hội nổi tiếng, người giỏi tiếng Pháp, nhiều bài báo của PT gây được tiếng vang, được nhiều người tìm đọc. Không chỉ viết báo, PT còn tham gia các phong trào vận động tổ chức hội nghị báo giới, tổ chức phát triển một số tờ báo và bị chính quyền Pháp theo dõi sát sao. Sogny - Chánh mật thám Bắc Kỳ và Trung Kỳ đã viết trong một báo cáo: “Báo Notre Voix sống được là nhờ tinh thần hy sinh của một số chiến sỹ cách mạng và người cảm tình như mấy người sau đây đã giành một phần lương của mình, nộp vào quỹ báo khoảng 80 đồng/tháng: Võ Nguyên Giáp, Đặng Thai Mai, Phan Thanh...”. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
PT còn tham gia hoạt động báo chí ở miền Trung, nhất là thời gian ông tham gia Viện Dân biểu Trung Kỳ. Nhất cử, nhất động của PT liên quan đến báo chí đều bị mật thám Pháp theo dõi. Báo cáo của Chánh mật thám Sogny ngày 17 tháng 6 năm 1938 ghi rõ “Theo nguồn tin đáng tin cậy, gần đây Phan Thanh dân biểu Trung Kỳ, giáo sư trường Thăng Long đã đến Huế làm việc với các đồng chí của mình để tổ chức lại tờ báo Dân của Nguyễn Đan Quế. Cũng Sogny trong báo cáo N.391 ngày 07.9.1938 còn cho rằng, PT là thành viên “Ban Trị sự, biên tập, tư vấn của báo Dân”.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Cuộc đời hoạt động xã hội và làm báo của PT rất ngắn ngủi nhưng đã để lại dấu ấn rất đậm nét trong xã hội đương thời cũng như trong lịch sử báo chí yêu nước, cách mạng Việt Nam. Trong Báo cáo gửi Ban Chấp hành Quốc tế Cộng sản cuối tháng 7 năm 1939, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã nhắc đến đám tang của nhà hoạt động xã hội, nhà báo nổi tiếng PT và nhận xét: “Chưa bao giờ có một đám tang lớn như thế ở Hà Nội”.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
'''Tài liệu tham khảo'''&lt;br /&gt;
# Hồ Chí Minh: Báo cáo gửi Ban Chấp hành Quốc tế Cộng sản, cuối tháng 7 năm 1939, Hồ Chí Minh toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia Sự Thật, HN, 2011, tr. 169-189.&lt;br /&gt;
# Phan Vịnh:  Phan Thanh – Anh là ai?, Xuất bản lần thứ hai có sửa chữa, bổ sung, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, HN, 2019.&lt;br /&gt;
# Đỗ Quang Hưng chủ biên: Lịch sử báo chí Việt Nam 1865-1945, Nxb Khoa học xã hội, HN, 2018.&lt;/div&gt;</summary>
		<author><name>Deepmind2</name></author>
	</entry>
	<entry>
		<id>https://bktt.vn/index.php?title=Phan_Huy_Ch%C3%BA&amp;diff=22413</id>
		<title>Phan Huy Chú</title>
		<link rel="alternate" type="text/html" href="https://bktt.vn/index.php?title=Phan_Huy_Ch%C3%BA&amp;diff=22413"/>
		<updated>2023-01-11T03:18:21Z</updated>

		<summary type="html">&lt;p&gt;Deepmind2: Tạo trang mới với nội dung “&amp;lt;indicator name=&amp;quot;mới&amp;quot;&amp;gt;File:UnderCon icon.svg|40px|link={{TALKPAGENAME}}#Bình duyệt|alt=Mục từ này cần được bình duyệt|Mục từ này…”&lt;/p&gt;
&lt;hr /&gt;
&lt;div&gt;&amp;lt;indicator name=&amp;quot;mới&amp;quot;&amp;gt;[[File:UnderCon icon.svg|40px|link={{TALKPAGENAME}}#Bình duyệt|alt=Mục từ này cần được bình duyệt|Mục từ này cần được bình duyệt]]&amp;lt;/indicator&amp;gt;&lt;br /&gt;
'''Phan Huy Chú''' (1782-1840) một trong hai nhà thư mục học đầu tiên của Việt Nam, là quan triều Nguyễn, nhà bác học, danh nhân văn hóa Việt Nam, nhà bách khoa thư, tác gia Hán Nôm lớn của Việt Nam.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
PHC xuất thân trong gia đình có truyền thống khoa bảng, là con trai thứ ba của Lễ bộ Thượng thư, Tiến sĩ Phan Huy Ích. Ông sinh ra và lớn lên ở thôn Thụy Khuê, huyện Yên Sơn, phủ Quốc Oai, trấn Sơn Tây (nay là thôn Thuỵ Khuê, xã Sài Sơn, huyện Quốc Oai, Hà Nội, mồ côi mẹ từ năm lên 10 tuổi. Khi sinh, ông được đặt tên là Hạo, sau vì kiêng quốc húy của nhà Nguyễn nên đổi là Chú, tự Lâm Khanh, hiệu Mai Phong. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
PHC được nuôi dạy chu đáo, lại từng được Ngô Thì Nhậm  (cậu ruột) rèn dạy từ lúc 6 tuổi; nổi tiếng hay chữ ở miền phủ Quốc. Năm Tân Tỵ (1821) , ông được vua Minh Mạng   triệu vào kinh đô Huế, sai giữ chức Biên tu trường Quốc Tử Giám. Ông từng hai lần đi sứ nhà Thanh năm Ất Dậu (1825)  và năm Tân Mão (1831), về nước được thăng chức Phủ thừa phủ Thừa Thiên rồi Hiệp trấn Quảng Nam, nhưng bị dèm pha mắc tội “lộng quyền” mà bị cách chức. Năm Nhâm Thìn (1832)), ông được sai đi công cán trong phái bộ của triều đình sang Batavia  (Indonesia) để lập công chuộc tội. Hai năm sau trở về, ông được bổ làm Tư vụ bộ Công. Sau đó, vì chán chốn quan trường, ông cáo bệnh xin về hưu làm nghề dạy học và soạn sách cho đến khi mất.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Ông đã để lại những tác phẩm giá trị, hiện có bản gốc tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm Việt Nam: ''Lịch triều hiến chương loại chí (VHv.983), Lịch đại điển yếu thông luận (A.2211/1-2); Mai Phong du Tây thành dã lục (A.1136), Hoa thiều ngâm lục (A.2042), Hải trình chí lược (VHv.2071), và một số tác phẩm khác: Hoàng Việt dư địa chí, Hoa trình tục ngâm,…''&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
                                      Tranh chân dung PHC (Ảnh LVT)&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Nghiên cứu lịch sử phân loại, thư mục học Việt Nam không thể không kể đến PHC. Một trong những công trình học thuật cá nhân đồ sộ, nổi tiếng của ông là ''Lịch triều hiến chương loại chí'', được xem là bộ “bách khoa toàn thư” về cuộc sống của Việt Nam, ghi chép dữ liệu lịch sử Việt Nam thời phong kiến, gồm 49 quyển, chia làm 10 chí: Dư địa chí; Nhân vật chí; Quan chức chí; Lễ nghi chí; Khoa mục chí; Quốc dụng chí; Hình luật chí; Binh chế chí; Văn tịch chí; Bang giao chí. Đây là mười lĩnh vực khoa học riêng, lĩnh vực nào ông cũng uyên bác và có những quan điểm sâu sắc. Với sự phân loại, hệ thống hóa từng bộ môn như thế, công trình này đánh dấu một bước phát triển cao của thành tựu khoa học Việt Nam nói chung và của ngành Thư viện Việt Nam nói riêng vào đầu thế kỷ XIX.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
''Văn tịch chí'' trong ''Lịch triều hiến chương loại chí'' đã thu thập được 214 tên sách từ thế kỷ XI đến thế kỷ XIX, là một trong những tác phẩm thư mục đầu tiên của Việt Nam (sau Văn nghệ chí của Lê Quý Đôn), có những đóng góp cả về số lượng tài liệu, cũng như về phương pháp biên soạn. Các yếu tố thư mục trong Văn tịch chí đã được phát triển thêm một bước so với Nghệ văn chí của Lê Quý Đôn (xt.: Lê Quý Đôn).&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
''Về cách sắp xếp, phân loại tài liệu'', ''Văn tịch chí'' sắp xếp các loại sách xã hội tương đối khoa học, rõ ràng theo bốn môn loại chính (loại hiến chương, loại kinh sử, loại thi văn, loại truyện ký) và một môn loại gọi là phụ loại (chép thêm các sách về phương kỹ gồm 10 tài liệu về các môn loại khoa học khác nhau; Toán, Dược, Đạo Phật, Địa lý,…). Cách sắp xếp trong từng môn loại được bố cục theo thứ tự tác phẩm của nhà nước lên trên hết, rồi đến các bộ sử, các sách nghiên cứu dịch, các sách kinh,… &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
''Về phương pháp thư mục'', ''Văn tịch chí'' có những yếu tố thư mục quan trọng như: tên sách, phụ đề (số quyển), tên tác giả, thời gian tác phẩm ra đời, tình trạng tác phẩm còn hay mất, hình thức chép tay hay khắc ván in, tóm tắt nội dung tác phẩm, kèm trích dẫn, hoặc nhận xét, đánh giá.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
''Văn tịch chí'' của PHC cùng với Nghệ văn chí của Lê Quý Đôn là hai bản thư mục quốc gia, thư mục dân tộc đầu tiên của nước ta, là công cụ duy nhất cho tìm kiếm, khai thác tài liệu, nghiên cứu và phản ánh phần nào sự phát triển văn hóa, khoa học, nghệ thuật Việt Nam thời bấy giờ; đặt ra những cơ sở lý luận và thực tiễn cho công tác thư mục ở nước ta. Với những đóng góp to lớn đó cho ngành Thư viện Việt Nam, PHC được ghi danh như một nhà thư mục học nổi tiếng trong lịch sử Thư viện Việt Nam.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
=='''Tài liệu tham khảo'''==&lt;br /&gt;
# Dương Bích Hồng, Sơ thảo lịch sử sự nghiệp thư viện Việt Nam thời phong kiến, Trường Cao đẳng Nghiệp vụ Văn hóa, Hà Nội, 1981.&lt;br /&gt;
# Phan Huy Chú, Lịch triều hiến chương loại chí (Bản dịch), Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, 1992.&lt;br /&gt;
# Trần Nghĩa-François Gros, Di sản Hán Nôm Việt Nam: Thư mục đề yếu, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, 1993.&lt;br /&gt;
# Trịnh Kim Chi, Đi tìm các bậc tiền bối ngành thư viện Việt Nam, tạp chí Thư viện Việt Nam, 2010, số 5 (25), tr.9-15.&lt;/div&gt;</summary>
		<author><name>Deepmind2</name></author>
	</entry>
	<entry>
		<id>https://bktt.vn/index.php?title=N%C3%B4ng_nghi%E1%BB%87p_v%C3%A0_ph%C3%A1t_tri%E1%BB%83n_n%C3%B4ng_th%C3%B4n&amp;diff=22412</id>
		<title>Nông nghiệp và phát triển nông thôn</title>
		<link rel="alternate" type="text/html" href="https://bktt.vn/index.php?title=N%C3%B4ng_nghi%E1%BB%87p_v%C3%A0_ph%C3%A1t_tri%E1%BB%83n_n%C3%B4ng_th%C3%B4n&amp;diff=22412"/>
		<updated>2023-01-11T03:13:49Z</updated>

		<summary type="html">&lt;p&gt;Deepmind2: Tạo trang mới với nội dung “&amp;lt;indicator name=&amp;quot;mới&amp;quot;&amp;gt;File:UnderCon icon.svg|40px|link={{TALKPAGENAME}}#Bình duyệt|alt=Mục từ này cần được bình duyệt|Mục từ này…”&lt;/p&gt;
&lt;hr /&gt;
&lt;div&gt;&amp;lt;indicator name=&amp;quot;mới&amp;quot;&amp;gt;[[File:UnderCon icon.svg|40px|link={{TALKPAGENAME}}#Bình duyệt|alt=Mục từ này cần được bình duyệt|Mục từ này cần được bình duyệt]]&amp;lt;/indicator&amp;gt;&lt;br /&gt;
'''Nông nghiệp và phát triển nông thôn''' tạp chí, cơ quan lý luận và nghiệp vụ, đơn vị sự nghiệp của Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, thành lập tháng 7 năm 1998 trên cơ sở hợp nhất các tạp chí: ''Nông nghiệp'' và ''Công nghiệp thực phẩm'' thuộc ''Báo Nông nghiệp Việt Nam''; ''Kinh tế nông nghiệp'' thuộc Viện kinh tế nông nghiệp, ''Thuỷ lợi'' thuộc Viện Khoa học thuỷ lợi và ''Lâm nghiệp'' thuộc Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Tạp chí ''Nông nghiệp'' và ''Phát triển nông thôn (NN&amp;amp;PTNN)'' có chức năng thông tin, tuyên truyền các chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước về lĩnh vực nông nghiệp và phát triển nông thôn theo quy định của Luật Báo chí và quy định pháp luật; là diễn đàn khoa học và công nghệ, trao đổi kinh nghiệm thực tiễn, lý luận, nghiệp vụ về nông nghiệp và phát triển nông thôn phục vụ chức năng quản lý nhà nước của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Hiện tại tạp chí NN&amp;amp;PTNN có các ấn phẩm: Tạp chí NN&amp;amp;PTNN in, phát hành cả nước mỗi tháng 1 kỳ, dày khoảng 155-165 trang. Ngoài ra, để đảm bảo theo kịp với xu hướng báo chí hiện nay cũng như tiếp cận gần hơn với các đối tượng độc giả, ngày 21 tháng 4 năm 2015, tạp chí NN&amp;amp;PTNN được bộ Thông tin và Truyền thông cấp giấy phép hoạt động tạp chíđiện tử với tên www.tapchikhoahocnongnghiep.vn. Tạp chí NN&amp;amp;PTNN điện tử được xuất bản bằng tiếng Việt và tiếng Anh.   &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Toà soạn tạp chí NN&amp;amp;PTNT tại số 10, Nguyễn Công Hoan, quận Ba Đình, Hà Nôi. Văn phòng đại diện tạp chí tại phía Nam, đặt tại số 135, Pasteur, quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
=='''Tài liệu tham khảo'''==&lt;br /&gt;
# Tạp chí Nông nghiệp và Phát triển nông thôn bản điện tử: https://bom.to/1shh4v6&lt;br /&gt;
# “Báo hóa” tạp chí điện tử - Hiện tượng cần chấn chỉnh: 24.3.2019 5:34 -  Song Minh (Bài đăng Tạp chí Tuyên giáo số 3.2019) https://bom.to/K4R1q92&lt;br /&gt;
# Làm gì để phát triển tạp chí KHXH&amp;amp;NV theo chuẩn mực quốc tế? 04.01.2019 16:57 - Phạm Quang Minh, Nguyễn Văn Chínhhttps://bom.to/IDew1RV&lt;/div&gt;</summary>
		<author><name>Deepmind2</name></author>
	</entry>
	<entry>
		<id>https://bktt.vn/index.php?title=Nh%C3%A0_xu%E1%BA%A5t_b%E1%BA%A3n_th%C3%B4ng_tin_v%C3%A0_truy%E1%BB%81n_th%C3%B4ng&amp;diff=22411</id>
		<title>Nhà xuất bản thông tin và truyền thông</title>
		<link rel="alternate" type="text/html" href="https://bktt.vn/index.php?title=Nh%C3%A0_xu%E1%BA%A5t_b%E1%BA%A3n_th%C3%B4ng_tin_v%C3%A0_truy%E1%BB%81n_th%C3%B4ng&amp;diff=22411"/>
		<updated>2023-01-11T03:08:44Z</updated>

		<summary type="html">&lt;p&gt;Deepmind2: Tạo trang mới với nội dung “&amp;lt;indicator name=&amp;quot;mới&amp;quot;&amp;gt;File:UnderCon icon.svg|40px|link={{TALKPAGENAME}}#Bình duyệt|alt=Mục từ này cần được bình duyệt|Mục từ này…”&lt;/p&gt;
&lt;hr /&gt;
&lt;div&gt;&amp;lt;indicator name=&amp;quot;mới&amp;quot;&amp;gt;[[File:UnderCon icon.svg|40px|link={{TALKPAGENAME}}#Bình duyệt|alt=Mục từ này cần được bình duyệt|Mục từ này cần được bình duyệt]]&amp;lt;/indicator&amp;gt;&lt;br /&gt;
'''Nhà xuất bản thông tin và truyền thông''' thành lập ngày 12 tháng 8 năm 1997 theo Quyết định số 562/TTg ngày 23 tháng 7 năm 1997 của Thủ tướng Chính phủ và Quyết định số 463/QĐ-TCCB ngày 12 tháng 8 năm 1997 của Tổng cục trưởng Tổng cục Bưu điện với tên là Nhà xuất bản Bưu điện (NXBBĐ).&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
NXBBĐ có chức năng, nhiệm vụ xuất bản sách, tài liệu phục vụ công tác tuyên truyền, giáo dục, hướng dẫn cán bộ nhân viên trong ngành Bưu điện thực hiện tốt các thể lệ, thủ tục khai thác dịch vụ, giới thiệu hướng dẫn nhân dân sử dụng các dịch vụ bưu chính - viễn thông, công nghệ thông tin; phục vụ các đối tượng trong và ngoài ngành sử dụng tri thức khoa học, kỹ thuật nghiệp vụ, quản trị kinh doanh và pháp luật về Bưu điện.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Giai đoạn từ năm 1997-2002,hoạt động của NXBBĐ gắn liền với sự phát triển của Tổng cục Bưu điện, Tổng công ty Bưu chính Viễn thông Việt Nam. Trong giai đoạn này, khởi đầu cơ cấu tổ chức của Nhà xuất bản chỉ có 02 phòng với 08 cán bộ viên chức và Chi nhánh Nhà xuất bản tại Thành phố Hồ Chí Minh. Những cuốn sách đầu tiên xuất bản tại Nhà xuất bản là: &amp;quot;Hệ thống các văn bản liên quan đến tổ chức và hoạt động của Tổng công ty Bưu chính Viễn thông Việt Nam&amp;quot; (Tập 1), Mạng truyền thông đa phương tiện, Nguyên lý sửa chữa thiết bị vi ba số băng hẹp… đã phục vụ sát và kịp thời cho ngành Bưu điện.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Trong bối cảnh khó khăn chung cho các nhà xuất bản cả nước,NXBBĐđã sớm khẳng định được vị trí của mình bằng những hoạt động có hiệu quả: số lượt xuất bản phẩm chuyên ngành Bưu điện được xuất bản tăng lên nhanh chóng qua các năm: Năm 1998 xuất bản 53 đầu sách; năm 1999: 72 đầu sách;năm 2000: 112 đầu sách; năm 2001: 121 đầu sách và năm 2002: 141 đầu sách.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Giai đoạn từ năm 2002 - 2007 đánh dấu bước phát triển mới của NXBBĐ. Về cơ cấu tổ chức, Nhà xuất bản đã nâng lên 03 phòng (có 02 ban biên tập, 02 chi nhánh (thêm chi nhánh Đà Nẵng), tổng số cán bộ viên chức, lao động lên đến 31 người. Tính đến năm 2007, NXBBĐ đã có trên một ngàn đầu sách và hàng triệu bản in có mặt khắp nơi, các trường đại học, các đơn vị, cơ sở đào tạo nghiên cứu chuyên ngành Bưu điện, các doanh nghiệp Bưu chính Viễn thông.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Giai đoạn từ tháng 8.2007 đến năm 2012, NXBBĐđược đổi tên thành Nhà xuất bản Thông tin và Truyền thông(NXBTT&amp;amp;TT) cùng với việc thành lập Bộ Thông tin và Truyền thông, ngày 17.12.2008. Về cơ cấu tổ chức, NXBTT&amp;amp;TTcó Giám đốc - Tổng biên tập, 02 Phó Giám đốc, 09 phòng, ban, chi nhánh, Trung tâm. Tổng số cán bộ viên chức là 49 người, trong đó 95% cán bộ, viên chức có trình độ đại học trở lên (01 tiến sĩ, 07 thạc sĩ, một số cán bộ có 2-3 bằng đại học).&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
NXBTT&amp;amp;TTcó tôn chỉ mục đích là phục vụ các đối tượng bạn đọc sử dụng các tri thức khoa học, công nghệ, kỹ thuật, nghiệp vụ, kinh tế và pháp luật về báo chí, xuất bản, bưu chính và chuyển phát, viễn thông và internet, truyền dẫn phát sóng, tần số vô tuyến điện, công nghệ thông tin, điện tử, phát thanh truyền hình và cơ sở hạ tầng thông tin truyền thông quốc gia; thực hiện chức năng xuất bản các xuất bản phẩm về thông tin và truyền thông và các xuất bản phẩm phục vụ nhiệm vụ thông tin tuyên truyền đối ngoại của Đảng và Nhà nước.&lt;br /&gt;
So với giai đoạn trước, NXBTT&amp;amp;TTphải đảm nhiệm thêm mảng sáchbáo chí, xuất bản và đặc biệt là các xuất bản phẩm phục vụ nhiệm vụ thông tin tuyên truyền đối ngoại của Đảng và Nhà nước.Nhà xuất bản đã kiên trì xây dựng một hệ thống sách khoa học kỹ thuật đạt chất lượng, đặc biệt sách chuyên ngành về Bưu chính, viễn thông và công nghệ thông tin xuất bản với số lượng ngày một tăng.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Giai đoạn từ năm 2012 đến nay,NXBTT&amp;amp;TTphát triển ổn định và chú trọng xây dựng thương hiệu.Các xuất bản phẩm của giai đoạn này không ngừng được nâng cao về số lượng và chất lượng. NXBTT&amp;amp;TTcó các ấn phẩm tiêu biểu đặc trưng cho thương hiệu Nhà xuất bản như: Bộ sách chuyển đổi số (gồm hơn 10 cuốn) phục vụ Chương trình Chuyển đổi số quốc gia đến năm 2025, định hướng đến năm 2030;sách về viễn thông, công nghệ thông tin gồm hơn chục đầu sách cập nhật các kiến thức mới, cơ bản phục vụ phát triển mạng lưới như: An ninh trong các hệ thống thông tin di động; Mạng cảm biến;Thông tin di động 4G LTE và 5G; Giảm nhiễu trong thông tin băng rộng thế hệ sau; Tiết kiệm năng lượng trong mạng cảm biến không dây; Cảm biến áp lực, thiết bị IoT không dây và thử nghiệm ứng dụng trong giao thông thông minh; Lý thuyết và ứng dụng trong truyền thông số... &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Trong giai đoạn này,NXBTT&amp;amp;TTtập trung xuất bản sách, ấn phẩm phục vụ thông tin đối ngoại với hàng loạt sách tuyên truyền về chủ quyền biên giới, biển, đảo Việt Nam như Dấu ấn Việt Nam trên Biển Đông, 100 câu hỏi đáp về biển, đảo…Nhà xuất bản cũng đã xây dựng được &amp;quot;Hệ thống xuất bản trực tuyến&amp;quot; với nhiều lợi thế so với xuất bản truyền thống.Trong các năm 2015 đến 2019, NXBTT&amp;amp;TT đã hoàn thành 4 đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ về xuất bản.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Trong quá trình hoạt động, NXBTT&amp;amp;TTđã được Nhà nước tặng Huân chương Lao động Hạng Ba năm 2002, Huân chương Lao động Hạng Nhì năm 2007, Huân chương Lao động Hạng Nhất năm 2012; được tặng thưởng nhiều giải thưởng trong các cuộc thi sách Hay, sách Đẹp hàng năm của Hội xuất bản Việt Nam.		&lt;br /&gt;
							&lt;br /&gt;
=='''Tài liệu tham khảo'''==&lt;br /&gt;
# Nhà xuất bản Thông tin và Truyền thông 15 năm (1997-2012) xây dựng và phát triển. Nxb.Thông tin và Truyền thông (2012).&lt;br /&gt;
# Nhà xuất bản Thông tin và Truyền thông 20 năm xây dựng và phát triển (1997-2017). Bài báo của Trần Chí Đạt.&lt;br /&gt;
# Các nhà xuất bản Việt Nam thế kỷ XX. Nxb.Giáo dục (2006)&lt;br /&gt;
# Một số ấn phẩm tiêu biểu của NXB Thông tin và Truyền Thông giai đoạn 2016-2020.Lê Đắc Quang (Nxb.Thông tin và Truyền Thông.&lt;/div&gt;</summary>
		<author><name>Deepmind2</name></author>
	</entry>
	<entry>
		<id>https://bktt.vn/index.php?title=Nh%C3%A0_xu%E1%BA%A5t_b%E1%BA%A3n_T%C3%A2n_D%C3%A2n&amp;diff=22410</id>
		<title>Nhà xuất bản Tân Dân</title>
		<link rel="alternate" type="text/html" href="https://bktt.vn/index.php?title=Nh%C3%A0_xu%E1%BA%A5t_b%E1%BA%A3n_T%C3%A2n_D%C3%A2n&amp;diff=22410"/>
		<updated>2023-01-11T03:06:21Z</updated>

		<summary type="html">&lt;p&gt;Deepmind2: Tạo trang mới với nội dung “&amp;lt;indicator name=&amp;quot;mới&amp;quot;&amp;gt;File:UnderCon icon.svg|40px|link={{TALKPAGENAME}}#Bình duyệt|alt=Mục từ này cần được bình duyệt|Mục từ này…”&lt;/p&gt;
&lt;hr /&gt;
&lt;div&gt;&amp;lt;indicator name=&amp;quot;mới&amp;quot;&amp;gt;[[File:UnderCon icon.svg|40px|link={{TALKPAGENAME}}#Bình duyệt|alt=Mục từ này cần được bình duyệt|Mục từ này cần được bình duyệt]]&amp;lt;/indicator&amp;gt;&lt;br /&gt;
'''Nhà xuất bản Tân Dân''' là nhà xuất bản tư nhân của ông Vũ Đình Long (VĐL), thành lập năm 1925, tại 93 phố Hàng Bông, Hà Nội. Nhà xuất bản Tân Dân cùng Nhà in Tân Dân ra đời trên cơ sở Tân Dân thư quán, hiệu sách mang tên mẹ của ông VĐL, theo quy định của thực dân Pháp, lúc bấy giờ công chức nhà nước không được mở cửa hiệu bán sách mang tên mình. Hiệu sách Tân Dân, từ công việc đơn thuần bán những sách do người khác ở nơi khác in, đã đi đến việc thành lập nhà xuất bản, tự mình đứng ra in sách. Căn cứ vào sách lưu chiểu hiện còn lưu tại Thư viện Quốc gia ở Hà Nội, có thể thấy tư liệu hiện còn để khẳng định Nhà xuất bản Tân Dân (NXBTD) có sách in ít nhất từ năm 1925; cuốn sách cuối cùng vào năm 1954. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Từ năm 1925-1936, VĐL vừa làm việc tại Sở Học chính, vừa tổ chức hoạt động kinh doanh của NXBTD. Đến năm 1936, VĐL thôi làm việc ở Sở Học chính để dốc sức vào việc xuất bản. Năm 1937, ông phá nhà in cũ, xây nhà in mới lớn hơn, máy in, chữ in đặt mua tại Pháp, loại hiện đại hơn. Ở Hà Nội khi ấy, có một số nhà in lớn ra sức cạnh tranh nhau như: nhà in T.B, CAY của Hoa Kiều ở phố Sinh Từ, nhà in Minh Sang ở Bờ Hồ, nhà in Ngô Tử Hạ, phố Nhà thờ, nhà in Lê Văn Tân, phố Hàng Bông, nhà in (cũng là nhà xuất bản) Văn Hồng Thịnh, 112 phố Hàng Bông và hàng chục nhà in nhỏ khác. Nhưng nhà in hiện đại nhất khi ấy, được coi là địch thủ của các nhà in người Việt khi ấy là xí nghiệp in của người Pháp I.D.E.O (Imprimerie d’Extrême Orient: Nhà in Viễn Đông). &lt;br /&gt;
  &lt;br /&gt;
Hai tác phẩm của NXB Tân Dân (Ảnh NVB)&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Ông VĐL có đầu óc tổ chức, đầu tư vốn lớn, máy móc ấn loát tối tân, nhà xuất bản được sắp xếp, tổ chức một cách có khoa học. Xu hướng của ông là cố gắng noi theo tổ chức văn học của Editions Flammarion và Librairie, là hai nhà xuất bản lớn nổi tiếng của Pháp. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Các cộng tác viên là các nhà văn được ông chủ NXBTD luôn tỏ ra trang trọng, chân thành. Vì thế mà đội ngũ các nhà văn của Nhà xuất bản suốt ba miền Nam, Trung, Bắc tập hợp cung cấp cho ông VĐL những tác phẩm để xuất bản đều đặn. Ngoài ra, họ còn dịch các tác phẩm Phương Tây từ cổ đại, trung đại đến hiện đại. Đội ngũ ấy được chia thành hai mảng là bút lông và bút sắt. Bút lông là: Mại Đăng Đệ, Phan Kế Bính, Doãn Kế Thiện, Nhượng Tống, Nguyễn Can Mộng, Phan Khôi, Tản Đà, Trúc Khê Ngô Văn Triện, Nguyễn Đỗ Mục. Một số nhà văn đỗ đạt, khoa bảng như Phan Trần Chúc, Nguyễn Triệu Luật, thi sĩ Lê Bái (Bút danh J.Leiba, Thanh Tùng Tử - Hán học và tiếng Pháp đều uyên thâm)… Bút sắt là: Nguyễn Văn Chất (viết báo Pháp nhiều hơn báo Việt), Lan Khai, Vũ Trọng Phụng, Nguyễn Công Hoan, Nguyên Hồng, Như Phong, TchyA, Phùng Tất Đắc, Lê Văn Trương, Lưu Trọng Lư, Thâm Tâm, Trần Huyền Trân, Vũ Bằng, Ngọc Giao… NXBTD có quy mô in lớn, đều đặn với hơn 500 công nhân và lao động.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Trong suốt thời gian tồn tại Tân dân đã xuất bản một lượng các ấn phẩm rất lớn. Chỉ riêng về sách có thể tra cứu tại Thư viện quốc gia về sách của NXBTD lưu chiểu tại đây đã lên đến hơn 400 cuốn. 4 loại sách dưới dạng báo là “Phổ thông bán nguyệt san”, “Phổ thông chuyên san”, “Truyền bá”, “Phổ thông tuổi trẻ”; 2 loại “Tủ sách Tao đàn” và “Những tác phẩm hay” là sách thông thường.&lt;br /&gt;
Loại sách “Những tác phẩm hay” (từ năm 1938), mở đầu là “Lầm than”, tiểu thuyết Lan Khai; có những cuốn sẽ được thừa nhận thực sự là tác phẩm hay như “Trước đèn”, phiếm luận của Phùng Tất Đắc, “Vang bóng một thời”, tập truyện ngắn Nguyễn Tuân, “Chiếc cáng xanh”, tập truyện Lưu Trọng Lư, “O chuột”, tập truyện ngắn Tô Hoài,…&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Trong số những sách mà NXBTD đã xuất, hiếm có sách chính trị, như: “Pháp Việt đề huề chính kiến thư” (Tân dân thư quán, 1925) của Phan Bội Châu, mà Tân Dân còn tái bản vài lần, Tân Dân đã in tiếp những cuốn có nội dung chính trị như “Tuyên cáo quốc dân” (Tân dân thư quán, 1926) cũng của Phan Bội Châu, hoặc “Tập diễn thuyết của ông Phan Chu Trinh… hôm 19 tháng 11 năm 1925” (Tân Dân thư quán, 1926). Hai cuốn “Pháp Việt đề huề” và “Tuyên cáo quốc dân” sau đó đã bị cấm, theo Nghị định ngày 25.8.1928 của Toàn quyền Đông Dương. Thời gian dài sau đó hầu như NXBTD lánh xa loại sách dễ bị cấm đoán, kiểm duyệt này. Năm 1946, NXBTD mới trở lại loại sách này với cuốn “Vấn đề chính đảng” (Tủ sách Tân Dân) của Trần Văn Tân, và nhân đây nhà xuất bản Tân Dân mở ra “Tủ sách tân dân chủ”, coi cuốn này là cuốn thứ nhất, giới thiệu hệ thống các Đảng Cộng sản Liên Xô, Trung Quốc, Đảng Cộng sản Đông Dương. Nhưng cuộc kháng chiến chống Pháp bùng nổ, đã làm ngừng lại hầu như toàn bộ công việc của NXBTD.&lt;br /&gt;
Một số ấn phẩm của NXBTD, gồm có: Tiểu thuyết thứ Bảy, gồm 4-5 truyện ngắn, thơ, truyện dài xã hội, tiểu thuyết dịch của Trung Quốc (nội dung về truyện kiếm hiệp để câu độc giả dài kỳ) do Nguyễn Đỗ Mục chuyên dịch thuật, được độc giả rất ưa thích.“Tiểu thuyết thứ bảy” là tuần báo ra ngày thứ bảy hàng tuần, số 1 ra ngày 02.6.1934, mỗi số khoảng 36-40 trang 16x25 cm, giá báo 5 xu.&lt;br /&gt;
NXBTD còn có ấn phẩm Truyền bá truyện dành cho nhi đồng mà khi ấy ít được quan tâm, nội dung chọn lọc, lành mạnh, hợp với trẻ em, không truyện nào đi chệch hướng, giá bán 3 xu, 30 trang.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Ích hữu (110 số, từ 25 tháng 2 năm 1936 đến 30 tháng 3 năm 1938): Tuần báo ra ngày thứ ba hằng tuần, mỗi số khoảng 26 trang 18x26cm, là loại báo phục vụ nhu cầu giải trí của cư dân đô thị vốn khá đa dạng về nhu cầu đọc và hiểu biết, do sự đa dạng về thành phần và lứa tuổi. Nội dung về mảng văn nghệ, về tình yêu hấp dẫn như Hồng Lâu Mộng, Tây Sương Ký. Ích hữu có nhiều độc giả nhờ truyện dài lịch sử Phấn Son Phi Yến của Thanh Tùng Tử. Báo in khổ rộng, chữ đẹp, minh họa đẹp. Sau truyện Phấn Son Phi Yến đến truyện dài Vết xe Phu Tử của Vũ Lang. Truyện đang viết dở thì Vũ Lang chết vì bệnh lao. Ích Hữu được người đọc hoan nghênh, nhờ nội dung đáp ứng thị hiểu xã hội qua những tên tuổi tác giả như Trúc Khê, Nguyễn Đỗ Mục, Vũ Long, Lê Bái,… &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Tao Đàn (16 số, từ tháng 3 năm 1939 đến tháng 02 năm 1940) định kỳ nửa tháng, giá bán 0,25đ, được đánh giá là tạp chí hay nhất trong số các tạp chí văn học trước 1945. Tạp chí Tao Đàn, giấy in đẹp, do nhà văn Lan Khai phụ trách. Lý luận, phê bình văn học, đề cập những đề tài lớn của văn học nghệ thuật cận đại, hiện đại Âu Á, truyện ngắn, truyện dài chọn lọc. Nội dung bắt chước như Tạp chí văn học nổi tiếng của Pháp “Nouvelle Revus Francatse (viết tắt NRE) do nhiều cây bút hàn lâm viết. Tao Đàn ngừng xuất bản từ sau số 3 loại mới (tháng 02.1940). Do độc giả yêu thích mua đọc tạp chí này lại hơi ít, tiền thu được từ bán báo không đủ để duy trì hoạt động nên Tao đàn đóng cửa. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
NXBTD còn in Những tác phẩm hay loại 3 tháng ra 1 cuốn. Ấn phẩm đặc biệt. Truyện chọn in được chọn lọc kỹ. Nhà xuất bản có dụng ý giới thiệu sách in với kỹ thuật cao. Điểm mạnh của NXBTD khi ấy so với các nhà in nhà xuất bản đương thời là kỹ thuật ấn loát hiện đại và tân tiến hơn. Ông chủ nhà xuất bản VĐL rất coi trọng việc sửa chữa in thử. Nếu mỗi trang sách, hay mỗi cột báo mắc hai lỗi trở lên, thì người phụ trách sửa mo-rát lập tức bị cắt giảm tiền lương, cũng có thể bị sa thải. Nhờ vậy, các tác giả của Tân Dân ít phải phàn nàn về lỗi nhà in mà người viết sợ hơn là sét đánh.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
NXBTD còn xuất bản thêm Phổ thông nguyệt san, định kỳ nửa tháng, không quá 200 trang, giá không quá 0,25đ. Phổ thông nguyệt san bán chạy nhất nhờ những tên sách lịch sử, diễm tình, phần lớn li kỳ, rùng rợn, độc giả trẻ đều rất ưa thích.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Về số lượng xuất bản, tất cả các ấn phẩm kể trên in không quá con số 2.000 bản. Riêng tiểu thuyết Lê Văn Trương in 3.000 cuốn. Với số lượng xuất bản như vậy, NXBTD là một đối thủ không thể cạnh tranh của các nhà xuất bản của người Việt và Hoa kiều đương thời. Nguồn thu từ xuất bản, in ấn, bán sách khiến ông chủ Nhà xuất bản Tân Dân trở thành nhà tư sản giàu có nổi tiếng. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Để cạnh tranh với NXBTD, nhóm Tự lực văn đoàn đã nghĩ cách hạ bệ ông chủ Nhà xuất bản trên báo của họ. Hàng tuần tờ Phong hóa rồi tiếp đến Ngày nay, cơ quan ngôn luận của nhóm Nhất Linh, thẳng tay lôi VĐL lên mặt báo, sử dụng tranh trào phúng, thơ văn hài hước, gọi Nhà xuất bản Tân Dân 93 Hàng Bông là động Tân Dân, Vũ Đình Long là Tiên ông phun kiếm ra tiền (tranh bìa, tranh ruột báo hàng tuần, họa sĩ Tô Tử vẽ Vũ Tiên ông hếch mũi lên trời, kiếm ở hai lỗ mũi phun ra tơi tới, tiền theo kiếm ào ào chảy vào tay áo thụng của Vũ Tiên ông. Ngoài cửa Nhà xuất bản, tức là ngoài cửa động Tân Dân, cả gia đình họ Vũ, từ Tiên mẫu, Tiên bà, Tiên cô... đến các Tiểu Tiên đồng, giúp Tiên ông, đem rổ rá ra hứng tiền độc giả mê say sách thần tiên kiếm hiệp).&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Mỗi thứ Bảy, báo Phong hóa, Ngày nay của nhóm Nhất Linh rao ầm ĩ ngoài đường phố, chạy vào mọi gia đình thị dân Hà Nội, vì vậy mà “Tiểu thuyết thứ Bảy  chạy” có phần bán tốt hơn Phong hóa, Ngày nay. Cách làm này của nhóm Nhất Linh làm cho NXBTD lại được lợi, khác nào địch thủ Tự lực văn đoàn đang làm quảng cáo không công cho ông chủ nhà xuất bản VĐL. Dù biết vậy nhóm Nhất Linh vẫn phải lấy việc Tiên ông phun kiếm ra tiền làm đề tài mua vui cho độc giả, vì cười đùa mãi với Xã Xệ, Lý Toét, cũng làm người đọc nhah chán.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Hệ thống tổ chức phát hành của NXBTD rất rộng. Đại lí cho sách báo Tân Dân đặt khắp Đông Dương, Hoa hồng cao từ 8 đến 10%. Suốt từ Lạng Sơn đến Cà Mau, Nam Vang, Vientiane (Lào)... đại lí phần nhiều sòng phẳng, vì hoa hồng cao hơn hết.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
NXBTD đã thành công khi xuất bản một số lượng khổng lồ tác phẩm văn học, tiểu thuyết lịch sử từ 1930 đến 1945; sau năm 1945, có hoạt động, nhưng không đáng kể. NXBTD đã thành công khi suốt quá trình hình thành và phát triển của nó như một doanh nghiệp văn hóa mà tại đó, hàng loạt nhà văn, nhà biên khảo, dịch thuật có thể công bố được những tác phẩm của mình; trong số những tác giả xuất hiện và được công chúng biết đến nhờ hệ thống ấn phẩm của Tân Dân Thư Quán đã có hàng loạt những những tên tuổi lớn đã đi vào Lịch sử văn học Việt Nam như : Nguyễn Công Hoan, Nguyễn Tuân, Vũ Trọng Phụng, Lưu Trọng Lư, Huy Thông, Vũ Bằng, Nam Cao, Tô Hoài…Người sáng lập ra NXBTD – VĐL đã thành công trong lĩnh vực báo chí, xuất bản, khi đã dựng nên Tân Dân Thư Quán ở 93 Hàng Bông, Hà Nội, trong những năm 1924-1954, từ một hiệu sách đã phát triển thành một cơ sở in ấn, một tòa soạn báo và trụ sở nhà xuất bản tư nhân khá lớn, góp một phần đáng kể tạo nên một đời sống văn nghệ náo nhiệt ở Hà Nội, ở miền Bắc, và có tiếng vang rộng khắp cả nước, trong những năm 1930-1945. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
=='''Tài liệu tham khảo'''==&lt;br /&gt;
# Trung tâm Khoa học xã hội và nhân văn quốc gia, Tổng tập Văn học Việt Nam, tập 24, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 2000. &lt;br /&gt;
# Tạp chí Văn học, số 01.1991.&lt;br /&gt;
# Vũ Trọng Phụng, Hai nhà xuất bản Tân Dân và Đời Nay đương vạch cho ta những cái hay hay của làng văn làng báo,Đông Dương tạp chí, số 33 (25.12.1937), Hà Nội.  &lt;br /&gt;
# Nguyễn Thành, Từ điển thư tịch báo chí Việt Nam, Nxb Văn hóa thông tin, 2002.&lt;br /&gt;
# Vũ Đình Long,Tuyển tập kịchVũ Đình Long, Nxb Hội Nhà văn, 2009.&lt;br /&gt;
# Từ điển Văn học (Bộ mới), Nxb Thế giới, 2004.&lt;br /&gt;
# Lại Nguyên Ân, Vũ Đình Long, ông chủ “Tân Dân thư quán”, một doanh gia thành đạt trên thị trường sách báo văn nghệ 1925-1945, tham luận tại hội thảo “Kỷ niệm 115 năm sinh và 50 năm mất kịch tác gia - doanh gia Vũ Đình Long (1896-1960), do Hội Nhà văn Hà Nội và UBND huyện Thanh Oai tổ chức, ngày 21.8.2011.&lt;/div&gt;</summary>
		<author><name>Deepmind2</name></author>
	</entry>
	<entry>
		<id>https://bktt.vn/index.php?title=Nh%C3%A0_xu%E1%BA%A5t_b%E1%BA%A3n_m%E1%BB%B9_thu%E1%BA%ADt&amp;diff=22409</id>
		<title>Nhà xuất bản mỹ thuật</title>
		<link rel="alternate" type="text/html" href="https://bktt.vn/index.php?title=Nh%C3%A0_xu%E1%BA%A5t_b%E1%BA%A3n_m%E1%BB%B9_thu%E1%BA%ADt&amp;diff=22409"/>
		<updated>2023-01-11T03:02:57Z</updated>

		<summary type="html">&lt;p&gt;Deepmind2: Tạo trang mới với nội dung “&amp;lt;indicator name=&amp;quot;mới&amp;quot;&amp;gt;File:UnderCon icon.svg|40px|link={{TALKPAGENAME}}#Bình duyệt|alt=Mục từ này cần được bình duyệt|Mục từ này…”&lt;/p&gt;
&lt;hr /&gt;
&lt;div&gt;&amp;lt;indicator name=&amp;quot;mới&amp;quot;&amp;gt;[[File:UnderCon icon.svg|40px|link={{TALKPAGENAME}}#Bình duyệt|alt=Mục từ này cần được bình duyệt|Mục từ này cần được bình duyệt]]&amp;lt;/indicator&amp;gt;&lt;br /&gt;
'''Nhà xuất bản mỹ thuật''' là doanh nghiệp có điều kiện, do Nhà nước làm chủ sở hữu, trực thuộc Hội Mỹ thuật Việt Nam (MTVN); thành viên của Hội MTVN và Hội Xuất bản Việt Nam, chịu sự quản lý về xuất bản của Cục Xuất bản, nay là Cục Xuất bản, In và Phát hành theo quy định của Luật Xuất bản, có tư cách pháp nhân, có con dấu riêng và tài khoản tại ngân hàng; trụ sở: 44B phố Hàm Long, quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Nhà xuất bản Mỹ thuật (NXBMT) có chức năng biên tập và xuất bản các sách lý luận, nghiên cứu, phê bình mỹ thuật, sách các chuyên ngành của nghệ thuật tạo hình Việt Nam và thế giới; sách tranh, tranh đơn, tranh tập và các ấn phẩm mỹ thuật phục vụ ngành mỹ thuật và công chúng.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Ngày 24 tháng 7 năm 1957, theo Nghị định số 47/VH-QĐ do Bộ trưởng Bộ Văn hóa (BVH) Hoàng Minh Giám ký, NXB Mỹ thuật và Âm nhạc (NXBMT&amp;amp;AN) được thành lập, thuộc Cục Xuất bản.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Năm 1959, theo quyết định của Bộ Văn hóa, NXBMT&amp;amp;AN tách ra thành NXBMT và NXB Âm nhạc.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Ngày 15 tháng 02 năm 1962, NXBMT và NXB âm nhạc hợp nhất thành NXB Văn hóa - Nghệ thuật (NXBVH-NT), theo đó, NXBMT là Phòng Biên tập Mỹ thuật của NXB VH-NT.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Ngày 03 tháng 02 năm 1966, theo Quyết định số 09/VH-QĐ, NXBVH-NT đổi tên thành NXB Mỹ thuật - Âm nhạc (NXBMT-AN), theo đó Phòng Biên tập Mỹ thuật của NXB VH-NT là Phòng Biên tập Mỹ thuậtcủa NXB MT-AN.&lt;br /&gt;
Ngày 28 tháng 9 năm 1970, theo Quyết định số 76/VH-QĐ, NXBMT-AN đổi tên lại là NXBVH-NT.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Ngày 15 tháng 6 năm 1971, theo Quyết định số 83/VH-QĐ, NXBVH-NT đổi tên thành NXBVH, theo đó Phòng Biên tập Mỹ thuậtcủa NXBVH-NT là Phòng Biên tập Mỹ thuậtcủa NXBVH.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Căn cứ Công văn số 346/TH-QĐ ngày 25 tháng 6 năm 1987 của Ban Tuyên huấn Trung ương đồng ý thành lập NXBMT trực thuộc Hội Nghệ sỹ tạo hình Việt Nam (HNSTHVN), đồng thời căn cứ Quyết định số 216/TT-QĐ ngày 01 tháng 7 năm 1987 của Bộ Thông tin cho phép thành lập NXBMT trực thuộc HNSTHVN, ngày 15 tháng 7 năm 1987, NXBMT được thành lập theo Quyết định số 118/BTK-QĐ của Ban Thư ký HNSTHVN, sau là HMTVN. NXBMT cũng quản lý Tạp chí Mỹ thuật và Xưởng in Mỹ thuật, sau là Xí nghiệp in Mỹ thuật (đã giải thể).&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
NXBMTcó biên chế 10-12 người, giai đoạn đông nhất là 15 người, trong đó Giám đốc kiêm Tổng biên tập và 5-6 biên tập viên cơ hữu là họa sỹ hoặc nhà nghiên cứu, phê bình mỹ thuật có bằng Cử nhân Mỹ thuật - một số là hội viên của HMTVN.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
NXBMT liên tục xuất bản các ẩn phẩm mỹ thuật (sách, tranh, lịch…) và Tạp chí Mỹ thuật theo định kỳ 1 tháng hoặc 2 tháng/1 số tùy theo từng giai đoạn. Từ 2009 đến 2014, xuất bản hơn 1.000 đầu sách, trong đó có hơn 975 đầu sách do đối tác thực hiện, 25 đầu sách do Nhà nước đặt hàng hoặc tự làm.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
NXBMT ấn hành một số cuốn sách và bộ sách có giá trị, được Hội Xuất bản, In và Phát hành trao tặng Giải thưởng Sách đẹp và hay trong đó có 2 Huy chương Vàng, 2 Huy chương Bạc, 6 Huy chương Đồng, 2 giải Khuyến khích; tiêu biểu là: Nghệ sỹ tạo hình Việt Nam (Giải thưởng Hồ Chí Minh và Giải thưởng Nhà nước - Huy chương Vàng), Từ điển mỹ thuật phổ thông (Huy chương Vàng), Tranh dân gian Đông Hồ (Huy chương Bạc),…&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Từ 1993 đến 2016, NXBMTxuất bản 58 ấn phẩm được giải thưởng của Bộ Văn hóa - Thông tin, nay là Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch (VH,TT&amp;amp;DL); trong đó có 15 đầu sách  được Giải A (Huy chương Vàng), 24 Giải B (Huy chương Bạc), 13 Giải C (Huy chương Đồng), 6 Giải Khuyến khích cùng nhiều Bằng khen và tặng thưởng cho văn hóa phẩm của Bộ VH,TT&amp;amp;DL và HMTVN.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Hiện nay, NXBMT là một trong những trung tâm chính quy tụ các nghệ sỹ nghệ thuật tạo hình và các nhà nghiên cứu, phê bình mỹ thuật trong nước muốn công bố các sáng tác và công trình nghiên cứu mỹ thuật.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
=='''Tài liệu tham khảo'''==&lt;br /&gt;
# Quốc hội, Luật Xuất bản, 2012.&lt;br /&gt;
# 40 năm Nhà xuất bản Văn hóa - Thông tin: 1957-1997 (kỷ yếu), Hà Nội, 1997.&lt;br /&gt;
# 45 năm (1957-2002) ngày thành lập Nhà xuất bản Văn hóa - Thông tin (kỷ yếu), Hà Nội, 2002.&lt;br /&gt;
# Hội Mỹ thuật Việt Nam, Đại hội VIII Hội Mỹ thuật Việt Nam, nhiệm kỳ 2014-2019 (kỷ yếu), Nhà xuất bản Mỹ thuật, Hà Nội, 2015.&lt;/div&gt;</summary>
		<author><name>Deepmind2</name></author>
	</entry>
	<entry>
		<id>https://bktt.vn/index.php?title=Nh%C3%A0_xu%E1%BA%A5t_b%E1%BA%A3n_l%C3%BD_lu%E1%BA%ADn_ch%C3%ADnh_tr%E1%BB%8B&amp;diff=22408</id>
		<title>Nhà xuất bản lý luận chính trị</title>
		<link rel="alternate" type="text/html" href="https://bktt.vn/index.php?title=Nh%C3%A0_xu%E1%BA%A5t_b%E1%BA%A3n_l%C3%BD_lu%E1%BA%ADn_ch%C3%ADnh_tr%E1%BB%8B&amp;diff=22408"/>
		<updated>2023-01-11T02:54:11Z</updated>

		<summary type="html">&lt;p&gt;Deepmind2: Tạo trang mới với nội dung “&amp;lt;indicator name=&amp;quot;mới&amp;quot;&amp;gt;File:UnderCon icon.svg|40px|link={{TALKPAGENAME}}#Bình duyệt|alt=Mục từ này cần được bình duyệt|Mục từ này…”&lt;/p&gt;
&lt;hr /&gt;
&lt;div&gt;&amp;lt;indicator name=&amp;quot;mới&amp;quot;&amp;gt;[[File:UnderCon icon.svg|40px|link={{TALKPAGENAME}}#Bình duyệt|alt=Mục từ này cần được bình duyệt|Mục từ này cần được bình duyệt]]&amp;lt;/indicator&amp;gt;&lt;br /&gt;
'''Nhà xuất bản lý luận chính trị''' đơn vị sự nghiệp công lập trực thuộc Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, được thành lập ngày 20.10.2003  theo  Quyết định số 650/ QĐ-HVCTQG ngày 20.10.2003 của Giám đốc Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh căn cứ Quyết định số 3607/QĐ-BVHTT ngày 16.10.2003 của Bộ trưởng Bộ Văn hóa - Thông tin về việc cho phép thành lập Nhà xuất bản Lý luận chính trị. Đây là Nhà xuất bản được tổ chức theo mô hình đơn vị sự nghiệp có thu, tự chủ, tự chịu trách nhiệm về tài chính, có trụ sở tại 56B, Quốc Tử Giám, phường Văn Miếu, quận Đống Đa, thành phố Hà Nội. Từ tháng 8.2008 đến tháng 2 năm 2014  Nhà xuất bản Lý luận chính trị (NXBLLCT) đổi tên thành Nhà xuất bản Chính trị - Hành chính thuộc Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh theo Quyết định số 2249/QĐ-HVCT- HCQG ngày 29 tháng 9 năm 2008 của Giám đốc Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh. Từ tháng 02 năm 2014 đến nay (2021) NXBLLCT hoạt động với tên gọi như khi thành lập (20.10.2003).&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Tổ chức bộ máy và biên chế của NXBLLCTgồm: 1. Lãnh đạo NXB gồm Giám đốc (Giám đốc có thể kiêm Tổng biên tập) và không quá hai Phó Giám đốc, Phó Tổng biên tập do Giám đốc Học viện bổ nhiệm: a) Giám đốc là người đứng đầu và lãnh đạo NXB, chịu trách nhiệm trước pháp luật và trước Giám đốc Học viện về mọi hoạt động và các ấn phẩm của NXB; b) Phó Giám đốc, Phó Tổng biên tập chịu trách nhiệm trước Giám đốc và trước pháp luật về các nhiệm vụ được phân công. 2. NXBLLCTcó các đơn vị trực thuộc: a) Phòng biên tập; b) Phòng Hành chính - Phát hành; c) Phòng Tài vụ. Chức năng, nhiệm vụ của các đơn vị trực thuộc do Giám đốc NXBquy định. 3. Biên chế của NXB được xác định theo quy định về tiêu chuẩn chức danh và vị trí làm việc của cán bộ, công chức, viên chức, người lao động được Giám đốc Học viện giao. Ngoài số biên chế được giao, Giám đốc NXBLLCT được ký hợp đồng lao động vụ, việc để giải quyết nhu cầu lao động có tính chất thời vụ sau khi được Giám đốc Học viện chấp thuận.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Chức năng, nhiệm vụ: NXBLLCT là cơ quan xuất bản của Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh,  thực hiện chức năng biên tập, xuất bản, phát hành các xuất bản phẩm theo quy định của Luật Xuất bản phục vụ công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ và nghiên cứu khoa học của Học viện, các trường chính trị tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương và công tác nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn của Đảng và Nhà nước. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
NXBLLCT có các nhiệm vụ:&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
- Xuất bản và phát hành:&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
a)  Sách, tài liệu phục vụ giảng dạy và học tập theo chương trình đào tạo, bồi dưỡng cán bộ thuộc các hệ lớp của Học viện và các trường chính trị tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương; các trường cán bộ của bộ, ngành, đoàn thể Trung ương;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
b)  Sách, tài liệu phục vụ nghiên cứu khoa học của Học viện bao gồm: các công trình nghiên cứu khoa học về chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước; kỷ yếu đề tài, hội thảo khoa học, công trình nghiên cứu khoa học lý luận chính trị, khoa học hành chính, quản lý nhà nước, khoa học xã hội và nhân văn do Học viện, các đơn vị thuộc Học viện quản lý và chủ trì;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
c) Các xuất bản phẩm có nội dung chuyên ngành về lý luận chính trị, khoa học hành chính, quản lý nhà nước và các khoa học xã hội và nhân văn có liên quan; lịch và văn hóa phẩm khác;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
d) Các xuất bản phẩm và ấn phẩm do Học viện và các cơ quan khác đặt hàng phục vụ nhiệm vụ chính trị đột xuất. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
- Được hợp tác, liên doanh, liên kết với các tổ chức, cá nhân trong nước và nước ngoài trong hoạt động xuất bản, in, phát hành theo quy định của Đảng, Nhà nước và theo chủ trương chung của Giám đốc Học viện để bảo toàn và phát triển các nguồn lực được Học viện giao, tạo thêm nguồn thu của NXBLLCT. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
- Xây dựng kế hoạch xuất bản dài hạn, ngắn hạn và các hoạt động xuất bản  theo nhiệm vụ được giao trình Giám đốc Học viện phê duyệt, tổ chức thực hiện đúng kế hoạch được duyệt.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
- Thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ về tài chính theo quy định của Nhà nước đối với đơn vị sự nghiệp có thu.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
-  Quản lý, xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức, người lao động của NXBLLCT về mọi mặt; thực hiện chế độ, chính sách, công tác thi đua - khen thưởng và kỷ luật đối với cán bộ, công chức, viên chức, người lao động của NXBLLCT theo thẩm quyền; thực hiện phòng và chống tham nhũng, tiêu cực, lãng phí trong đơn vị theo quy định của pháp luật; quản lý tài chính và tài sản theo phân cấp của Giám đốc Học viện.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
- Thực hiện các nhiệm vụ khác do Giám đốc Học viện giao.&lt;br /&gt;
Quá trình hình thành và phát triển của NXBLLCT trải qua 2 giai đoạn chính: 1) Giai đoạn từ 2003 - 2008; và 2) Giai đoạn từ 2008 đến nay (2021).&lt;br /&gt;
Giai đoạn từ tháng 10.2003  -  tháng 8.2008: Đây là giai đoạn đầu thành lập khi NXBLLCT hoạt động trong điều kiện nhiều khó khăn, nhưng đã đạt được những thành tích bước đầu rất quan trọng. Trong năm năm đầu (2003 - 2008) NXB đã xuất bản hàng nghìn đầu sách với các thể loại sách nghiên cứu lý luận chính trị, tủ sách học tập và nghiên cứu về chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; tủ sách phục vụ lãnh đạo; tủ sách tinh hoa nhân loại; tủ sách nghiệp vụ công tác Đảng; tủ sách “Học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh”; tủ sách lịch sử Đảng bộ địa phương…Phần lớn các sách của NXBLLCT thuộc các thể loại sách chuyên khảo, sách nghiệp vụ, sách giáo khoa, giáo trình, sách phổ biến tri thức lý luận chính trị… phục vụ nhu cầu của cán bộ, học viên của Học viện và các đối tượng bạn đọc trên khắp các vùng, miền trong cả nước. Đặc biệt, thể loại sách nghiên cứu lý luận chính trị chuyên khảo, sách phục vụ lãnh đạo cao cấp và sách nghiệp vụ công tác Đảng ngày càng khẳng định dấu ấn của Nhà xuất bản Lý luận chính trị đối với bạn đọc. Số lượng sách, tài liệu tham khảo được xuất bản năm sau luôn cao hơn năm trước. Từ năm 2006, NXBLLCT luôn có các xuất bản phẩm đạt giải thưởng Sách hay, Sách đẹp do Hội xuất bản Việt Nam tổ chức (tổng cộng gồm mười lăm giải thưởng Sách hay, Sách đẹp). &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Giai đoạn từ tháng 8 năm 2008 đến nay (2021): NXBLLCT đạt được những thành tích cao trong việc xuất bản và phát hành một số lượng đầu sách khá lớn. Từ năm 2008 đến nay, tính trung bình mỗi năm NXBLLCT xuất bản và phát hành trên hai trăm đầu sách các loại, trong đó tuyệt đại đa số là sách lý luận chính trị với các chủ đề chính là tuyên truyền, phổ biến lý luận chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, các quan điểm, đường lối, nghị quyết của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, trong đó có một số sách tiêu biểu, như: &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
-  Bộ Giáo trình cao cấp Lý luận chính trị (mười chín cuốn) với dung lượng trên năm nghìn trang khổ 16 x 24cm, được phát hành hàng năm trên dưới mười lăm nghìn bộ. Đây là bộ sách bao gồm nhiều môn học lý luận chính trị của Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh phục vụ Chương trình đào tạo cao cấp lý luận chính trị dành cho các học viên là cán bộ lãnh đạo từ cấp phòng và quy hoạch từ cấp phòng trở lên thuộc các cơ quan, tổ chức trong hệ thống chính trị, các doanh nghiệp nhà nước, đơn vị sự nghiệp công lập. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
- Bộ Giáo trình trung cấp chính trị- hành chính (tám cuốn) với dung lượng trên ba nghìn trang khổ 14, 5 x 20, 5cm, được xuất bản và phát hành trên dưới hai mươi lăm nghìn bộ. Đây là bộ sách bao gồm nhiều môn học kết hợp dùng trong Chương trình đào tạo trung cấp lý luận chính trị - hành chính dành cho cán bộ lãnh đạo, quản lý và quy hoạch cán bộ lãnh đạo, quản lý ở các loại hình cơ sở  trong cả nước. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
-  Các Giáo trình, tập bài giảng dùng trong các Chương trình đào tạo cử nhân chính trị, cử nhân báo chí, xuất bản của hệ thống Học viện. Đây là các sách, tài liệu phục vụ nhu cầu nghiên cứu, giảng dạy và học tập của hệ đào tạo đại học chính trị ở hệ thống Học viện quốc gia, Học viện Chính trị khu vực I, Học viện Chính trị khu vực II, Học viện  Báo chí và Tuyên truyền.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Ngoài ra, NXBLLCTđã xuất bản và phát hành Các tập bài giảng tình hình nhiệm vụ địa phương, Tài liệu bồi dưỡng, cập nhật kiến thức mới cho cán bộ lãnh đạo, quản lý và cán bộ quy hoạch nguồn lãnh đạo, quản lý cấp tỉnh và cấp huyện; Tài liệu bồi dưỡng cho các lớp bí thư huyện ủy và tương đương;  các Kỷ yếu hội nghị, hội thảo khoa học cấp bộ, cấp quốc gia và quốc tế, các kết quả nghiên cứu khoa học của hệ thống Học viện; sách Sự nghiệp công tác Đảng; sách Lịch sử Đảng bộ địa phương, sách tham khảo, sách chuyên khảo về lý luận chính trị, khoa học xã hội nhân văn khác, tiêu biểu như các sách: Bản thể luận và nhận thức luận trong triết học phương Tây trước Mác; Tại sao Mác đúng; Bàn về khế ước xã hội; Mối quan hệ giữa độc lập tự chủ và hội nhập quốc tế ở Việt Nam – Lý luận thực tiễn; Triết học chính trị - Con người - Một số vấn đề lý luận, thực tiễn; An ninh truyền thống - Những vấn đề lý luận và thực tiễn; Tư duy nhiệm kỳ và bệnh thành tích trong công tác xây dựng Đảng và quản lý Nhà nước hiện nay; Năm tác phẩm tiêu biểu của Hồ Chí Minh - năm bảo vật quốc gia; Văn kiện Đại hội XII của Đảng -  Một số vấn đề lý luận và thực tiễn; Vững bước trên nền tảng chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; Thực hiện đại đoàn kết dân tộc trong công cuộc Đổi mới  đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam - Cơ sở lý luận, thực tiễn; Hồ Chí Minh - Tiểu sử; ХоШиМин:Биография; v.v…&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Thành tích, khen thưởng: NXBLLCT được tặng thưởng nhiều Bằng khen, trong đó có Bằng khen của Thủ tướng Chính phủ (2013), của Ban Tuyên giáo trung ương (2011).&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
=='''Tài liệu tham khảo:'''==&lt;br /&gt;
# Đinh Xuân Dũng, Ngô Trần Ái (Đồng chủ biên): Các nhà xuất bản Việt Nam đương đại.  Nxb Giáo Dục. HN, 2013.&lt;br /&gt;
# Học viện Chính trị - Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh:Nhà xuất bản Chính trị - Hành chính 10 năm xây dựng và phát triển (2003 - 2013), Nxb Chính trị - Hành chính, HN, 2013.&lt;br /&gt;
# Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh:Quyết định về chức năng, nhiệm vụ và cơ cấu tổ chức của Nhà xuất bản Lý luận chính trị, Quyết định số 6586 – QĐ/HVCTQG ngày 01/ 11/ 2018 của Giám đốc Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh.&lt;br /&gt;
# Nhà xuất bản Lý luận chính trị: Báo cáo thành tích đề nghị khen thưởng Huân chương Lao động hạng Ba, Báo cáo số 06/BC-NXBLLCT ngày 25.6.2018 của NXBLLCT. &lt;br /&gt;
# Nhiều tác giả: Xuất bản Việt Nam trong bối cảnh kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế, Nxb Thời Đại. HN, 2012.&lt;/div&gt;</summary>
		<author><name>Deepmind2</name></author>
	</entry>
	<entry>
		<id>https://bktt.vn/index.php?title=Nh%C3%A0_xu%E1%BA%A5t_b%E1%BA%A3n_Lao_%C4%91%E1%BB%99ng_-_x%C3%A3_h%E1%BB%99i&amp;diff=22407</id>
		<title>Nhà xuất bản Lao động - xã hội</title>
		<link rel="alternate" type="text/html" href="https://bktt.vn/index.php?title=Nh%C3%A0_xu%E1%BA%A5t_b%E1%BA%A3n_Lao_%C4%91%E1%BB%99ng_-_x%C3%A3_h%E1%BB%99i&amp;diff=22407"/>
		<updated>2023-01-11T02:51:18Z</updated>

		<summary type="html">&lt;p&gt;Deepmind2: Tạo trang mới với nội dung “&amp;lt;indicator name=&amp;quot;mới&amp;quot;&amp;gt;File:UnderCon icon.svg|40px|link={{TALKPAGENAME}}#Bình duyệt|alt=Mục từ này cần được bình duyệt|Mục từ này…”&lt;/p&gt;
&lt;hr /&gt;
&lt;div&gt;&amp;lt;indicator name=&amp;quot;mới&amp;quot;&amp;gt;[[File:UnderCon icon.svg|40px|link={{TALKPAGENAME}}#Bình duyệt|alt=Mục từ này cần được bình duyệt|Mục từ này cần được bình duyệt]]&amp;lt;/indicator&amp;gt;&lt;br /&gt;
'''Nhà xuất bản Lao động - xã hội''' (tiếng Anh:The Labour and Social Publishing House), đơn vị sự nghiệp công lập trực thuộc Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, được thành lập theo Quyết định số 08/1999/BLĐTBXH-QĐ ngày 08 tháng 01 năm 1999 cuả Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội. Năm 2003, thực hiện chủ trương đổi mới, sắp xếp và nâng cao hiệu quả các doanh nghiệp Nhà nước của Chính phủ, Nhà xuất bản Lao động – Xã hội (NXBLĐ-XH) được sáp nhập với Công ty In Lao động - Xã hội theo Quyết định số 564/2003 ngày 07 tháng 5 năm 2003 và chuyển sang loại hình doanh nghiệp, hoạt động theo Luật doanh nghiệp Nhà nước, Luật Xuất bản, Luật Báo chí do Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội thành lập, đầu tư quản lý với tư cách chủ sở hữu theo ủy quyền của Thủ tướng Chính phủ và quy định của pháp luật.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
NXBLĐ-XH có trụ sở tại Ngõ Hòa Bình 4, Minh Khai, quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội. Năm 2014 NXBLĐ-XH đổi tên thành Công ty TNHH MTV Nhà xuất bản theo Quyết định số 1697/QĐ-BLĐTBXH ngày 24 tháng 12 năm 2014. Ngày 5 tháng 8 năm 2020 Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội có Quyết định số 924/QĐ-LĐTBXH về việc tổ chức lại Công ty TNHH MTV NXBLĐ-XH, đổi tên thành Công ty TNHH MTV Thiết bị giáo dục nghề nghiệp.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Tổ chức bộ máy và biên chế của NXBLĐ-XH gồm Ban Giám đốc (Giám đốc có thể kiêm Tổng biên tập) và Phó Giám đốc, Phó Tổng biên tập. Trực thuộc Ban Giám đốc có: Xí nghiệp in và dụng cụ dạy nghề (Văn phòng, Tổ chức - Lao động, Kế toán Tài vụ); Trung tâm sách Lao động Xã hội (Kế hoạch xuất bản, Phòng thị trường); Xí nghiệp in (Ban biên tập, Phòng chế bản, Văn phòng 2).&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Chức năng, nhiệm vụ: Xuất bản các ấn phẩm hướng dẫn, giải đáp chính sách, pháp luật của Đảng, Nhà nước; sách nghiên cứu, chuyên luận; sách giáo trình dạy nghề cho các trường, trung tâm đào tạo nghề chủ yếu thuộc ngành Lao động - Thương binh và Xã hội; Xuất bản tạp chí Cẩm nang mua sắm, đặc san Món ngon Việt Nam và các loại sách, xuất bản phẩm khác theo quy định của Luật Xuất bản, Luật Báo chí; In sách, báo, tạp chí và các ấn phẩm khác; Tư vấn, thiết kế chế tạo, kinh doanh xuất nhập khẩu thiết bị và dụng cụ dạy nghề dùng cho việc giảng dạy, học tập tại các trường, trung tâm dạy nghề. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Quá trình hình thành và phát triển 	&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Giai đoạn 1999 – 2003 : Giai đoạn này, NXBLĐ-XH là đơn vị mới được thành lập nên đã xác định rõ xuất bản là một lĩnh vực hoạt động tư tưởng sắc bén của Đảng, Nhà nước và nhân dân. NXB luôn bám sát nhiệm vụ chính của ngành Lao động - Thương binh và Xã hội, tập trung vào việc xuất bản các loại ấn phẩm nhằm tuyên truyền phổ biến chính sách của Đảng, Nhà nước và ngành Lao động - Thương binh và Xã hội tới đông đảo bạn đọc, đặc biệt là các sách tuyên truyền thực hiện Bộ luật Lao động, chính sách với người có công, xóa đói giảm nghèo, phòng chống tệ nạn xã hội, an toàn vệ sinh lao động, tranh ảnh áp phích và các ấn phẩm góp phần tích cực vào việc chỉ đạo và triển khai có hiệu quả công tác của toàn ngành Lao động - Thương binh và Xã hội nói riêng, của đất nước nói chung.&lt;br /&gt;
Tháng 5.2002, NXBLĐ-XH đã chủ động xây dựng và đưa Trung tâm Sách Lao động - Xã hội vào hoạt động, phù hợp với quy hoạch phát triển ngành Xuất bản - In - Phát hành sách của Nhà nước. Sự ra đời của Trung tâm Sách góp phần quan trọng trong công tác phát hành các ấn phẩm của NXBLĐ-XH, giải quyết việc làm cho nhiều con em cán bộ công nhân trong ngành, góp phần ổn định tư tưởng, đời sống cho các gia đình và cho xã hội.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Năm 2003, NXBLĐ-XH đã tiến hành sắp xếp lại sản xuất và tổ chức quản lý theo loại hình doanh nghiệp 100% vốn Nhà nước, phạm vi hoạt động sản xuất kinh doanh của NXB bao gồm cả ba lĩnh vực: xuất bản - in - phát hành theo mô hình khép kín đã và đang được Bộ Thông tin Truyền thông và Ban Tuyên giáo Trung ương khuyến khích, ủng hộ. Luôn bám sát sự chỉ đạo của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội và của các cơ quan chức năng, NXBLĐ-XH đã nỗ lực, khắc phục mọi khó khăn, phấn đấu hoàn thành vượt chỉ tiêu kế hoạch. Số lượng từ ba mươi lăm đầu sách với tổng doanh thu hai tỷ bốn trăm triệu đồng năm 1999 tăng lên hai trăm linh năm đầu sách với tổng doanh thu lên tới hai mươi tỷ đồng năm 2003. Thu nhập bình quân của cán bộ công nhân viên tăng 1,7 lần. NXBLĐ-XH vừa bảo đảm nhiệm vụ chính trị, vừa kinh doanh có lãi và nộp cho Ngân sách nhà nước.&lt;br /&gt;
 Giai đoạn 2004 - 2008, NXBLĐ-XH đã xuất bản được một số tác phẩm có giá trị về tư tưởng Hồ Chí Minh và các công trình nghiên cứu, tổng kết thực tiễn công tác ngành Lao động - Thương binh và Xã hội. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Sách của NXBLĐ-XH vươn tới cả những mảng đề tài về hậu quả chất độc da cam/ dioxin, về gương điển hình của người tàn tật, về các mô hình xoá đói giảm nghèo, về chăm sóc người có công, về phòng chống các tệ nạn xã hội, đã được phát hành tới vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo. Với thành tích hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao nên nhiều năm NXBLĐ-XH được Bộ Thông tin - Truyền thông, Ban Tuyên giáo Trung ương khen thưởng.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
NXBLĐ-XH hằng năm đã dành một khoản kinh phí phối hợp với các chuyên gia đầu ngành biên soạn những cuốn cẩm nang cho người sử dụng lao động, cán bộ lao động - thương binh và xã hội ở xã, phường, thị trấn với giá bán không kinh doanh nhằm phục vụ nhiệm vụ chính trị của ngành Lao động - Thương binh và Xã hội. NXBLĐ-XH đồng thời coi trọng việc biểu dương cổ vũ người tốt, việc tốt, những nhân tố mới trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc qua việc xuất bản các sách về những gương điển hình tiên tiến trong đền ơn đáp nghĩa và xóa đói giảm nghèo...&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Tháng 3.2004, trước yêu cầu của Thủ tướng Chính phủ phải đổi mới và nâng cao chất lượng, quy mô công tác đào tạo nghề phục vụ quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa cũng như chuẩn bị cho quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, NXBLĐ-XH được Bộ trưởng Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội giao thêm nhiệm vụ tư vấn, sản xuất, cung ứng thiết bị và dụng cụ dạy nghề (theo Quyết định số 366/QĐ/BLĐTBXH ngày 10.3.2004). NXBLĐ-XH đã thành lập Xí nghiệp Thiết bị và dụng cụ dạy nghề với nhiệm vụ tư vấn, thiết kế, chế tạo, sản xuất, cung ứng thiết bị và dụng cụ dạy nghề cho toàn bộ hệ thống các trường, trung tâm dạy nghề cả nước. Đây là một lĩnh vực quan trọng của ngành Lao động - Thương binh và Xã hội nên sau bốn năm đi vào hoạt động, Xí nghiệp Thiết bị và dụng cụ dạy nghề đã có những sản phẩm ngày càng đa dạng và phong phú, đặc tính kỹ thuật giáo dục trực quan, phù hợp với yêu cầu đào tạo của các trường, các trung tâm dạy nghề đào tạo công nhân, đáp ứng yêu cầu cho các doanh  nghiệp  thời kỳ hội nhập quốc tế và định hướng phát triển của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội. Năm 2008 Xí nghiệp Thiết bị và dụng cụ dạy nghề đã phấn đấu đạt ba mươi lăm tỷ đồng doanh thu, cung cấp thiết bị dạy nghề cho bốn mươi ba tỉnh, thành phố với hơn một trăm trường, trung tâm dạy nghề trong cả nước. Sản phẩm của Xí nghiệp được đánh giá cao góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả trong công tác dạy nghề.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Tháng 6 năm 2004 Bộ Thông tin và Truyền thông ký Quyết định số 80/GP-VHTT cấp phép hoạt động cho tờ Tạp chí &amp;quot;Cẩm Nang Mua Sắm&amp;quot; trực thuộc NXBLĐ-XH với tôn chỉ mục đích cung cấp thông tin về thị trường hàng hóa tiêu thụ, tư vấn và hướng dẫn người tiêu dùng lựa chọn, mua sắm hàng hóa, bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, làm cầu nối giữa người sản xuất và người tiêu dùng. &lt;br /&gt;
Tháng 12. 2004, tờ Đặc san &amp;quot;Việc làm&amp;quot; ra đời (Theo Quyết định số 584/GP-XBĐS của Bộ Văn hóa - Thông tin) với nhiệm vụ cung cấp thông tin về thị trường lao động - việc làm, tạo cầu nối giữa doanh nghiệp và người lao động; thông tin hội nhập quốc tế về lao động - việc làm; tư vấn, hướng dẫn cho người có nhu cầu &amp;quot;người tìm việc&amp;quot; và &amp;quot;việc tìm người&amp;quot; và các vấn đề liên quan đến lao động - việc làm.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Do định hướng đúng đắn nên sách và tạp chí của NXBLĐ-XH đã chiếm lĩnh thị trường sách thuộc ngành Lao động - Thương binh và Xã hội: về lao động việc làm; tiền lương, tiền công; an toàn và bảo hộ lao động; chính sách bảo hiểm xã hội; dạy nghề, xóa đói giảm nghèo, ưu đãi người có công, tư vấn tiêu dùng, v.v… Kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh trong giai đoạn này đã có những bước tăng trưởng rất đáng khích lệ: đó là năm 2008 doanh thu đạt năm mươi hai tỉ đồng với một nghìn hai trăm năm mươi đầu sách được xuất bản. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Giai đoạn 2009 – 2013: Trải qua chặng đường hơn hai mươi năm qua, đặc biệt là giai đoạn sau năm 2009, mặc dù trong bối cảnh kinh tế hết sức khó khăn, nhiều doanh nghiệp phải thu hẹp sản xuất, song NXBLĐ-XH đã vượt qua thử thách của kinh tế thị trường, kiên trì bám sát định hướng chính trị của Đảng và Nhà nước về công tác xuất bản, công tác đào tạo nghề để cho ra đời những ấn phẩm văn hóa, khoa học nghiêm túc có giá trị mang đặc trưng riêng của ngành Lao động - Thương binh và Xã hội. Những mô hình học cụ, thiết bị phục vụ cho công tác đào tạo dạy nghề mang tính giáo dục trực quan phù hợp với yêu cầu đào tạo của các trường, các trung tâm dạy nghề trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đã góp phần tích cực nâng cao chất lượng, hiệu quả trong công tác dạy nghề, trong đó có sản phẩm &amp;quot;Hàng Việt Nam chất lượng cao&amp;quot; (2019 - 2010) được người tiêu dùng bình chọn vinh danh. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Từ năm 2010, NXBLĐ-XH được Tổng cục Tiêu chuẩn đo lường chất lượng chứng nhận đạt chất lượng TCVN ISO 9001 - 2008 cho lĩnh vực thiết kế, tạo mẫu, chế bản, xuất bản, in, phát hành báo, tạp chí và các ấn phẩm khác; Thiết kế, sản xuất và kinh doanh thiết bị và dụng cụ dạy nghề. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Một số sản phẩm tiêu biểu&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Đặc san &amp;quot;Món ngon Việt Nam&amp;quot; được Bộ Thông tin và Truyền thông cấp phép năm 2009 (Giấy phép số 32/GP-XBĐS ngày 16.9. 2009) phát hành định kỳ 1 số/ tháng với mục đích cung cấp thông tin bổ ích giới thiệu các món ăn ngon tiêu biểu của nghệ thuật ẩm thực Việt Nam.   &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Tạp chí &amp;quot;Cẩm nang mua sắm&amp;quot; phát hành định kỳ 2 số/tháng nhằm cung cấp thông tin về thị trường hàng hóa tiêu thụ, tư vấn và hướng dẫn người tiêu dùng, làm cầu nối giữa người sản xuất và người tiêu dùng.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Một số cuốn sách hay mang tính nhân văn và có giá trị cho công tác nghiên cứu, tuyên truyền thực hiện đường lối, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước như “Giáo trình kỹ thuật đa ngành cho kỹ sư” (2004); Toàn bộ các văn kiện cam kết của Việt Nam gia nhập WTO (2006); Kỷ yếu các đề tài cấp Bộ 2000-2006 của Bộ LĐTBXH (2007); Tuyên ngôn quốc tế nhân quyền 1948 - mục tiêu chung của nhân loại (2011); Cẩm nang thực hiện chính sách người có công với cách mạng tại cấp xã (2012); Bộ luật Lao động năm 2012 và các văn bản hướng dẫn thi hành (2013); Hướng dẫn thanh tra, kiểm tra pháp luật lao động người có công và xã hội (2013); Những kỹ năng trọng điểm dành cho giám đốc doanh nghiệp (2013).&lt;br /&gt;
 &lt;br /&gt;
-Sản phẩm lĩnh vực thiết kế, chế tạo thiết bị dụng cụ dạy nghề: Nhà xuất bản đã thiết kế, chế tạo thành công nhiều thiết bị, dụng cụ dạy nghề trong đó có hai sản phẩm đặc trưng có tính ứng dụng cao - đó là a) Hệ thống điều khiển tự động bằng màn hình HMI; và b) Hệ thống tự động phân loại sản phẩm (SMASTI đến SMASTIV).&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
NXBLĐ-XH được tặng thưởng Huân chương Lao động hạng Nhì (2008); Huân chương Lao động hạng Ba (2004) và nhiều phần thưởng cao quý khác của Đảng và Nhà nước.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
=='''Tài liệu tham khảo'''==&lt;br /&gt;
#  Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, Quyết định số 08/1999/BLĐTBXH - QĐ ngày 08.01.1999 về việc thành lập Nhà xuất bản Lao động -  Xã hội. &lt;br /&gt;
#  Đinh Xuân Dũng, Ngô Trần Ái (Đồng chủ biên). Các nhà xuất bản Việt Nam đương đại. Nxb Giáo Dục. Hà Nội, 2013, tr. 288 - 291.&lt;br /&gt;
#  Nhiều tác giả,.Xuất bản Việt Nam trong bối cảnh kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế. Nxb Thời Đại. Hà Nội, 2012, tr. 7 - 540.&lt;/div&gt;</summary>
		<author><name>Deepmind2</name></author>
	</entry>
	<entry>
		<id>https://bktt.vn/index.php?title=Nh%C3%A0_xu%E1%BA%A5t_b%E1%BA%A3n_Lao_%C4%91%E1%BB%99ng&amp;diff=22406</id>
		<title>Nhà xuất bản Lao động</title>
		<link rel="alternate" type="text/html" href="https://bktt.vn/index.php?title=Nh%C3%A0_xu%E1%BA%A5t_b%E1%BA%A3n_Lao_%C4%91%E1%BB%99ng&amp;diff=22406"/>
		<updated>2023-01-11T02:47:08Z</updated>

		<summary type="html">&lt;p&gt;Deepmind2: Tạo trang mới với nội dung “&amp;lt;indicator name=&amp;quot;mới&amp;quot;&amp;gt;File:UnderCon icon.svg|40px|link={{TALKPAGENAME}}#Bình duyệt|alt=Mục từ này cần được bình duyệt|Mục từ này…”&lt;/p&gt;
&lt;hr /&gt;
&lt;div&gt;&amp;lt;indicator name=&amp;quot;mới&amp;quot;&amp;gt;[[File:UnderCon icon.svg|40px|link={{TALKPAGENAME}}#Bình duyệt|alt=Mục từ này cần được bình duyệt|Mục từ này cần được bình duyệt]]&amp;lt;/indicator&amp;gt;&lt;br /&gt;
'''Nhà xuất bản Lao động''' (tiếng Anh:The Labour Publishing House), đơn vị sự nghiệp công lập trực thuộc Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam, có chức năng, nhiệm vụ xuất bản các loại sách kinh tế, chính trị, lịch sử, pháp luật, lý luận, nghiệp vụ công tác công đoàn, sách văn học trong nước và nước ngoài, phục vụ công nhân, viên chức, lao động và tổ chức công đoàn trong cả nước.&lt;br /&gt;
Nhà xuất bản Lao động (NXBLĐ) được thành lập ngày 01.11.1945 do Hội nghị Ban Chấp hành Hội Công nhân Cứu quốc Việt Nam - tiền thân của Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam, ra Quyết định thành lập, là đơn vị sự nghiệp hoạt động dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo trực tiếp của Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam, có trụ sở tại 175 Giảng Võ, quận Đống Đa, thành phố Hà Nội, có chi nhánh trực thuộc phía Nam, trụ sở tại số nhà 1, Bùi Thị Xuân (85 đường Cách mạng Tháng Tám), quận I, Thành phố Hồ Chí Minh.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Tổ chức bộ máy của NXBLĐ gồm Ban Giám đốc (Giám đốc có thể kiêm Tổng biên tập) và Phó Giám đốc, Phó Tổng biên tập. Trực thuộc Ban Giám đốc có sáu phòng, ban và một chi nhánh phía Nam: Phòng Tổ chức - Hành chính; Phòng Kế hoạch; Phòng Tài vụ; Ban Biên tập sách Kinh tế - Chính trị - Công đoàn; Ban Biên tập sách văn học; Chi nhánh phía Nam.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Quá trình hình thành và phát triển của NXBLĐ:&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Sau ngày nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời chưa đầy hai tháng, ngày 01 tháng 11 năm 1945, NXBLĐ đã được thành lập. Bảy mươi lăm năm đồng hành cùng đất nước Việt Nam trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ và trong thời kỳ hội nhập kinh tế quốc tế, dưới sự lãnh đạo của Đảng, sự chỉ đạo trực tiếp của Đoàn Chủ tịch Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam, NXBLĐ đã từng bước củng cố, xây dựng theo hướng ngày càng hoàn thiện cả về đội ngũ cán bộ, biên tập viên; phong phú về các xuất bản phẩm, đa dạng về đề tài, thể loại, nội dung; hấp dẫn về hình thức; phục vụ kịp thời cho hoạt động phong trào công nhân, viên chức và tổ chức công đoàn cả nước. Quá trình hình thành và phát triển của NXBLĐ trải qua các giai đoạn: 1) Từ 01.11.1945 đến tháng 5.1954; 2) Từ tháng 6.1954 đến tháng 5.1975; 3) Từ tháng 6.1975 đến năm 2000; 4) Từ năm 2000 đến nay.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Giai đoạn từ 01 tháng 11 năm 1945 - tháng 5 năm 1954: Đây là giai đoạn đầu thành lập khi NXBLĐ hoạt động trong điều kiện khó khăn sau ngày nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời với đề tài còn hạn hẹp, nội dung chưa phong phú, kỹ thuật, mỹ thuật còn thô sơ. Song với sự khắc phục khó khăn in ấn trong thời chiến, NXBLĐ cùng với hệ thống thông tin của tổ chức Công đoàn đã góp phần xứng đáng vào thắng lợi của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Giai đoạn từ tháng 6.1954 - tháng 5.1975: Đây là giai đoạn đấu tranh thống nhất đất nước và xây dựng miền Bắc xã hội chủ nghĩa. Phạm vi đề tài, nội dung, các ấn phẩm của NXBLĐ thời kỳ này đã phong phú hơn trước. Trung bình hàng năm có khoảng tám mươi đầu sách được xuất bản. Những ấn phẩm của NXBLĐ đã góp phần cổ vũ giai cấp công nhân và người lao động thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược là xây dựng miền Bắc xã hội chủ nghĩa, đóng góp sức người, sức của cho cuộc đấu tranh giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước vào mùa Xuân năm 1975. Trong giai đoạn này, NXBLĐ đã góp phần đáng kể vào việc xây dựng một đội ngũ đông đảo các nhà văn công nhân, giúp cho văn học công nhân khởi sắc.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Giai đoạn từ tháng 6 năm 1975 đến năm 2000:  Đây là giai đoạn có tính bước ngoặt của NXBLĐ, nhất là từ sau Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng Cộng sản Việt Nam cuối năm 1986. Các ấn phẩm của NXBLĐ tập trung tuyên truyền khắc phục những hạn chế của mô hình kinh tế cũ, khẳng định và cổ vũ đường lối Đổi mới do Đảng Cộng sản Việt Nam khởi xướng và lãnh đạo. Từ cuối những năm tám mươi của thế kỷ XX, từ cơ chế bao cấp chuyển sang cơ chế tự hạch toán, lấy thu bù chi, tuy bước đầu gặp nhiều khó khăn, song NXBLĐ đã từng bước mở rộng đề tài các ấn phẩm, nâng cao chất lượng sách xuất bản, nhiều cuốn sách có giá trị được đông đảo bạn đọc quan tâm, như cuốn Hồ Chí Minh với công nhân và công đoàn; Giai cấp công nhân - mấy vấn đề lý luận và thực tiễn; Mưa mùa hạ; Những người lao động sáng tạo của thế kỷ; Thanh cung mười ba triều; Bách khoa thư dành cho giới trẻ; v.v... &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Giai đoạn từ 2000 đến 2015: Đề tài sách giai đoạn này phong phú, đa dạng, NXBLĐ thực hiện có hiệu quả nhiệm vụ giới thiệu những tri thức mới, cần thiết cho các tầng lớp công nhân, viên chức, lao động, thực sự góp phần cổ vũ sự năng động, sáng tạo của người lao động trên mọi lĩnh vực công tác, góp phần phát huy những ảnh hưởng tích cực của giai cấp công nhân và tổ chức Công đoàn Việt Nam trong thời kỳ công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước. Một số tủ sách của NXBLĐ được bạn đọc đánh giá cao, như: Gương sáng muôn đời (hai mươi cuốn), Kể chuyện Bác Hồ (hai mươi lăm cuốn), Tủ sách dành cho Công đoàn các cấp (mười lăm cuốn) … &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Giai đoạn từ 2015 đến nay: Những năm gần đây thị trường xuất bản ở Việt Nam nói chung và NXBLĐ nói riêng ở giai đoạn này gặp rất nhiều khó khăn, xuất bản phải cạnh tranh với các phương tiện truyền thông khác như báo in, truyền hình, mạng internet… NXBLĐ phải tự hạch toán kinh tế nên cũng chịu tác động lớn từ các đợt khủng hoảng kinh tế. Tuy nhiên, với tư duy đổi mới NXBLĐ đã phát huy tinh thần sáng tạo, vượt lên khó khăn, đưa hoạt động xuất bản tiến dần từng bước, tạo ra những giá trị tinh thần cho xã hội. Những trang sách của NXBLĐ ngày càng trở nên gắn bó hơn với bạn đọc công nhân, viên chức, lao động và các tổ chức công đoàn trong cả nước. Nắm bắt trúng những nhu cầu thị hiếu của bạn đọc, Ban Giám đốc NXBLĐ đã mở rộng mối quan hệ, thiết lập được một hệ thống các đối tác liên kết làm sách có “uy tín”, có “thương hiệu” trên thị trường như: Công ty FAHASA TP Hồ Chí Minh, doanh nghiệp sách Thành Nghĩa, Công ty Phương Nam, Nhà sách Đông Tây, Công ty Sách Đông Nam, Công ty cổ phần Sách Trí Tuệ, Nhà sách Văn Lang, Nhà sách Bách Việt, Công ty Cổ phần Sách Thái Hà, Công ty Cổ phần Văn hoá và Truyền thông Nhã Nam, Công ty Cổ phần sách Alpha, Công ty TNHH Kẹp Hạt Dẻ, Công ty CP Anh ngữ Apax, Công ty CP Giáo dục tư duy và Sáng tạo quốc tế CMS, v.v… Hoạt động liên kết hợp tác này không chỉ đem lại hiệu quả về kinh tế mà còn tác động tích cực đến việc đưa văn hóa phẩm đến người đọc rộng rãi trong cả nước, đem lại thành công và hiệu quả nhất định, các đầu sách được xuất bản hàng năm đều tăng cao so với những năm trước.&lt;br /&gt;
Bên cạnh các hoạt động xuất bản, phát hành sách và các ấn phẩm, NXBLĐ còn tham gia các hoạt động xã hội, tặng sách cho công nhân lao động khu chế xuất, khu công nghiệp, thư viện trường học vùng sâu, vùng xa.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Suốt quá trình hơn bảy mươi lăm năm xây dựng và phát triển, NXBLĐ đã in trên mười sáu nghìn bốn trăm bốn mươi đầu sách với trên ba mươi triệu bản in và gần chín tỉ trang in gồm các đầu sách thuộc nhiều thể loại kinh tế - chính trị, pháp luật, lịch sử, lý luận, khoa học - kỹ thuật, sách văn học nghệ thuật sáng tác trong nước và nước ngoài... Bảy mươi lăm năm qua, NXBLĐ thực sự trở thành nhịp cầu tri thức, khẳng định mạnh mẽ vai trò và tính tiên phong của giai cấp công nhân, thể hiện một cách phong phú sinh động bản chất giai cấp của Đảng Cộng sản Việt Nam qua các thời kỳ lịch sử, nhất là trong những năm chiến tranh và xây dựng hạ tầng cơ sở cho miền Bắc, các đầu sách của NXBLĐ đã đến với những người lao động, từng tổ chức công đoàn cả nước và ngày càng trở thành một phần không thể thiếu trong đời sống văn hóa tinh thần của người lao động từ thành thị, đến nông thôn, vùng sâu, vùng xa, hải đảo. Các công trình, đầu sách của NXBLĐ đã có những đóng góp quan trọng trong việc đưa vào cuộc sống những giá trị Chân - Thiện - Mỹ, những nhận thức mới về giai cấp công nhân và người lao động trong thời kỳ mới. Hiện nay, với sự giúp đỡ của NXBLĐ, nhiều Liên đoàn Lao động tỉnh, thành phố và Công đoàn ngành nhiều khu công nghiệp, khu chế xuất, nhiều trường học ở các địa phương nghèo, miền núi... đã tự xây dựng  được các tủ sách Công đoàn với nhiều loại sách báo phong phú, góp phần cung cấp những kiến thức bổ ích nhiều mặt cho người lao động.	&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Một số công trình, ấn phẩm tiêu biểu NXBLĐ: Hầm Sơn La; Hạt máu; Thung lũng Cô Tan; Những chặng đường nóng bỏng; Người con gái xóm thợ; Tiếng hát những con thoi; Đầm hoang; Mưa mùa hạ; Mảnh đời của Huệ; Sự mất ngủ của lửa; Công đoàn là trường học của chủ nghĩa cộng sản; Người công nhân ưu tú, Bất khuất; Công hội đỏ Việt Nam, Chân dung anh hùng thời đại Hồ Chí Minh; Đại tướng Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp - Đại tướng của nhân dân, của hòa bình; Lưu Quang Vũ – Di cảo; thơ và nhật ký; Thăng Long thời Lê – Trịnh; Nhà Đinh với sự nghiệp thống nhất và phát triển đất nước;Văn hóa cổ truyền trong làng xã Việt Nam hiện nay; Suối nguồn tâm linh; Danh tướng yêu nước Tôn Thất Thuyết (1839-1936); Côn Đảo xưa và nay - lịch sử qua những bức ảnh; Nhà Đinh với sự nghiệp thống nhất và phát triển đất nước; Những câu chuyện về danh nhân nước Việt; Huyền thoại mười cô gái Ngã Ba Đồng Lộc - những người con bất tử; Phan Bội Châu toàn tập, Công nhân viên chức và cán bộ công đoàn làm theo tấm gương đạo đực Hồ Chí Minh, v.v…&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Lãnh đạo NXBLĐ qua các thời kỳ: Chủ nhiệm (Giám đốc) đầu tiên Trần Quốc Trung (từ tháng 11.1945); Giám đốc - Tổng biên tập Mai Thanh (1994 - 1999); Giám đốc - Tổng biên tập Phan Đào Nguyên (2000 - 2007); Giám đốc - Tổng biên tập Lê Huy Hòa (2010 - 2013); Giám đốc - Tổng biên tập Võ Thị Kim Thanh (1.2014 - 6.2019); Phó Giám đốc -  Phó Tổng biên tập phụ trách Mai Thị Thanh Hằng (7.2019 - 4.2020); Giám đốc - Tổng biên tập Mai Thị Thanh Hằng (từ 5.2020).&lt;br /&gt;
NXBLĐ đã được tặng thưởng:Huân chương Độc lập hạng Ba, Huân chương Lao động hạng Nhất và một số Huy chương, Bằng khen, Giải Vàng (Huy chương Vàng) của Bộ Văn hóa - Thông tin tặng cho cuốn sách Chân dung anh hùng thời đại Hồ Chí Minh.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
=='''Tài liệu tham khảo'''==&lt;br /&gt;
#  Ban biên tập Nhà xuất bản Lao Động. Mô hình tổ chức- Chức năng nhiệm vụ - Quá trình hình thành và phát triển. Hà Nội, 2020, tr. 1 - 7.&lt;br /&gt;
#  Đinh Xuân Dũng, Ngô Trần Ái  (Đồng chủ biên), Các nhà xuất bản Việt Nam đương đại. Nxb Giáo Dục. Hà Nội, 2013, tr. 102 - 105.&lt;br /&gt;
#  Nhiều tác giả .Xuất bản Việt Nam trong bối cảnh kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế. Nxb Thời Đại. Hà Nội, 2012, tr. 7 - 540.&lt;/div&gt;</summary>
		<author><name>Deepmind2</name></author>
	</entry>
	<entry>
		<id>https://bktt.vn/index.php?title=Nh%C3%A0_xu%E1%BA%A5t_b%E1%BA%A3n_Kim_%C4%90%E1%BB%93ng&amp;diff=22405</id>
		<title>Nhà xuất bản Kim Đồng</title>
		<link rel="alternate" type="text/html" href="https://bktt.vn/index.php?title=Nh%C3%A0_xu%E1%BA%A5t_b%E1%BA%A3n_Kim_%C4%90%E1%BB%93ng&amp;diff=22405"/>
		<updated>2023-01-11T02:42:50Z</updated>

		<summary type="html">&lt;p&gt;Deepmind2: Tạo trang mới với nội dung “&amp;lt;indicator name=&amp;quot;mới&amp;quot;&amp;gt;File:UnderCon icon.svg|40px|link={{TALKPAGENAME}}#Bình duyệt|alt=Mục từ này cần được bình duyệt|Mục từ này…”&lt;/p&gt;
&lt;hr /&gt;
&lt;div&gt;&amp;lt;indicator name=&amp;quot;mới&amp;quot;&amp;gt;[[File:UnderCon icon.svg|40px|link={{TALKPAGENAME}}#Bình duyệt|alt=Mục từ này cần được bình duyệt|Mục từ này cần được bình duyệt]]&amp;lt;/indicator&amp;gt;&lt;br /&gt;
'''Nhà xuất bản Kim Đồng''' trực thuộc Trung ương Đoàn TNCS Hồ Chí Minh,thành lập ngày 17 tháng 6 năm 1957; Giám đốc đầu tiên là nhà văn Nguyễn Huy Tưởng.&lt;br /&gt;
Nhà xuất bản Kim Đồng (NXBKĐ) là nhà xuất bản tổng hợp có chức năng xuất bản sách và văn hóa phẩm phục vụ thiếu nhi và các bậc phụ huynh trong cả nước, quảng bá và giới thiệu văn hóa Việt Nam ra thế giới.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
NXBKĐ có nhiệm vụ tổ chức bản thảo, biên soạn, biên dịch, xuất bản và phát hành các ấn phẩm với các nội dung; giáo dục truyền thống dân tộc và cách mạng, giáo dục về đạo đức, lối sống, về tri thức, kỹ năng, bồi đắp trí tuệ, tâm hồn… thông qua các thể loại văn học, nghệ thuật, khoa học kỹ thuật nhằm cung cấp cho các em thiếu nhi cũng như các bậc phụ huynh kiến thức cần thiết trong cuộc sống, những tinh hoa của tri thức nhân loại, góp phần giáo dục và hình thành nhân cách thế hệ trẻ.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Đối tượng phục vụ là các em ở lứa tuổi mẫu giáo (1 tháng đến 5 tuổi), nhi đồng (6 đến 9 tuổi), thiếu niên (10 đến 15 tuổi), tuổi mới lớn (16 đến 18 tuổi) và các bậc phụ huynh. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
NXBKĐ phát triển qua 2 giai đoạn chính:&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Giai đoạn 1957-1987: NXBKĐhoạt động trong cơ chế bao cấp. Trung bình mỗi năm xuất bản được trên dưới 100 đầu sách với gần 3 triệu bản.Trong 30 năm đã xuất bản được 2.121 tên sách với hơn 76 triệu bản in, trong đó có 578 tựa sách dịch của tác giả nước ngoài.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Đây chính là thời kỳ hình thành đội ngũ các tác giả viết và vẽ cho thiếu nhi với những tên tuổi nổi tiếng tiêu biểu: Tô Hoài, Nguyễn Huy Tưởng, Võ Quảng, Đoàn Giỏi, Phạm Hồ, Hà Ân, Nguyễn Kiên, Định Hải, Xuân Quỳnh, Bích Thuận, Hải Hồ, Ngô Quân Miện, Phong Thu, Mai Long, Nguyễn Bích, Tạ Thúc Bình, Huy Toàn, Ngô Mạnh Lân, Hồ Quảng, Trương Qua, Vũ Duy Nghĩa… và trên 300 cộng tác viên là các nhà văn, nhà thơ, họa sĩ, nhạc sĩ, nhà khoa học giáo dục, dịch giả, nhà nghiên cứu nổi tiếng và yêu thích thiếu nhi.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Ngoài 8 cuốn sách đầu tiên ra mắt bạn đọc chỉ sau 2 tháng thành lập (năm 1957),NXBKĐđã xuất bản được một số tác phẩm tiêu biểu, những cuốn sách được coi là kinh điển của văn học thiếu nhi:Lá cờ thêu sáu chữ vàng. Đất rừng phương Nam, Đội thiếu niên du kích, Đình Bảng, Góc sân và khoảng trời, Quê nội, Búp sen xanh…&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Giai đoạn từ 1988 đến nay.Giai đoạn 1988-1992 là giai đoạn khó khăn nhất đối với toàn ngành xuất bản, đặc biệt là đối với Nhà xuất bản Kim Đồng chỉ làm sách cho thiếu nhi. Thời kỳ này chỉ làm được 866 tựa sách với 14,6 triệu bản.&lt;br /&gt;
Trải qua những khó khăn ban đầu của thời kỳ chuyển đổi, bằng những biện pháp tích cực, tìm tòi, thử nghiệm táo bạo, NXBKĐđã vượt qua cơn khủng hoảng của giai đoạn này để đến giai đoạn (1993-2006) từng bước thích nghi, ổn định và phát triển vững chắc trong cơ chế thị trường. Trong 14 năm tăng trưởng (1993 - 2006),NXBKĐ đã xuất bản 11.000 đầu sách, hơn 180 triệu bản in, lớn gấp nhiều lần số đầu sách và số bản in của 35 năm trước đó. Cuối năm 1992 sự kiện xuất bản bộ truyện tranh Đôrêmon (Nhật Bản) đã tạo nên cơn chấn động chưa từng có trong lịch sử xuất bản Việt Nam.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Thành công của bộ sách này đã thúc đẩy hoạt động xuất bản, tạo nguồn lực mạnh mẽ để Nhà xuất bản đầu tư cho tác giả, tác phẩm, hình thành và phát triển hàng loạt tủ sách mang dấu ấn, làm nên diện mạo của NXBKĐtrong thời kỳ đổi mới: Tủ sách vàng, Tủ sách tác giả - tác phẩm, Tủ sách doanh nhân thế giới .v.v… Người có đóng góp lớn trong giai đoạn này là giám đốc Nguyễn Thắng Vu.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
NXBKĐđã thực hiện trách nhiệm đối với xã hội bằng một loạt các chương trình vì cộng đồng: cấp tủ sách, xây dựng trường, lớp cho thiếu nhi ở các vùng miền khó khăn, cấp học bổng Qũy Đôrêmon, phụng dưỡng 100 bà mẹ Việt Nam anh hùng. NXBKĐđã cấp 1.000 tủ sách cho xã nghèo và 1.000.000 quyển sách cho trẻ em nghèo.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Giai đoạn (2007 đến nay) có thể gọi là giai đoạn hội nhập - phát triển. NXBKĐđi tiên phong trong công tác bản quyền, là nhà xuất bản đầu tiên ký kết bản quyền với nước ngoài để xuất bản tại Việt Nam. Ngay sau khi công ước Berne có hiệu lực,NXBKĐđã lập Phòng bản quyền, thực thi nghiêm túc luật bản quyền. 100% sách Kim Đồng xuất bản có bản quyền: Kết quả xuất bản sách (2007-2016): 19.705 tựa sách với 161,7 triệu bản in.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Bộ máy nhân sự hiện nay của NXBKĐcó Ban giám đốc (gồm Giám đốc, các phó Giám đốc) điều hành 2 khối:Khối biên tập gồm 4 ban biên tập; Khối sản xuất - kinh doanh - dịch vụ gồm 8 phòng. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Ngoài trụ sở chính ở 55 Quang Trung, Hà Nội, NXBKĐcòn có chi nhánh Thành phố Hồ Chí Minh và chi nhánh miền Trung, đặt tại Đà Nẵng.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Có quan hệ hợp tác với hàng trăm đơn vị trong nước: Các cơ quan báo chí, truyền thông, xuất bản. đối ngoại, NXBKĐcó quan hệ thân thiết với hàng trăm nhà xuất bản và nhiều tổ chức uy tín trên thế giới.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
NXBKĐ đã được Nhà nước tặng thưởng: Huân chương Độc lập Hạng Ba (1997) Huân chương Độc lập Hạng Nhì (2002) Huân chương Độc lập Hạng Nhất (2007); Huân chương Lao động Hạng Ba (1977) Hạng Nhì (1982) Hạng Nhất  (1987); nhiều bằng khen của Trung ương Đoàn thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh.NXBKĐđã đoạt nhiều giải thưởng về sách hay, sách đẹp trong và ngoài nước.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
=='''Tài liệu tham khảo'''==&lt;br /&gt;
# 60 năm Nhà xuất bản Kim Đồng. Nxb.Kim Đồng (2017).&lt;br /&gt;
# Nhà xuất bản Kim Đồng 60 năm đi cùng tuổi thơ. Nxb.Kim Đồng (2017).&lt;br /&gt;
# Các nhà xuất bản Việt Nam thế kỷ XX, Nxb.Giáo dục (2006)&lt;/div&gt;</summary>
		<author><name>Deepmind2</name></author>
	</entry>
</feed>